Sáng nay 23-4, Trường đại học Bách khoa tổ chức lễ tốt nghiệp và trao bằng cho 1.193 tân tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, kiến trúc sư, cử nhân. Trong số các tân khoa, hai sinh viên Nguyễn Hồ Phước Hiền và Lê Nguyễn Vỹ Hân cùng tốt nghiệp sớm đạt loại xuất sắc và giỏi, với loạt thành tích ấn tượng.
Với Nguyễn Hồ Phước Hiền (khoa khoa học và kỹ thuật máy tính), việc theo đuổi ngành khoa học máy tính ban đầu không hoàn toàn xuất phát từ một định hướng rõ ràng. “Một phần là ngẫu nhiên, một phần do gia đình định hướng”, Hiền chia sẻ.
Tuy vậy, nền tảng học tập vững chắc từ bậc phổ thông đã giúp Hiền nhanh chóng thích nghi với môi trường đại học. Hiền trúng tuyển theo diện ưu tiên xét tuyển thẳng học sinh giỏi, đạt 993 điểm đánh giá năng lực, 27,4 điểm tổ hợp A01 và điểm trung bình THPT 9,6.
Trong quá trình học, Hiền tham gia nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó tâm đắc nhất là đề tài về bảo vệ tính riêng tư trong hệ thống chăm sóc sức khỏe thông minh tại nhà. Đây là hướng nghiên cứu mang tính thời sự, khi dữ liệu cá nhân ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ở đề tài này, Hiền phụ trách xây dựng giải pháp, mô phỏng và đánh giá hệ thống dựa trên phương pháp Decentralized Federated Learning, đồng thời thực hiện các kịch bản tấn công để kiểm tra mức độ bảo mật và khả năng bảo vệ dữ liệu người dùng.
Từ kết quả nghiên cứu, Hiền phát triển thành bài báo khoa học và được chấp nhận tại hội nghị quốc tế ACIIDS 2026 tổ chức tại Cao Hùng (Đài Loan). Đây cũng là lần đầu tiên Hiền đảm nhận vai trò tác giả chính và trực tiếp báo cáo tại một hội nghị khoa học, một cột mốc đáng nhớ trong hành trình học tập của chàng sinh viên này.
Không đặt mục tiêu tốt nghiệp sớm ngay từ đầu, Hiền lựa chọn cách học bám sát chương trình đào tạo, đồng thời chủ động tìm hiểu trước các học phần để đăng ký học vượt khi có thể. “Tôi cố gắng cân đối số môn mỗi kỳ để không bị quá tải, nhưng vẫn đảm bảo tiến độ để có thể tốt nghiệp sớm”, Hiền cho biết.
Thử thách lớn nhất đến ở học kỳ cao điểm khi Hiền phải đồng thời học các môn chuyên ngành nặng, thực hiện đồ án một mình và bắt đầu đi thực tập. Việc nhiều lần bị từ chối khi ứng tuyển thực tập cũng tạo thêm áp lực cho Hiền.
Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ từ giảng viên, gia đình và môi trường làm việc, Hiền đã vượt qua giai đoạn này và hoàn thành chương trình với kết quả ấn tượng: GPA 3.6/4.0, điểm đồ án tốt nghiệp 9.74.
ThS Lê Thị Bảo Thu – giảng viên hướng dẫn – đánh giá Hiền có năng lực nghiên cứu độc lập, tiến bộ nhanh và đặc biệt là tinh thần cầu thị, sẵn sàng tiếp thu góp ý để hoàn thiện công trình khoa học.
“Hiền tiến bộ rất nhanh, khi qua đến đồ án tốt nghiệp đã có thể thực hiện đề tài độc lập và có kết quả khả quan. Tôi đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, ham học hỏi này của Hiền, bên cạnh năng lực nghiên cứu của bạn”, bà Thu nói.
Trong khi đó, câu chuyện của Lê Nguyễn Vỹ Hân (khoa công nghệ vật liệu, chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam – PFIEV) lại là minh chứng cho sự kiên định trong một lĩnh vực đặc thù.
Xuất thân từ Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Long), từng đoạt huy chương đồng Olympic tháng 4 môn vật lý, Hân có nền tảng tốt ở các môn khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục theo hướng vật lý thuần túy, Hân lựa chọn ngành vật liệu polymer, lĩnh vực giao thoa giữa vật lý và hóa học.
“Vật lý giúp tôi hiểu cơ chế, hóa học giúp đi sâu cấu trúc và tạo vật liệu. Sự kết hợp này cùng tính ứng dụng cao, nhất là ở polymer thông minh, khiến tôi quyết tâm theo đuổi lĩnh vực này”, Hân chia sẻ.
Trong quá trình học, Hân tham gia nhiều đề tài nghiên cứu, từ nhựa sinh học cho vật liệu composite cốt sợi thủy tinh, vật liệu bền vững đến polymer cảm biến. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu mà Hân theo đuổi lâu dài là vật liệu tự phục hồi (self-healing).
“Đây cũng là chủ đề mà tôi lựa chọn cho khóa luận tốt nghiệp của mình, cụ thể là đi sâu vào việc tổng hợp vật liệu polymer hướng đến các ứng dụng tự lành”, Hân cho biết.
Chương trình PFIEV vốn có khối lượng kiến thức lớn và yêu cầu cao. Để tốt nghiệp sớm một học kỳ, Hân phải có chiến lược học tập rõ ràng ngay từ đầu. Hân chủ động chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
“Về chiến lược đăng ký môn học, tôi luôn bám sát khung chương trình đào tạo chuẩn, tính toán để đăng ký học vượt một số môn của học kỳ sau. Tôi tận dụng tối đa các học kỳ hè để hoàn thành các học phần chính trị, từ đó giảm tải đáng kể áp lực cho các học kỳ chính khóa.
Tôi còn chủ động xin thầy cô hướng dẫn vào lab để thực hiện nghiên cứu sớm. Đến giai đoạn thi cử, tôi sẽ tạm giảm thời gian ở lab để dồn lực củng cố lại kiến thức”, Hân chia sẻ.
Tuy nhiên, theo Hân, thử thách lớn nhất không phải là chương trình học, mà là áp lực từ chính bản thân. “Đó là nỗi sợ không đạt được những tiêu chuẩn mình đặt ra. Nhưng chính áp lực này lại trở thành động lực để tôi rèn luyện kỷ luật và không ngừng tiến lên”, Hân nói.
Kết quả, Hân tốt nghiệp loại giỏi với GPA 3,4/4,0, điểm rèn luyện tuyệt đối 100 cùng nhiều học bổng giá trị.
Trong khi đó, Trường THPT Chu Văn An A, tỉnh Đồng Nai, giải thích việc sắp xếp thời khóa biểu dạy cả ngày 2.5 không phải dạy bù mà nhằm đảm bảo đến ngày 31.5 sẽ hoàn thành chương trình khung thời gian năm học.
Theo phản ánh từ giáo viên (xin ẩn danh), dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương, ngày 30.4 và Quốc tế lao động 1.5, nhà trường thông báo cho học sinh nghỉ lễ 3 ngày 27.4, 30.4 và 1.5. Tuy nhiên, nhà trường lại sắp lịch dạy học vào buổi chiều các ngày khác.
Cụ thể, giáo viên này cho biết, lịch công tác của nhà trường sắp xếp chiều thứ tư (ngày 29.4) học thời khóa biểu sáng thứ hai; sáng thứ bảy (ngày 2.5) học thời khóa biểu sáng thứ năm và buổi chiều học thời khóa biểu sáng thứ bảy.
Theo giáo viên này, các em học sinh THPT thường học buổi sáng và buổi chiều chỉ học các môn phụ đạo. Tuy nhiên lịch học của những ngày nghỉ lễ lại được nhà trường đưa vào các buổi chiều ngày khác trong tuần, khiến giáo viên dù được nghỉ vẫn phải đi dạy, nhất là ngày thứ bảy (2.5), ngày cả nước đang được nghỉ lễ.
"Giáo viên có ý kiến thì hiệu trưởng trả lời dạy như vậy mới đủ chương trình, không thể cắt xén được. Nhưng mình thấy bất công vì ngày nghỉ mà phải đi dạy bù, trong khi cả nước được nghỉ. Mình cũng có hỏi một số học sinh thì các em cũng thắc mắc sao ngày nghỉ lễ mà vẫn đi học", giáo viên trường Chu Văn An A, chia sẻ.
Trước phản ánh của giáo viên, trao đổi với PV Thanh Niên, thầy Nguyễn Văn Nghiêm, Hiệu trưởng Trường THPT Chu Văn An A, cho rằng đây chỉ là việc điều chỉnh thời khóa biểu để đảm bảo đến 31.5 hoàn thành chương trình, chứ không phải dạy bù.
Thầy Nghiêm cho rằng, đối với trường THPT, lịch học từ thứ hai đến thứ bảy, tức thứ bảy không phải ngày nghỉ. "Từ đầu năm đến nay có những kỳ nghỉ dài, nhà trường phải bố trí, sắp xếp lịch cho phù hợp với khung thời gian năm học. Thay vì thứ bảy bình thường học buổi sáng thôi, bây giờ thêm buổi chiều để xử lý đảm bảo khung thời gian năm học", thầy Nghiêm giải thích.
Cũng theo thầy Nghiêm, việc này cũng đã được nhà trường thông báo đến các thầy, cô giáo trong trường và lưu ý đây không phải dạy bù, mà là bố trí lịch thời khóa biểu để đảm bảo hết khung thời gian năm học.
Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, trong kỳ nghỉ lễ 30.4 và 1.5 năm nay, nhiều trường THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đã quyết định cho trường nghỉ trọn vẹn 4 ngày (từ 30.4 đến hết ngày 3.5) theo lịch. Điều này cũng tạo điều kiện giúp giáo viên, phụ huynh và học sinh có kỳ nghỉ lễ dài ngày hơn.
Trong đó, 100 em được tuyển thẳng nhờ thành tích thể thao cấp quốc gia. Nhóm còn lại là hơn 1.400 học sinh khuyết tật, dân tộc thiểu số.
Các em có thể đăng ký vào các trường THPT bất kỳ, trừ trường chuyên. Hội đồng xét tuyển thẳng sẽ đánh giá và phân bổ học sinh vào các trường THPT phù hợp, ưu tiên trường gần nơi cư trú hoặc khu vực giáp ranh.
Năm nay, thành phố có hơn 151.300 học sinh đăng ký thi lớp 10 công lập, khoảng 70% đỗ. Trong đó, hơn 11.300 em cạnh tranh vào lớp chuyên, tích hợp. Lớp chuyên Anh có gần 3.350 em đăng ký, tiếp theo là chuyên Toán với hơn 2.000 em và chuyên Văn với hơn 1.360 em.
Kỳ thi lớp 10 diễn ra ngày 1-2/6. Học sinh làm ba bài thi Toán, Văn, Tiếng Anh, thêm môn chuyên nếu đăng ký vào khối này.
Sở Giáo dục và Đào tạo bố trí 242 điểm thi với hơn 6.400 phòng, dự kiến huy động gần 18.000 giáo viên phục vụ cho kỳ thi.
Chiều 24.4, ban giám hiệu Trường tiểu học Lương Thế Vinh phường Bến Cát (TP.HCM) đã có quyết định điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm, đối với giáo viên L.T.M khi cô này phạt học sinh lớp 3 tự đâm kim tiêm vào tay do các lỗi như không đeo khăn quàng đỏ, nói chuyện trong lớp…
Trước đó, sự việc vỡ lở khi một phụ huynh trường này thấy con về nhà mệt mỏi, gặng hỏi mãi mới biết. Ngày 13.4, lãnh đạo Trường tiểu học Lương Thế Vinh ghi nhận ít nhất 5 học sinh đã từng tự chích vào tay mình theo cách ấy.
Là người làm giáo dục gần 20 năm, làm tham vấn tâm lý vài năm gần đây, tôi đã có dịp trò chuyện với hàng ngàn thầy cô, cha mẹ đang vật lộn với cảm giác bất lực trước học sinh, trước con cái. Tôi hiểu áp lực của việc quản lý một lớp học 40-50 em hiếu động, hiểu nỗi sợ bị đánh giá khi lớp thiếu kỷ luật. Tôi không viết bài này để thêm một tiếng nói phẫn nộ. Tôi viết vì đằng sau sự việc "rợn người" nói trên, có một quan niệm đang âm thầm vận hành trong tâm thức nhiều người làm các công việc chạm đến con người như giáo dục.
Triết gia Martin Buber, trong tác phẩm Ich und Du (1923), phân biệt hai cách con người có thể tương tác trong thế giới: "Tôi-Người" và "Tôi-Vật". Trong quan hệ Tôi-Người, tôi đối xử với bạn như một chủ thể trọn vẹn, không thể bị rút gọn thành chức năng hay mục đích sử dụng. Trong quan hệ Tôi-Vật, bạn là một đối tượng có thể đo lường, phân loại, chỉnh sửa.
Buber không cho rằng quan hệ Tôi-Vật là xấu. Khi tôi vận hành một chiếc máy, quan hệ ấy là hợp lẽ. Điều ông cảnh báo là khi cách nhìn Tôi-Vật len lỏi vào những mối quan hệ lẽ ra phải là Tôi-Người, như giữa cha mẹ và con, giữa thầy và trò, thì những hành xử quan tâm và nhân bản bị đánh mất, và bạo lực trở thành một lựa chọn thuận tiện. Trong câu chuyện cô giáo phạt học trò bằng kim tiêm, nếu cô giáo đã xem học sinh là đối tượng, thì mọi đau đớn xảy ra với đối tượng ấy đều có thể quy về "lỗi của đối tượng". Trong mắt của cô giáo ấy, đứa trẻ đã không còn là một con người đang loay hoay lớn lên, mà đã trở thành một đối tượng chờ được răn đe.
Tôi không viết bài này để buộc tội một cô giáo vừa vào nghề ba năm. Điều làm tôi đau lòng không phải một hành vi cá biệt như vậy, mà sâu hơn, tôi có cảm giác rằng những hành vi ấy nảy sinh từ một "mảnh đất tâm thức" đã tồn tại từ lâu.
Trong tâm thức một bộ phận không nhỏ thầy cô lẫn cha mẹ Việt Nam, đứa trẻ vẫn được hình dung như đất sét - hỗn độn chưa thành hình, chờ bàn tay người lớn nhào nặn thành hình dạng họ mong muốn. Tâm thức ấy nếu không được quân bình lại bằng tinh thần tôn trọng phẩm giá con người - dù con người ấy nhỏ bé đến đâu, nó có thể trở thành "giấy phép" để đàn áp một cách thô bạo bất cứ thứ gì không vừa khuôn.
Quan niệm "học sinh/trẻ em là đối tượng để uốn nắn" tồn tại vì nó tiện lợi. Khi tôi xem bạn là con người trọn vẹn, tôi phải dừng lại, phải hỏi, phải lắng nghe, phải thừa nhận giới hạn của bạn và của chính mình. Nhưng khi tôi xem bạn là đối tượng cần định hình, tôi chỉ việc thẳng tay áp dụng kỹ thuật và kỷ luật. Một lớp học 40 em mà xem mỗi em là một con người độc đáo thì có vẻ mệt quá, trong khi một lớp học 40 đối tượng cần quản lý thì cứ "theo đúng công thức" là được.
Đó là lý do vì sao khẩu hiệu "lấy học sinh làm trung tâm" được treo ở nhiều trường, nhưng kim tiêm lại vẫn xuất hiện trên bàn một giáo viên. Khẩu hiệu là ngôn từ bề mặt, trong khi tâm thái và quan niệm là nền tảng sâu bên trong. Khi nền tảng chưa thay đổi, khẩu hiệu chỉ là lớp sơn bóng bẩy bên ngoài.
Cô giáo trong câu chuyện trên sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật lẫn đạo đức nghề nghiệp, như mới đây, cô bị điều chuyển công tác, làm công việc không tiếp xúc với học sinh trong thời gian 1 năm. Tôi cũng mong những người làm việc với cô vẫn sẽ cân nhắc tất cả các phương diện của cô như một con người toàn vẹn chứ không phải một "đối tượng để xử lý" khác. Mặt khác, những người còn lại chúng ta - thầy cô, cha mẹ, nhà quản lý giáo dục, nhà tham vấn, bác sĩ… mọi nghề nghiệp làm việc chính với con người phải đối diện một câu hỏi khó hơn nhiều: Chúng ta có đang thật sự cư xử với mỗi người mình gặp như một con người trong công việc hàng ngày của mình không, hay đã quen xem họ như "đối tượng làm việc"?
Carl Rogers, nhà tâm lý học nhân bản đã dành cả đời để bảo vệ một điều đơn giản: Con người - bất kể tuổi tác, hành vi - xứng đáng được đón nhận vô điều kiện với phẩm giá của mình. Không phải chấp nhận mọi hành vi, mà là dù hành vi nào xảy ra, con người ấy vẫn là con người, không thể bị rút gọn thành hành vi và dán nhãn bằng một vài kết luận hạn hẹp.
Một đứa trẻ nói chuyện trong giờ học không phải là đứa ồn ào, mà là một con người đang học cách điều tiết bản thân và cần người lớn đồng hành. Khoảng cách giữa hai cách nhìn ấy quyết định cách tương tác nào là phù hợp ở lớp học. Khi nhìn học sinh như một con người, kỷ luật của giáo viên là đối thoại - có giới hạn, có hậu quả, nhưng vẫn trong không gian tôn trọng phẩm giá. Ngược lại, khi nhìn học sinh như đối tượng thì những thứ như kim tiêm, roi vọt, lời lăng mạ hay chửi mắng trở thành những lựa chọn "thích đáng".