Theo TechRadar, việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong công việc đang tăng nhanh, nhưng kéo theo khoảng trống quản lý mà nhiều doanh nghiệp chưa kịp xử lý. Dù 82% doanh nghiệp đã đầu tư vào kỹ năng AI và dữ liệu, 45% các lãnh đạo IT cho biết họ vẫn chưa có đủ khả năng theo dõi dữ liệu công ty đang được chia sẻ ở đâu và bằng cách nào qua các công cụ AI.
Thực tế này tạo ra một “vùng mù” trong kiểm soát thông tin. Khi dùng AI để viết nội dung, phân tích dữ liệu hoặc hỗ trợ lập trình, nhân viên có thể đưa vào tài liệu nội bộ, thông tin khách hàng hoặc mã nguồn. Những dữ liệu này có thể bị lưu trữ, xử lý trên hệ thống bên thứ ba, vượt ngoài phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp.
Vấn đề không chỉ nằm ở các công cụ GenAI không được phê duyệt. Nhiều lãnh đạo IT xác nhận AI agent có những hành động ngoài ý muốn, như truy cập hoặc chia sẻ sai dữ liệu. Trong khi đó, 12% doanh nghiệp đang bổ sung tới 10.000 AI agent hoặc tài khoản truy cập của máy và phần mềm mỗi tháng, khiến bài toán kiểm soát danh tính và quyền truy cập trở nên phức tạp hơn.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc thiếu chính sách rõ ràng. Nhiều công ty chưa ban hành quy định cụ thể về việc sử dụng AI trong công việc, hoặc chưa triển khai công cụ giám sát phù hợp. Điều này khiến nhân viên có xu hướng tự tìm công cụ bên ngoài để tăng hiệu suất, thay vì dùng các nền tảng đã được kiểm soát.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Lê Minh, giám đốc dự án tại một công ty phát hành game ở TP.HCM, ví giải pháp AI dành cho doanh nghiệp như một “phòng xử lý” nội bộ có thể tiếp nhận khối lượng dữ liệu rất lớn, nhưng tri thức và bí mật kinh doanh vẫn được cần giữ trong phạm vi kiểm soát của tổ chức.
“Nếu đã xác định dùng AI, doanh nghiệp nên chọn các nền tảng có cơ chế bảo mật và quản trị rõ ràng, như Microsoft Copilot hoặc Google Workspace thay vì để nhân viên tự sử dụng công cụ bên ngoài”, ông Minh nói.
Doanh nghiệp cần thừa nhận nhu cầu dùng AI của nhân viên, đặt rào chắn phù hợp cho các công cụ cần thiết và xem AI như một bài toán quản trị danh tính, trong đó quyền truy cập dữ liệu phải được kiểm soát chặt chẽ hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo Agibot, G2 hiện triển khai tại nhà máy sản xuất máy tính bảng của Longcheer Technology. Thay vì chỉ thử nghiệm có kiểm soát ở một bộ phận nhất định như trước đây, các robot đã được tích hợp trực tiếp vào quy trình sản xuất.
Robot hoạt động chủ yếu tại các trạm Kiểm tra Tích hợp Đa phương tiện (MMIT) bên trong dây chuyền Longcheer. Tại đây, chúng thực hiện loạt nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác cao như nhặt thiết bị, đặt chúng vào các giá đỡ kiểm tra và phân loại các thiết bị đã hoàn thiện hoặc bị lỗi.
Đại diện Agibot cho biết G2 hoạt động theo phương thức kết hợp xác thực dựa trên mô phỏng, học tăng cường và trí thông minh tích hợp trên thiết bị để giảm thời gian thiết lập và cải thiện độ tin cậy trong nhà máy. Bằng cách giảm cấu hình thủ công, robot hình người có thể linh hoạt xử lý các vật thể trên băng chuyền.
Tại dây chuyền, G2 hoạt động song song với người vận hành. Robot này đồng thời tự thích ứng với sản xuất vốn đa dạng sản phẩm. Nhà máy không cần đến công cụ chuyên dụng cho robot hoặc phải thiết kế lại dây chuyền. Việc tích hợp robot vào dây chuyền sản xuất chỉ hoàn tất trong vòng 36 giờ.
Agibot khẳng định G2 có thể hoạt động với hiệu suất cao và liên tục trên dây chuyền, với robot hỗ trợ hoạt động liên tục 24/7 và duy trì sản lượng ổn định xuyên suốt các ca làm việc. Mỗi robot có thể đạt năng suất 310 sản phẩm mỗi giờ, thời gian chu kỳ khoảng 19-20 giây cho mỗi tác vụ và tỷ lệ thành công vượt 99,9%.
Theo TS Yao Maoqing, Phó chủ tịch Agibot, việc áp dụng G2 vào nhà máy cho thấy "AI thể hiện qua hình thức vật lý", tức robot, không còn ở mức thử nghiệm nữa. "Đó là khả năng thực tiễn, sẵn sàng sản xuất, có thể hoạt động đáng tin cậy trong điều kiện công nghiệp thực tế và mang lại giá trị kinh tế có thể đo lường được", ông Maoqing cho biết trên blog.
Li Long, Tổng giám đốc bộ phận robot của Longcheer, cho biết chỉ trong vòng bốn tháng sau khi G2 được tích hợp vào dây chuyền sản xuất hàng loạt của công ty, robot này đã mang lại hoạt động ổn định, liên tục và đáp ứng tất cả các mục tiêu chính.
"Đây không chỉ là cột mốc kỹ thuật, mà còn đánh dấu sự xác thực thực tế đầu tiên về AI tích hợp trong sản xuất chính xác đối với thiết bị điện tử tiêu dùng", ông Long nói. "Cột mốc này cho thấy lộ trình phát triển trí tuệ nhân tạo tích hợp trong sản xuất có thể mở rộng".
Agibot, hay Zhiyuan Robotics, ra đời tháng 2/2023 bởi nhà sáng lập trẻ tuổi Peng Zhihui sinh năm 1993, có trụ sở tại Thượng Hải. Công ty đạt tốc độ phát triển nhanh chóng khi theo thống kê của hãng nghiên cứu thị trường Counterpoint Research, tổng cộng có 16.000 robot hình người được lắp đặt trên thế giới năm 2025, riêng Agibot dẫn đầu khi chiếm 30,4% thị phần.
Agibot G2 ra mắt năm 2025, là robot hình người cao khoảng 1,6 m, nặng gần 70 kg. Thiết bị sử dụng cấu trúc nửa thân trên kết hợp bánh xe di chuyển, phù hợp môi trường nhà máy. G2 có hai tay robot 7 bậc tự do, độ chính xác cao, tích hợp camera, LiDAR và cảm biến lực để nhận diện và thao tác vật thể. Hệ thống AI cho phép học tác vụ, phối hợp với con người và vận hành liên tục nhờ pin thay "nóng" - tức có thể tự đến trạm thay pin mà không cần con người.
Tin Gốc: Vnexpress

18h35 ngày 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội), NASA phóng thành công tàu Orion hướng tới Mặt Trăng. Bên trong là phi hành đoàn Artemis II, gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA) trong bộ đồ màu cam.
Trước đây, phần lớn trang phục du hành vũ trụ có màu trắng, do Prada và Axiom Space chế tạo, chủ yếu liên quan đến đặc tính phản xạ nhiệt hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cũng có những phá cách, như bộ đồ phi hành gia tại SpaceX là trắng kết hợp xanh, hay trang phục của Blue Origin có màu xanh da trời. Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Quốc gia Mỹ (NASA) cũng dùng màu trắng cho nhà du hành trên trạm vũ trụ ISS, nhưng lần này họ đã thay đổi.
"Khi Orion đáp xuống biển, màu cam giúp dễ nhận diện phi hành gia hơn trong công tác cứu hộ khi họ bước ra khỏi tàu", NASA giải thích trên website.
Theo cơ quan này, bộ đồ trong nhiệm vụ Artemis II gọi là Hệ thống Sinh tồn Phi hành đoàn Orion (OCSS), được thiết kế vừa vặn theo từng người và trang bị công nghệ giúp bảo vệ phi hành gia vào ngày phóng, trong tình huống khẩn cấp, trong suốt các giai đoạn nguy hiểm cao của sứ mệnh gần Mặt Trăng cũng như trong quá trình trở về Trái Đất với tốc độ cao.
"Cam là sự kết hợp của đỏ và vàng, hai màu tràn đầy năng lượng và dễ nhận thấy", Leatrice Eiseman, CEO Viện Màu sắc Pantone, cho biết trên New York Times. "Nó tạo cảm nhận về sự khẩn trương, đòi hỏi phải được chú ý".
Màu cam trên bộ đồ của phi hành gia Artemis II gọi là International Orange, được đánh giá mang tính nhận diện cao nhất. Theo KcentTV, cam quốc tế đã được sử dụng từ rất lâu trong ngành hàng hải, nhưng được công chúng biết đến nhiều hơn từ những năm 1930, khi kiến trúc sư Irving Morrow chọn để sơn cầu Cổng Vàng nhằm làm nổi bật cây cầu giữa bầu trời và mặt nước. Hải quân Mỹ cũng sử dụng cam quốc tế cho các họa tiết trên thân máy bay vào năm 1947.
Các bộ đồ phóng và tái nhập khí quyển của phi hành gia trước đây đều có màu trắng cho đến năm 1988, International Orange lần đầu xuất hiện với biệt danh "bộ đồ bí ngô". Năm 1992, thành viên phi hành đoàn của sứ mệnh STS-45 cũng mặc màu cam.
Bên cạnh màu sắc, trang phục OCSS trang bị hàng loạt công nghệ. NASA cho biết bộ đồ được "nâng cấp toàn diện" so với trang phục dùng trong những nhiệm vụ tàu con thoi trước đây, được thiết kế giúp phi hành gia sống sót đến 6 ngày ngay cả khi khoang tàu Orion bị mất áp suất trong không gian.
Cụ thể, mũ bảo hiểm được thiết kế nhẹ và chắc chắn hơn, với nhiều kích cỡ, giúp giảm tiếng ồn và dễ dàng kết nối với hệ thống liên lạc cần thiết để nói chuyện với các thành viên phi hành đoàn khác và trung tâm điều khiển nhiệm vụ.
Ở phần thân, bộ đồ sử dụng vải chịu áp lực, gồm một lớp giữ cố định để kiểm soát hình dạng và giúp dễ dàng di chuyển. Khóa kéo được thiết kế để mặc nhanh và có độ bền cao. Phần khoang lưu thông không khí và loại bỏ khí carbon dioxide thở ra. Một loại quần áo làm mát bằng chất lỏng được mặc bên trong, giống đồ lót giữ nhiệt có ống làm mát tích hợp, giúp luôn mát mẻ và khô ráo.
Ngoài ra, mỗi bộ đồ có một áo phao cứu sinh riêng chứa thiết bị định vị cá nhân, dao cứu hộ, bộ dụng cụ sinh tồn gồm gương, đèn nháy, đèn pin, còi và đèn phát sáng trong trường hợp phi hành gia phải rời khỏi Orion sau khi hạ cánh xuống biển và trước khi nhân viên cứu hộ đến.
Bảo Lâm tổng hợp
Phi hành gia cất cánh thế nào trong nhiệm vụ Artemis II?
Nhiệm vụ Mặt Trăng Artemis II và những kỷ lục lần đầu
Phi hành đoàn Artemis II đến bãi phóng, sẵn sàng tới Mặt Trăng
Nguồn: https://vnexpress.net/tai-sao-trang-phuc-cua-phi-hanh-gia-artemis-ii-co-mau-cam-5057694.html
Khoa Học Công Nghệ
Sứ mệnh Mặt Trăng tiếp theo sau thành công của Artemis II là gì?

Bốn phi hành gia của Artemis II, nhiệm vụ có người lái đầu tiên đến Mặt Trăng kể từ Apollo 17 năm 1972, hạ cánh an toàn tối 10/4 theo múi giờ EDT (sáng 11/4 giờ Hà Nội). Đây là cột mốc quan trọng, nhưng NASA đã lên lộ trình cụ thể cho mục tiêu lớn hơn những năm tới.
Artemis II là một bước đệm trong mục tiêu thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người trên Mặt Trăng. Trước đó, nhiệm vụ không người lái Artemis I đã diễn ra hồi tháng 11/2022, sau nhiều đợt hoãn và hủy phóng.
Nhiệm vụ tiếp theo sẽ là Artemis III, ban đầu được thiết kế là chuyến đi có người lái lên bề mặt Mặt Trăng. Nhưng cuối tháng 2, Giám đốc NASA Jared Isaacman thông báo sự thay đổi lớn: phi hành đoàn Artemis III vẫn ở lại quỹ đạo Trái Đất để thử nghiệm khả năng kết nối của tàu Orion với một hoặc hai tàu đổ bộ Mặt Trăng có người lái trong chương trình, bao gồm Starship của SpaceX và Blue Moon của Blue Origin. Nhiệm vụ này dự kiến diễn ra năm 2027.
Nếu suôn sẻ, đến cuối 2028, Artemis IV đưa phi hành gia hạ cánh xuống gần cực nam Mặt Trăng bằng tàu Orion và một phương tiện đổ bộ do tư nhân phát triển. Sau đó, các nhiệm vụ Artemis tiếp tục diễn ra, giúp thiết lập căn cứ trên Mặt Trăng vào năm 2032. Các phi hành gia sẽ sống và làm việc dài hạn tại căn cứ này, đúc rút cho NASA các kỹ năng cần thiết để thực hiện bước nhảy vọt tiếp theo là lên Sao Hỏa.
Hiện quá trình chuẩn bị cho Artemis III đã bắt đầu. Trong cuộc họp báo về Artemis II ngày 7/4, Isaacman tiết lộ NASA đã tổ chức "cuộc thảo luận về thiết kế nhiệm vụ Artemis III cấp cao đầu tiên" ngay hôm đó. "Dựa trên thông tin từ phản hồi của các nhà cung cấp, có nhiều điều chúng tôi biết là có thể đạt được", ông nói thêm.
Artemis III đang lựa chọn quỹ đạo Trái Đất tầm thấp hoặc tầm cao. "Mỗi phương án có ưu nhược điểm riêng. Chúng tôi có thể hình dung phần nào hướng đi phù hợp dựa trên nhịp độ phóng của hai nhà cung cấp phương tiện đổ bộ tư nhân", Isaacman giải thích.
Theo Phó giám đốc NASA Amit Kshatriya, các nhóm đã đạt được tiến bộ đáng kể trong chế tạo phần cứng cho Artemis III. Một số bộ phận tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) của nhiệm vụ đã có mặt tại địa điểm phóng - Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida. Những bộ phận khác sẽ được vận chuyển từ Cơ sở Lắp ráp Michoud của NASA ở Louisiana cuối tháng này.
"Chúng tôi đang thực sự nghiêm túc tiến hành càng nhanh càng tốt", Kshatriya hôm 9/4 chia sẻ. Khi phi hành đoàn Artemis II hạ cánh hôm 10/4, ông nói sẽ sớm công bố danh tính các phi hành gia Artemis III.
Lý do sau 54 năm Mỹ mới bay quanh Mặt Trăng
Ngay trước chuyến bay của Apollo 17 tháng 12/1972, Quốc hội Mỹ cắt giảm ngân sách của NASA. Tổng thống Richard Nixon, nhậm chức tháng 1/1969, ủng hộ một chương trình không gian tiết kiệm hơn và chuyển trọng tâm sang tàu con thoi. Sau đó, Mỹ tập trung vào quỹ đạo Trái Đất tầm thấp và xây dựng trạm vũ trụ thay vì tiếp tục bay lên Mặt Trăng.
Nước này được cho là không còn động lực quay lại sau những cuộc đổ bộ tiêu tốn ngân sách. "Nhiều người nghĩ kiểu: Chúng ta đã làm những gì tổng thống John F. Kennedy muốn. Chúng ta đánh bại Liên Xô và vẫn là cường quốc công nghệ của thế giới. Vậy sao còn cần quay lại?", Ed Stewart, quản lý bảo tàng tại Trung tâm Không gian và Tên lửa Mỹ, nói với Space.
Phải tới 2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump chỉ đạo NASA khởi động chương trình Artemis để đưa con người lên Mặt Trăng. Tuy nhiên, gần 50 năm đã trôi qua và phần lớn công nghệ trong chương trình Apollo đã lỗi thời, chuyên gia từng xây dựng và vận hành hệ thống thời đó cũng không còn làm việc trong lĩnh vực này.
"Toàn bộ thế hệ đó đã rời khỏi ngành. Chúng ta đang học lại cách làm, nhưng với công nghệ mới và khác biệt", John Thornton, CEO công ty Astrobotic Technology (Mỹ), nói với Live Science.
Dù kế thừa kinh nghiệm của sứ mệnh cũ, NASA vẫn phải giải quyết những thách thức kỹ thuật trong kỷ nguyên mới. Do khởi động chương trình chưa đầy 10 năm, các hệ thống mới cần nhiều năm để nghiên cứu, phát triển, sản xuất và thử nghiệm, cũng như cần thời gian chứng nhận đảm bảo an toàn và đủ điều kiện bay. Một số yếu tố khác cũng làm trì hoãn, như phát triển bộ đồ du hành vũ trụ, giải quyết vấn đề với tấm chắn nhiệt của tàu, xây dựng hệ thống hạ cánh mới.
Quan trọng hơn, khác với Apollo, Artemis không chỉ hướng đến "cắm cờ và để lại dấu chân" với những chuyến ghé thăm và nghiên cứu ngắn hạn 1-3 ngày mà muốn thiết lập sự hiện diện lâu dài của con người, tạo bước đệm cho việc khám phá Sao Hỏa.
Do đó, lộ trình chinh phục Mặt Trăng của NASA được chia theo nhiều giai đoạn: Artermis I - nhiệm vụ không người lái (2022); Artermis II - nhiệm vụ có người lái bay vòng quanh Mặt Trăng (2026), Artermis III - thử nghiệm kết nối tàu Orion với tàu đổ bộ Mặt Trăng có người lái (2027), Artemis IV - đổ bộ Mặt Trăng (dự kiến 2028)...
Bù đắp cho kinh phí hạn chế, NASA cũng tăng cường hợp tác với công ty tư nhân để chế tạo những bộ phận quan trọng cho nhiệm vụ Mặt Trăng. Tuy nhiên, cả hai tàu đổ bộ chở người tư nhân đều chưa chứng minh hiệu quả.
Blue Moon của tỷ phú Jeff Bezos đến nay chưa cất cánh. Trong khi đó, Starship của Elon Musk đã thực hiện 11 chuyến bay thử nghiệm, hai chuyến gần nhất đều thành công, nhưng chưa từng lên tới quỹ đạo, chưa chứng minh được khả năng tiếp nhiên liệu ngoài Trái Đất (điều cần thiết cho mục tiêu hiện diện lâu dài trên Mặt Trăng hoặc Sao Hỏa) và cũng chưa trang bị hệ thống hỗ trợ sự sống.
Trong nhiệm vụ Artermis II, tàu Orion cũng cho thấy còn một số vấn đề cần khắc phục. Hệ thống đẩy của tàu bị rò rỉ heli, vốn dùng để đẩy nhiên liệu từ thùng chứa vào động cơ. Ông Kshatriya giải thích: "Tỷ lệ rò rỉ quan sát được nằm trong giới hạn chấp nhận, nhưng điều này có thể dẫn đến việc phải thiết kế lại hệ thống van. Với nhiệm vụ quỹ đạo Trái Đất tầm thấp, tôi không cần những van đó phải chịu áp suất tương tự, nhưng với nhiệm vụ quỹ đạo Mặt Trăng thì cần".
Nhà vệ sinh hiện đại của tàu Orion cũng nhiều lần gặp sự cố nên các kỹ sư sẽ cần điều chỉnh một số chi tiết.Space nhận định, chắc chắn còn nhiều vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai chương trình Artemis. Nhưng Isaacman tin rằng NASA đủ khả năng vượt qua thử thách, đồng thời dẫn chứng thành công của Artemis II.
"Đây mới chỉ là khởi đầu", ông nói ngay sau khi phi hành đoàn Artemis II hạ cánh xuống biển. "Chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện việc này thường xuyên hơn, triển khai các nhiệm vụ đến Mặt Trăng cho tới khi đổ bộ năm 2028 và bắt đầu xây dựng căn cứ".
Tin Gốc: Vnexpress

