Hôm qua (20.7), lãnh đạo Công đảng Andy Burnham (56 tuổi) chính thức tiếp quản ghế Thủ tướng Anh, thay thế người tiền nhiệm Keir Starmer. Cuộc chuyển giao diễn ra giữa thời khắc được ông miêu tả là “quan trọng nhất trong nền chính trị Anh suốt 40 năm qua”, trong bối cảnh đất nước đối diện nhiều thách thức về chính trị – xã hội, theo Reuters.
Sự nghiệp chính trị của ông Burnham ghi dấu cột mốc lớn đầu tiên vào năm 2001 khi ông trúng cử vào Nghị viện Anh đại diện cho khu vực Leigh, thị trấn công nghiệp cũ thuộc vùng Manchester. Từ đó, ông liên tục thăng tiến trong chính phủ của các Thủ tướng thuộc Công đảng gồm ông Tony Blair và ông Gordon Brown.
Sau khi Công đảng mất ghế thủ tướng vào năm 2010, ông tranh cử ghế lãnh đạo đảng vào năm 2010 và năm 2015 nhưng đều không thành. Nhận ra con đường thăng tiến tại London bế tắc, đúng lúc chiếc ghế Thị trưởng Đại đô thị Manchester được thành lập, ông quyết định từ bỏ ghế nghị sĩ để “quay về phương Bắc” tranh cử vào năm 2016 và chính thức nhậm chức thị trưởng năm 2017.
Tại Manchester, ông Burnham đã gặt hái được những thành tựu vang dội nhờ đường lối “Manchesterism” – chủ nghĩa xã hội thân thiện với doanh nghiệp, kết hợp hiệu quả nguồn vốn công – tư để tái thiết giao thông, nhà ở và hạ tầng. Dưới sự lãnh đạo của ông, Manchester rũ bỏ hình ảnh một trung tâm công nghiệp cũ suy thoái để bùng nổ mạnh mẽ với hàng loạt tòa nhà chọc trời mọc lên. Thành tựu nổi bật nhất của ông là giành lại quyền kiểm soát hệ thống giao thông công cộng vốn manh mún từ tay tư nhân về dưới sự quản lý của chính quyền và cải thiện nó vượt bậc, theo AP.
Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, ông đã mạnh mẽ chỉ trích thủ tướng khi đó là ông Boris Johnson vì các chính sách áp đặt tập trung quá mức cho London, gây tổn hại cho các thành phố miền bắc. Sự kiên quyết bảo vệ quyền lợi địa phương đã giúp ông được ca tụng với biệt danh “Vua phương Bắc”.
Sau khi ông Starmer công bố từ chức dưới áp lực nội bộ, ông Burnham trở thành gương mặt được các thành viên Công đảng “chọn mặt gửi vàng” với hy vọng giành lại niềm tin nơi cử tri. Tuy nhiên, theo quy định, Thủ tướng Anh phải có ghế trong nghị viện. Để tạo điều kiện cho ông Burnham trở lại London sau 10 năm nhằm hoàn thành sứ mệnh “còn dang dở”, một nghị sĩ Công đảng đã đồng ý từ chức, dẫn đến cuộc bầu cử đặc biệt cho chiếc ghế nghị sĩ. Ông Burnham giành chiến thắng trước ứng viên từ đảng Reform UK và sau đó trở thành lãnh đạo Công đảng trong cuộc đua mà ông là ứng viên duy nhất.
Trong những phát biểu gần đây, ông tuyên bố sẽ theo đuổi “một nền chính trị mới dựa trên sự đoàn kết và hy vọng” cùng “một nền kinh tế phục vụ tất cả mọi người”, bất kể họ sinh sống ở đâu. Một trong những trọng tâm trong chương trình hành động của ông là phi tập trung quyền lực khỏi London, trao thêm quyền hạn cho chính quyền các địa phương. Trả lời phỏng vấn The Times trước ngày nhậm chức, ông Burnham nói sẽ trình bày kế hoạch 10 năm cho đất nước, nhấn mạnh điều đó không có nghĩa ông sẽ tại vị trong 10 năm mà chỉ nhằm vạch ra con đường để đất nước đạt được đúng vị thế.
Giới quan sát dự báo ông Burnham sẽ đối mặt với nhiều thách thức chính trị và kinh tế tương tự những gì đã cản trở ông Starmer, bao gồm nền kinh tế tăng trưởng chậm, hệ thống dịch vụ công quá tải và áp lực chi phí sinh hoạt gia tăng, theo AFP. Vị tân Thủ tướng Anh cũng được cho là người mới trong các vấn đề đối ngoại, từ cuộc xung đột ở Ukraine đến quan hệ với Tổng thống Mỹ Donald Trump. Bên cạnh đó, việc điều hành một quốc gia với khoảng 70 triệu dân là nhiệm vụ hoàn toàn khác so với quản lý một vùng chỉ có khoảng 3 triệu dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

Chiếc SUV màu đen chở Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu tới Nhà Trắng lúc gần 11h sáng 11/2. Lãnh đạo Israel, người suốt nhiều tháng trước đó thúc giục Mỹ chấp nhận kế hoạch tấn công lớn vào Iran, được đưa nhanh vào phía trong, tránh xa tầm mắt của báo chí.
Trong cuốn sách sắp xuất bản mang tên "Thay đổi chế độ: Bên trong nhiệm kỳ quyền lực của ông Donald Trump", hai phóng viên Nhà Trắng kỳ cựu của NYTimes là Jonathan Swan và Maggie Haberman cho biết quá trình ông Trump quyết định phát động cuộc tấn công vào Iran hồi cuối tháng 2 bắt đầu từ chuyến thăm này.
Dựa trên những cuộc phỏng vấn với các quan chức Mỹ, hai phóng viên cho biết nhiệm vụ chính của Thủ tướng Netanyahu trong chuyến thăm Nhà Trắng hôm đó là thuyết trình về Iran cho Tổng thống Donald Trump và quan chức Mỹ tại Phòng Tình huống. Căn phòng này vốn là nơi hiếm khi được sử dụng cho các cuộc họp trực tiếp với lãnh đạo nước ngoài.
Nỗ lực thuyết phục của Israel
Theo NYTimes, tại Phòng Tình huống ngày 11/2, ông Trump không ngồi ở vị trí quen thuộc tại đầu bàn họp bằng gỗ gụ. Thay vào đó, ông ngồi ở một bên, đối diện với những màn hình lớn gắn trên tường.
Chánh văn phòng Nhà Trắng Susie Wiles, Ngoại trưởng Marco Rubio, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Dan Caine, Giám đốc CIA John Ratcliffe, đặc phái viên Steve Witkoff và con rể ông Trump là Jared Kushner cũng góp mặt.
Tuy nhiên, Phó Tổng thống Mỹ JD Vance vắng mặt. Ông đang ở Azerbaijan và cuộc họp được lên lịch gấp đến mức ông không kịp trở về Mỹ tham gia.
Thủ tướng Netanyahu ngồi ở phía bên kia bàn, đối diện với Tổng thống Trump. Xuất hiện trên màn hình phía sau ông là David Barnea, giám đốc cơ quan tình báo Mossad của Israel, cùng các quan chức nước này.
Theo các quan chức Mỹ giấu tên, trong bài thuyết trình, Thủ tướng Netanyahu cho rằng thời cơ đã chín muồi để thay đổi chế độ ở Iran và bày tỏ niềm tin rằng một sứ mệnh chung giữa Mỹ và Israel cuối cùng có thể làm được điều đó.
Ông Netanyahu và đội ngũ của mình đã vạch ra các điều kiện mà họ cho là dấu hiệu cho một chiến thắng chắc chắn. Họ tin chương trình tên lửa đạn đạo của Iran có thể bị phá hủy chỉ trong vài tuần. Chính quyền Iran cũng được cho là sẽ suy yếu tới mức không thể phong tỏa eo biển Hormuz, tuyến hàng hải nắm giữ 20% nguồn cung dầu toàn cầu. Đồng thời, họ đánh giá khả năng Iran tấn công vào lợi ích của Mỹ ở các nước láng giềng vùng Vịnh là rất thấp.
Mossad chỉ ra các cuộc biểu tình đường phố ở Iran sẽ bắt đầu trở lại và một chiến dịch ném bom dữ dội có thể tạo điều kiện cho phe đối lập tại nước này lật đổ chế độ. Phía Israel còn nhận định các tay súng dân quân người Kurd sẽ vượt biên từ Iraq để mở một mặt trận trên bộ ở phía tây bắc, làm phân tán thêm lực lượng của Iran và đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ này.
Ông Netanyahu thuyết trình bằng giọng điệu đầy tự tin và điều đó dường như đã gây ấn tượng với Tổng thống Mỹ.
"Nghe có vẻ ổn đấy", ông Trump nói với lãnh đạo Israel, theo lời kể của các quan chức. Đối với ông Netanyahu, đây là tín hiệu "bật đèn xanh" cho chiến dịch chung giữa hai nước.
Ông Netanyahu không phải là người duy nhất rời cuộc họp với ấn tượng rằng ông Trump gần như đã quyết định xong. Các cố vấn của Tổng thống Mỹ cũng cảm thấy ông đã ấn tượng trước lời hứa về những gì quân đội và tình báo Israel có thể làm, giống như cách ông đã bị thuyết phục trước cuộc chiến 12 ngày với Iran hồi tháng 6/2025.
Trong cuộc gặp ở Phòng Nội các trước đó, ông Netanyahu cũng đã cố gắng hướng sự chú ý của các quan chức Mỹ vào mối đe dọa đến từ Lãnh tụ Tối cao 86 tuổi của Iran khi đó là Ali Khamenei.
Thủ tướng Israel thừa nhận về những rủi ro có thể xảy ra trong chiến dịch, nhưng ông thêm rằng nguy cơ của việc không hành động còn lớn hơn. Ông lập luận cái giá phải trả cho việc hành động sẽ chỉ tăng lên nếu họ trì hoãn tấn công, để Iran có thêm thời gian đẩy nhanh sản xuất tên lửa và tạo ra lá chắn vững chắc cho chương trình hạt nhân của họ.
Mọi người trong phòng đều hiểu rằng Iran có khả năng tích lũy kho tên lửa và máy bay không người lái với chi phí thấp và nhanh hơn nhiều so với việc Mỹ có thể chế tạo và cung cấp các tên lửa đánh chặn đắt đỏ cho khu vực.
Các bài trình bày của ông Netanyahu và phản hồi tích cực của ông Trump đã tạo ra nhiệm vụ cấp bách cho cộng đồng tình báo Mỹ. Ngay trong đêm, các nhà phân tích đã làm việc để đánh giá tính khả thi trong kế hoạch của Israel.
Đánh giá của tình báo Mỹ
Kết quả phân tích tình báo của Mỹ được chia sẻ vào ngày 12/2 trong cuộc họp chỉ dành cho quan chức nước này tại Phòng Tình huống. Trước khi ông Trump đến, hai quan chức tình báo cấp cao đã thảo luận vấn đề với nhóm thân cận của Tổng thống.
Họ chia bài thuyết trình của ông Netanyahu thành 4 phần. Đầu tiên là đòn phủ đầu để hạ sát lãnh tụ tối cao Iran. Tiếp theo là làm tê liệt khả năng ảnh hưởng và đe dọa các láng giềng vùng Vịnh của Iran. Thứ ba là cuộc nổi dậy của người dân Iran và cuối cùng là thay đổi chế độ.
Các quan chức đánh giá hai mục tiêu đầu tiên có thể đạt được bằng sức mạnh tình báo và quân sự của Mỹ. Tuy nhiên, họ cho rằng phần thứ ba và thứ tư trong đề xuất của ông Netanyahu, bao gồm khả năng người Kurd tiến hành cuộc tấn công trên bộ vào Iran, là xa rời thực tế.
Khi ông Trump tham gia cuộc họp, ông Ratcliffe trình bày đánh giá này cho Tổng thống. Giám đốc CIA đã sử dụng một từ để mô tả kịch bản thay đổi chế độ mà Thủ tướng Israel vạch ra là "nực cười". Lúc đó, ông Rubio cũng nói rằng "nói cách khác, đó là chuyện nhảm nhí".
Ông Ratcliffe cho hay với tính chất khó lường trong các cuộc xung đột, việc thay đổi chế độ có thể xảy ra, nhưng nó không nên được coi là mục tiêu khả thi ngay từ đầu. Ông Vance, người vừa trở về từ Azerbaijan, cũng bày tỏ sự hoài nghi về điều đó.
Tổng thống Trump quay sang tướng Caine và hỏi "ông nghĩ sao về điều này?".
"Thưa Tổng thống, theo kinh nghiệm của tôi, đây là cách làm quen thuộc của phía Israel. Họ thường nói quá lên và kế hoạch không phải lúc nào cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ biết họ cần chúng ta, nên mới ra sức thuyết phục như vậy", ông Caine trả lời.
Ông Trump cân nhắc đánh giá này và nói việc thay đổi chế độ sẽ là "vấn đề của họ". Không rõ ông đang ám chỉ "họ" ở đây là người Israel hay người dân Iran.
Tuy nhiên, ông dường như vẫn rất quan tâm đến việc thực hiện hai mục tiêu, gồm hạ sát lãnh tụ tối cao cùng các nhà lãnh đạo hàng đầu của Iran và phá hủy quân đội nước này.
Trong những cuộc thảo luận tiếp theo, tướng Caine đã nói với ông Trump và những người khác rằng một chiến dịch lớn chống lại Iran sẽ làm cạn kiệt kho vũ khí của Mỹ, bao gồm cả tên lửa đánh chặn. Nguồn vũ khí này đã suy giảm sau nhiều năm hỗ trợ Ukraine và Israel và ông Caine không thấy kho dự trữ có thể nhanh chóng bù đắp.
Thông tin này cũng được nhiều tờ báo lớn của Mỹ đăng tải. Wall Street Journal dẫn các nguồn tin cho biết cả tướng Caine lẫn các quan chức Lầu Năm Góc đều cảnh báo về những rủi ro như thương vong đối với binh sĩ Mỹ và đồng minh, cũng như nguy cơ lực lượng phòng không Mỹ cạn kiệt nguồn lực nếu tấn công Iran.
Theo hai nhà báo của NYTimes, trong cuộc họp, tướng Caine cũng cảnh báo nguy cơ Iran phong tỏa eo biển Hormuz. Ông Trump đã bác bỏ khả năng đó với giả định rằng chính quyền Iran sẽ "đầu hàng" trước khi điều đó xảy ra. Tổng thống dường như nghĩ rằng đó sẽ là một cuộc chiến rất nhanh chóng, niềm tin được củng cố bởi phản ứng yếu ớt của Tehran trước cuộc ném bom của Mỹ vào cơ sở hạt nhân nước này hồi tháng 6 năm ngoái.
Song những lời cảnh báo của ông Caine được truyền đạt một cách khéo léo, lồng ghép với những lưu ý Mỹ có nguồn cung gần như vô tận về các loại bom dẫn đường chính xác giá rẻ và có thể tấn công Iran trong nhiều tuần sau khi giành được quyền kiểm soát bầu trời.
Trong suốt các cuộc thảo luận, tướng Caine chưa bao giờ trực tiếp nói với Tổng thống rằng chiến tranh với Iran là một ý tưởng tệ, mặc dù một số đồng nghiệp của ông tin rằng đó chính xác là những gì Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đang nghĩ.
Suy nghĩ của ông Trump và đội ngũ cố vấn
Dù nhiều cố vấn của Tổng thống Mỹ không thực sự đặt niềm tin vào ông Netanyahu, quan điểm của Thủ tướng Israel dường như có nhiều điểm chung với ông Trump.
Iran vốn được xem là một trong những vấn đề hàng đầu về chính sách đối ngoại trong hai nhiệm kỳ của ông Trump. Ông xem đây là đối thủ nguy hiểm và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để ngăn nước này sở hữu vũ khí hạt nhân.
Hơn nữa, những lập luận của ông Netanyahu phù hợp với mong muốn của ông Trump về thay đổi chế độ giáo sĩ ở Iran. Ngoài ra, Iran được cho là có âm mưu ám sát ông Trump để trả thù cho tướng Qassem Soleimani, người bị lực lượng Mỹ hạ sát vào tháng 1/2020 ở Iraq.
Trở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ này, ông Trump tin tưởng nhiều hơn vào khả năng của quân đội Mỹ. Điều này càng được củng cố sau cuộc đột kích táo bạo để bắt Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro tại dinh thự riêng hồi đầu tháng 1.
Trong nội các, ông Hegseth là người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho ý tưởng về cuộc chiến chống lại Iran, theo các quan chức Nhà Trắng.
Ngoại trưởng Rubio tỏ ra ngần ngại hơn. Ông không tin người Iran sẽ dễ chấp nhận thỏa thuận, nhưng ưu tiên của ông là tiếp tục gây áp lực tối đa thay vì bắt đầu cuộc chiến toàn diện. Tuy nhiên, ông không cố tìm mọi cách ngăn ông Trump từ bỏ kế hoạch.
Bà Wiles không có xu hướng can thiệp mạnh vào vấn đề quân sự trong các cuộc họp lớn. Thay vào đó, bà khuyến khích đội ngũ cố vấn chia sẻ quan điểm và mối quan ngại của họ với Tổng thống. Và bà cũng tin rằng chuyên môn của các cố vấn như tướng Caine, ông Ratcliffe hay ông Rubio quan trọng hơn đối với Tổng thống Trump.
Dù cũng lo ngại kịch bản Mỹ bị kéo vào cuộc chiến ở Trung Đông và những hệ lụy của nó đối với cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của đảng Cộng hòa, bà Wiles cuối cùng vẫn chấp thuận chiến dịch.
Phó tổng thống JD Vance là người lo lắng về viễn cảnh chiến tranh hơn bất kỳ ai trong vòng thân cận của ông Trump. Ông mô tả một cuộc chiến với Iran là "sự lãng phí nguồn lực khổng lồ" và "cực kỳ tốn kém".
Ông lo ngại cuộc chiến chống lại chế độ có ý chí sinh tồn mãnh liệt như Iran có thể khiến Mỹ rơi vào tình thế tồi tệ hơn nhiều. Ông tin khó có thể đoán định chính xác những gì Iran có thể làm khi cảm thấy bị đe dọa và cuộc chiến theo đó có thể diễn tiến rất khó lường.
Ngoài tất cả những điều này, có lẽ rủi ro lớn nhất là Iran nắm lợi thế tại eo biển Hormuz. Nếu tuyến hàng hải này bị phong tỏa, giá nhiên liệu sẽ tăng cao và hậu quả tại Mỹ sẽ rất nghiêm trọng.
Dù vậy, ông cũng không hoàn toàn là người theo đuổi hòa bình. Hồi tháng 1, khi ông Trump công khai cảnh báo Iran ngừng trấn áp người biểu tình và hứa rằng "sự giúp đỡ đang đến", ông Vance đã âm thầm khuyến khích Tổng thống thực thi "lằn ranh đỏ" của mình.
Song điều mà Phó tổng thống Mỹ thúc đẩy chỉ là cuộc tấn công có giới hạn, gần giống cuộc tập kích tên lửa của Mỹ vào Syria năm 2017 khi Washington cáo buộc Damascus sử dụng vũ khí hóa học chống lại dân thường, theo các nguồn tin.
Sau đó, khi thấy chắc chắn Tổng thống đã quyết định thực hiện chiến dịch quy mô lớn và khó có thể thay đổi suy nghĩ đó, ông Vance lập luận rằng nên tiến hành bằng lực lượng áp đảo, với hy vọng đạt được các mục tiêu một cách nhanh chóng.
Tucker Carlson, cựu người dẫn chương trình đài Fox News, đã đến Phòng Bầu dục vài lần trong năm qua để cảnh báo ông Trump rằng một cuộc chiến với Iran sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm kỳ tổng thống của ông. Vài tuần trước khi cuộc chiến bắt đầu, ông Trump, người đã quen biết Carlson nhiều năm, đã cố gắng trấn an ông qua điện thoại.
"Tôi biết anh đang lo lắng về việc đó, nhưng mọi chuyện sẽ ổn thôi," Tổng thống nói. Khi Carlson hỏi làm sao ông biết được, ông Trump trả lời "vì lúc nào chả vậy".
Từng bước tiến hành chiến dịch
Trong những ngày cuối tháng 2, Mỹ và Israel thảo luận về thông tin tình báo mới có thể giúp thúc đẩy kế hoạch tấn công của họ. Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei sẽ nhóm họp cùng các quan chức cấp cao tại một địa điểm trên mặt đất vào ban ngày. Theo họ, đó là cơ hội hiếm có để đánh vào trung tâm bộ máy lãnh đạo Iran.
Ông Trump đã cho Iran thêm một cơ hội để đạt thỏa thuận về chương trình hạt nhân, khi thúc đẩy các cuộc đàm phán tại Geneva. Nỗ lực ngoại giao cũng giúp Mỹ có thêm thời gian để chuyển khí tài quân sự đến Trung Đông.
Các cố vấn cho biết Tổng thống trên thực tế đã quyết định tấn công từ nhiều tuần trước, nhưng vẫn chưa chốt thời điểm cụ thể. Giờ đây, ông Netanyahu hối thúc ông hành động nhanh chóng.
Cùng tuần đó, ông Kushner và ông Witkoff đã gọi điện về từ Geneva sau cuộc hội đàm mới nhất với các quan chức Iran. Qua ba vòng đàm phán tại Oman và Thụy Sĩ, hai bên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về chương trình hạt nhân của Iran. Hai nhà đàm phán của ông Trump nói rằng có thể thương lượng được điều gì đó với Iran, nhưng sẽ mất nhiều tháng bởi Iran dường như đang "câu giờ".
Khoảng 17h ngày 26/2, cuộc họp tại Phòng Tình huống bắt đầu. Ông Trump ngồi ở vị trí đầu bàn như thường lệ. Phó tổng thống Vance, tướng Caine, Bộ trưởng Hegseth, Ngoại trưởng Rubio, bà Wiles, ông Ratcliffe, cố vấn Nhà Trắng David Warrington, Giám đốc truyền thông Nhà Trắng Steven Cheung và Thư ký báo chí Karoline Leavitt đều góp mặt.
Tổng thống mở đầu cuộc họp bằng câu hỏi "được rồi, giờ chúng ta có gì nào?". Ông Hegseth và tướng Caine thông báo trình tự cuộc tấn công. Sau đó, ông Trump nói muốn nghe ý kiến của mọi người có mặt.
"Ngài biết tôi nghĩ đây là một ý tưởng tồi, nhưng nếu ngài muốn thực hiện, tôi sẽ ủng hộ", ông Vance nói.
Bà Wiles nói với Tổng thống Trump rằng ông nên thực hiện kế hoạch nếu cảm thấy đây là điều cần phải tiến hành vì an ninh quốc gia Mỹ. Ông Ratcliffe không đưa ra ý kiến về việc có nên tiến hành hay không, nhưng ông chia sẻ thông tin tình báo mới rằng giới lãnh đạo Iran sắp tập hợp tại khu dinh thự của ông Ali Khamenei ở Tehran.
Ông Cheung trình bày những hệ lụy mà chính quyền có thể phải đối mặt trong nước nếu tiến hành chiến dịch. Ông Trump đã tranh cử với lập trường phản đối các cuộc chiến tranh và người dân cũng không ủng hộ việc Mỹ tham gia xung đột ở nước ngoài. Dù vậy, ông nói thêm rằng bất kể ông Trump quyết định như thế nào, đó cũng sẽ là đúng đắn.
Leavitt nói với Tổng thống rằng đây là quyết định của ông và đội ngũ báo chí sẽ quản lý thông tin liên quan tốt nhất có thể.
Ngoại trưởng Rubio đưa ra quan điểm rõ ràng hơn. Nếu mục tiêu là thay đổi chế độ hay tạo điều kiện cho một cuộc nổi dậy, Mỹ không nên tiến hành chiến dịch. Nhưng nếu mục tiêu là phá hủy chương trình tên lửa của Iran, đó là điều có thể đạt được.
Mọi người nhìn chung đều tôn trọng quyết định của ông Trump. Họ đã thấy ông đưa ra những quyết định táo bạo, chấp nhận rủi ro và bằng cách nào đó vẫn giành chiến thắng. Không ai cản trở ông lúc này.
"Tôi nghĩ chúng ta cần phải thực hiện", Tổng thống nói với cả phòng. Ông cho hay Mỹ cần đảm bảo Iran không thể có vũ khí hạt nhân và không thể thoải mái phóng tên lửa vào Israel hay các nước Trung Đông.
Trên chuyên cơ Không lực Một vào chiều hôm sau, ông Trump gửi mệnh lệnh. "Chiến dịch Cơn thịnh nộ Kinh hoàng đã được phê duyệt. Không hủy bỏ. Chúc may mắn", ông nói.
Tổng thống Mỹ và phát ngôn viên Nhà Trắng chưa bình luận về các thông tin trên.
Thanh Tâm (Theo NY Times, Axios, Reuters)
Nguồn: https://vnexpress.net/bao-my-viet-ve-qua-trinh-ong-trump-ra-quyet-dinh-tan-cong-iran-5059787.html

Chủ tịch Quốc hội Venezuela Jorge Rodriguez ngày 27/6 thông báo có 1.430 người thiệt mạng và 3.238 người bị thương trong động đất kép tại nước này. Tom Fletcher, trưởng ban viện trợ của Liên Hợp Quốc, ước tính số người chết có thể tiếp tục tăng và hơn 50.000 người vẫn mất tích.
Mô hình dự báo của Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ cho thấy số người chết có khả năng lên tới hàng nghìn, với xác suất rất cao vượt quá 10.000 người.
Các đội cứu nạn đang chạy đua với thời gian để tìm kiếm nạn nhân sống sót trong những đống đổ nát, song hy vọng đang giảm dần. Các chuyên gia cho biết 72 giờ đầu tiên sau thảm họa thiên nhiên là khoảng thời gian quan trọng và ngắn ngủi để tìm kiếm người còn sống, sau đó công việc gần như trở thành thu hồi thi thể.
"Tình hình rất hỗn loạn, nóng bức và thiếu tổ chức", theo Craig Demeillon, một lính cứu hỏa Australia tự bay từ Mỹ tới La Guaira, Venezuela để giúp đỡ. "Tôi hy vọng sẽ tìm thấy thêm nhiều người nữa".
Một nhân viên cứu nạn El Salvador bày tỏ lo ngại "giờ có lẽ chỉ còn lại thi thể". "Nhờ Chúa phù hộ, chúng tôi có lẽ vẫn có thể tìm thấy người còn sống", người này nói.
Cơ quan LHQ phụ trách vấn đề di cư nhận định "có thể tới 6,76 triệu người bị ảnh hưởng, họ cần nơi trú ẩn khẩn cấp, nước sạch, đảm bảo vệ sinh, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ an ninh và hàng cứu trợ thiết yếu". LHQ ước tính thiệt hại của động đất kép có thể lên tới 6,7 tỷ USD, tương đương 6% GDP của Venezuela.
Chủ tịch Quốc hội Venezuela Jorge Rodriguez cho biết 21 quốc gia đã cử các đội tìm kiếm cứu nạn tới nước này. Trước đó, Mỹ thông báo cử đội ứng phó thảm họa gồm hơn 250 người, trong đó có ba đơn vị tìm kiếm cứu nạn chuyên trách có chó nghiệp vụ chuyên xác định nạn nhân mắc kẹt dưới đống đổ nát.
Trận động đất mạnh 7,2 độ xảy ra cách thủ đô Caracas của Venezuela khoảng 160 km về phía tây vào tối 24/6, tâm chấn nằm ở độ sâu 22 km. Chưa đầy một phút sau, trận thứ hai mạnh 7,5 độ xảy ra cách đó vài km với tâm chấn ở độ sâu 10 km. Đây là trận động đất mạnh nhất ở Venezuela kể từ năm 1900.
Venezuela là quốc gia dễ hứng chịu động đất. Những trận động đất mạnh nhất được ghi nhận gần đây ở nước này xảy ra tại khu vực đông bắc vào năm 1997 và thủ đô Caracas hồi năm 1967, lần lượt khiến 73 người và 236 người thiệt mạng.
Tin Gốc: Vnexpress

Mỹ và Iran xác nhận Tổng thống hai nước hôm 17/6 đã ký vào Bản ghi nhớ hiểu biết (MOU) nhằm chấm dứt cuộc xung đột kéo dài gần 4 tháng qua.
Hai bên đều đã phải đưa ra những nhượng bộ để đạt được thỏa thuận sơ bộ trước khi tiến đến giai đoạn đàm phán tiếp theo nhằm giải quyết những vấn đề nan giải hơn.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, Mỹ dường như đang đưa ra nhiều nhượng bộ hơn khi bất kỳ thỏa thuận nào cũng là một lựa chọn thay thế tốt hơn cho tình trạng hiện tại.
Bản chất của MOU gồm 14 điểm này trên thực tế là Iran nhận được rất nhiều thứ ngay bây giờ, bao gồm cả hàng chục tỷ USD, để đổi lấy việc không bắn vào các tàu thuyền ở eo biển Hormuz.
MOU được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1 được triển khai ngay bây giờ và giai đoạn 2 đẩy tất cả những thứ khác sang để giải quyết trong một “thỏa thuận cuối cùng” được đàm phán trong 60 ngày tới. Khoảng thời gian 60 ngày đó có thể được gia hạn bằng sự đồng thuận của cả hai bên.
Những nhượng bộ trước mắt của Mỹ
Giống như nhiều thỏa thuận với Iran, văn bản này có một số điều khoản dẫn chiếu đến các điều khoản khác, và một số quy định tập trung vào tương lai trong khi những quy định khác có hiệu lực ngay lập tức.
Điều 13 tuyên bố rằng ngay sau khi ký kết, “các điều 4, 5, 10 và 11” của MOU phải được triển khai. Vì vậy, đó là các điều khoản áp dụng ngay lập tức, và phải có hiệu lực trước khi các cuộc đàm phán giai đoạn 2 thậm chí còn chưa bắt đầu.
Theo Điều 4 và 5, Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân và Iran loại bỏ các chướng ngại vật (như thủy lôi) để đảm bảo rằng lưu thông qua eo biển Hormuz trở lại mức trước xung đột trong vòng 30 ngày tới. Nếu thỏa thuận dừng lại ở đây, thì đó là một thỏa thuận tốt cho Mỹ và nền kinh tế toàn cầu vì nó giải quyết được vấn đề cốt lõi của eo biển khi cả hai nước đồng ý cho phép các tàu vận chuyển ở mức trước xung đột. Tuy nhiên, thỏa thuận không dừng lại ở đó, mà đây chính là nơi các nghĩa vụ của Iran kết thúc và các nghĩa vụ của Mỹ bắt đầu.
Theo Điều 10 về miễn trừ trừng phạt, “ngay sau khi ký kết, Mỹ sẽ ban hành các lệnh miễn trừ đối với hoạt động xuất khẩu dầu thô, các sản phẩm hóa dầu và các dẫn xuất của chúng của Iran, cùng tất cả các dịch vụ liên quan, bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và các dịch vụ tương tự”.
Đây là một sự nhượng bộ đáng kể. Về mặt bề nổi, nó đưa Iran trở lại vị thế mà nước này từng được hưởng theo thỏa thuận hạt nhân thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama (JCPOA) với việc bán dầu và hóa dầu không giới hạn theo giá thị trường. Một số chuyên gia năng lượng đánh giá, chỉ riêng điều khoản này sẽ mang lại 60-70 tỷ USD mỗi năm trực tiếp cho Iran.
Đó là 60-70 tỷ USD cho việc không làm gì khác ngoài việc mở cửa eo biển Hormuz, nơi vốn đã mở cửa trước xung đột.
Trong khi đó, Điều 11 về các quỹ bị đóng băng của Iran nêu rõ: “Mỹ... cam kết rằng các quỹ và tài sản bị đóng băng hoặc bị hạn chế của Iran sẽ được giải phóng và hoàn trả để sẵn sàng sử dụng hoàn toàn”.
Bên trong dấu ba chấm đó, văn bản viết “với sự cân nhắc đến tiến trình của các cuộc đàm phán hướng tới một thỏa thuận cuối cùng”.
Điều đó có thể được hiểu là việc giải phóng các quỹ đi kèm điều kiện ràng buộc với sự thể hiện của Iran trong các cuộc đàm phán 60 ngày hướng tới một thỏa thuận lâu dài hơn.
Tuy nhiên, Điều 13 quy định các cuộc đàm phán 60 ngày đó sẽ không bắt đầu nếu không có việc “thực thi” điều khoản này về các quỹ bị đóng băng. Do đó, các quỹ bị đóng băng phải được xử lý dưới một hình thức nào đó ngay bây giờ và có lẽ thậm chí là trước khi Iran được yêu cầu đáp ứng các đòi hỏi của họ tại eo biển.
Một điểm đáng chú ý nữa là điều khoản này quy định rằng ngân hàng trung ương của Iran có thể xác định bên thụ hưởng các quỹ sau khi được giải phóng. Điều này khác với các thỏa thuận khác với Iran vốn chỉ cho phép các quỹ này có sẵn cho các bên thụ hưởng không bị trừng phạt.
Văn bản cuối cùng được công bố hôm qua thêm vào một điều kiện ràng buộc đối với "các thủ tục được hai bên nhất trí" sẽ được xác định sau, nhưng Điều 13 yêu cầu các quỹ bị đóng băng phải được xử lý trước khi các cuộc đàm phán rộng hơn bắt đầu. Đây có thể là một lĩnh vực gây tranh cãi trong những ngày tới.
Các quy định dài hạn hơn
Liệu Iran có đưa ra bất kỳ cam kết mới nào với Mỹ trong thời gian dài hơn để đổi lấy những nhượng bộ này không?
Theo Điều 8 về vũ khí hạt nhân, Iran “tái khẳng định rằng họ sẽ không mua sắm hoặc phát triển vũ khí hạt nhân”.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đang ca ngợi điều khoản này như một cách nào đó ngăn chặn Iran sở hữu vũ khí hạt nhân mãi mãi. Tuy nhiên, thỏa thuận JCPOA thời ông Obama cũng tương tự: “Iran tái khẳng định trong bất kỳ hoàn cảnh nào Iran cũng sẽ không bao giờ tìm kiếm, phát triển hoặc mua lại vũ khí hạt nhân”.
Vì vậy, ngôn từ về vũ khí hạt nhân không có gì mới, và bản MOU này đang khiến Mỹ nhượng bộ chỉ để Iran “tái khẳng định” điều đó. MOU hiện tại không vạch ra lộ trình dẫn đến một thỏa thuận rộng lớn hơn và lâu dài hơn.
Đối với các vật liệu hạt nhân và bản thân chương trình hạt nhân, những vấn đề đó “bằng cách thích hợp sẽ được giải quyết trong một thỏa thuận cuối cùng”. Nói cách khác, Iran không đưa ra cam kết chắc chắn nào về các vấn đề này.
MOU nói rằng vật liệu đã làm giàu, trong trường hợp tối thiểu, sẽ được “pha loãng giảm cấp độ ngay tại cơ sở”, song điều này đi ngược lại với yêu cầu trước đó của ông Trump rằng vật liệu đó phải được chuyển đi nơi khác.
Điều 9 đề cập đến quỹ tái thiết trị giá 300 tỷ USD dành cho Iran được thảo luận rất nhiều. Bản MOU không thành lập một quỹ như vậy ngay lập tức, nhưng yêu cầu Mỹ “cùng với các đối tác khu vực của mình, tạo ra một kế hoạch toàn diện được cả hai bên nhất trí cho việc phục hồi và phát triển kinh tế của Iran, đồng thời đảm bảo nguồn tài chính ít nhất là 300 tỷ USD”.
Kế hoạch này sẽ được “xây dựng trong vòng 60 ngày” và sẽ là một phần của thỏa thuận cuối cùng với Iran.
Nói cách khác, sẽ không có “thỏa thuận cuối cùng” nếu không có quỹ tái thiết trị giá 300 tỷ USD hay Iran sẽ không đồng ý với các cam kết hạt nhân hay bất cứ điều gì khác trừ khi quỹ này trở thành hiện thực.
Một trong những điều khoản quan trọng nhất của MOU là Điều 7 về tất cả các lệnh trừng phạt Iran. Điều khoản nêu rõ: “Mỹ cam kết chấm dứt, theo một lịch trình được nhất trí như một phần của thỏa thuận cuối cùng, tất cả các loại lệnh trừng phạt mà Iran đang phải đối mặt”.
MOU tiếp tục liệt kê các lệnh trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nghị quyết của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), và “tất cả các lệnh trừng phạt đơn phương của Mỹ, cả sơ cấp và thứ cấp”.
Điều đó vượt xa bất kỳ điều gì Mỹ từng làm hoặc đề xuất trong quá khứ, đổi lại, Iran có lẽ sẽ cần phải từ bỏ sự hỗ trợ của mình dành cho các lực lượng ủy nhiệm. Theo các nhà phân tích, nó có thể sẽ khiến việc đàm phán một thỏa thuận dài hạn trở nên khó khăn
Tin Gốc: Dân Trí

