Ngày 8.5, UBND thành phố Đồng Nai đã làm việc với Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam về nội dung thu hồi đất cao su để triển khai các dự án trọng điểm trên địa bàn.
Theo báo cáo của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đồng Nai, thành phố đang thực hiện bồi thường, hỗ trợ đối với 33 khu đất nằm trên địa bàn do các đơn vị thuộc Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý, khai thác, với tổng diện tích gần 4.300 ha.
Thành phố Đồng Nai thu hồi 33 khu đất nhằm triển khai xây dựng các dự án trọng điểm về giao thông như vành đai 4 TP.HCM, cao tốc Dầu Giây – Tân Phú, đường gom dân sinh thuộc dự án Dầu Giây – Phan Thiết, mở rộng các tuyến tỉnh lộ…
Ngoài ra, còn sử dụng đất nói trên để xây dựng các khu tái định cư, các khu công nghiệp cạnh sân bay Long Thành.
Theo Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Đồng Nai, nhiều khu đất đã có quyết định thu hồi, chi trả tiền bồi thường nhưng việc thanh lý cây cao su để bàn giao đất còn chậm.
Lãnh đạo UBND thành phố nói rằng việc này đã làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, thu ngân sách của thành phố.
Do đó, lãnh đạo UBND thành phố Đồng Nai đề nghị Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam chỉ đạo các đơn vị thành viên khẩn trương thực hiện việc cưa cắt cây cao su, giải quyết nhanh các thủ tục liên quan đến giải phóng mặt bằng, bàn giao đất cho địa phương.
Tại buổi làm việc, UBND thành phố Đồng Nai và Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam thống nhất sẽ ký biên bản cam kết về việc thanh lý, cưa cắt cây cao su, bàn giao mặt bằng phục vụ các dự án.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Tài xế xe container 'chạy tắt' qua đường Đỗ Mười bị phạt tiền, trừ điểm giấy phép lái xe

Ngày 5-5, thông tin từ Phòng Cảnh sát giao thông (PC08) Công an TP.HCM, qua công tác theo dõi các trang mạng xã hội, Đội Cảnh sát giao thông An Sương phát hiện đoạn clip ghi lại cảnh xe container chạy không đúng làn đường (làn ngược chiều) trên đường Đỗ Mười, phường An Phú Đông, TP.HCM để rẽ vào kho hàng vào tối 4-5.
Qua đó, Đội Cảnh sát giao thông An Sương tiến hành xác minh nhanh, tra cứu thông tin phương tiện. Đến sáng nay, Đội Cảnh sát giao thông An Sương đã mời được tài xế lên trụ sở làm việc.
Đội Cảnh sát giao thông An Sương xác định vụ việc diễn ra vào khoảng 19h45 ngày 4-5.
Cụ thể vào thời điểm trên, ông Đ.M.H. (40 tuổi, ngụ tỉnh Phú Thọ) lái xe container chạy trên đường An Phú Đông 09, khi đến giao lộ Đỗ Mười - An Phú Đông 09, ông H. cho xe rẽ vào làn hỗn hợp trên đường Đỗ Mười (làn ngược chiều) để vào bãi đỗ xe cách giao lộ khoảng 50m.
Qua làm việc, ông H. cho biết vì không có phụ xe đi cùng, cũng như thấy khoảng cách từ giao lộ An Phú Đông 09 - Đỗ Mười đến bãi xe gần nên cho xe vào bãi.
Đội Cảnh sát giao thông An Sương đã tiến hành lập biên bản đối với ông H. về hành vi "đi không đúng làn đường quy định (làn ngược chiều)". Với hành vi này, ông H. bị xử phạt với mức tiền phạt từ 4 triệu đến 6 triệu đồng và bị trừ 2 điểm giấy phép lái xe.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Quy định mới nhất về hiến, nhận tinh trùng để thụ tinh trong ống nghiệm

Điều 42 Nghị định 90 năm 2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 15.5) có nhiều quy định cụ thể về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.
Theo đó, nếu vi phạm một trong các hành vi sau đây sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng:
Trong trường hợp người gửi tinh trùng, noãn, phôi (gọi chung là mẫu) hoặc người nhận mẫu hiến có nguyện vọng chuyển mẫu từ cơ sở đang lưu giữ đến cơ sở khác mà cơ sở đang lưu giữ mẫu không tư vấn cho người gửi/nhận mẫu hiến về quy định vận chuyển mẫu, những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình vận chuyển, hoặc không có ý kiến bằng văn bản về việc đồng ý chuyển mẫu.
Không cho chuyển tinh trùng, noãn, phôi đang lưu giữ sang cơ sở khác theo yêu cầu của người gửi, trừ trường hợp cơ sở tiếp nhận mẫu không đồng ý tiếp nhận mẫu.
Trường hợp cơ sở lưu giữ không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện việc lưu giữ mẫu và phải chuyển mẫu đến một cơ sở lưu giữ khác mà không thông báo đến người gửi/nhận mẫu hiến…
Cũng theo điều 42 Nghị định 90 năm 2026, đối với một trong các hành vi sau đây thì bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng:
Cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi không bảo đảm bảo mật thông tin của người hiến và người nhận.
Không thực hiện nguyên tắc vô danh giữa người hiến và người nhận trong việc hiến và nhận tinh trùng, phôi.
Lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi mà không ký hợp đồng với người gửi theo quy định của pháp luật về dân sự với cơ sở lưu giữ, trừ trường hợp tinh trùng, noãn, phôi được hiến.
Không thực hiện việc xác định người hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV.
Không mã hóa thông tin về việc hiến tinh trùng, noãn, phôi; lưu giữ và chia sẻ với cơ sở dữ liệu dùng chung về hỗ trợ sinh sản theo quy định của pháp luật.
Không hủy tinh trùng khi người gửi tinh trùng chết trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng tinh trùng của người chồng đã chết; hoặc trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến tinh trùng cho cơ sở lưu giữ.
Không hủy noãn khi người gửi noãn chết, trừ trường hợp trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến noãn cho cơ sở lưu giữ.
Không hủy phôi khi người chồng trong cặp vợ chồng gửi phôi chết, trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng phôi của hai vợ chồng; người vợ có văn bản hiến phôi cho cơ sở lưu giữ để nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một phụ nữ độc thân, hoặc một cặp vợ chồng khác.
Không hủy phôi đang lưu giữ khi cặp vợ chồng gửi phôi đã ly hôn, trừ trường hợp có văn bản đồng ý của cả hai vợ chồng về việc: đề nghị tiếp tục lưu giữ phôi và cam kết chi trả chi phí lưu giữ theo quy định của cơ sở; hoặc đề nghị hiến phôi để sử dụng vào nghiên cứu khoa học hoặc kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một cặp vợ chồng hoặc một phụ nữ độc thân khác.
Thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho các cặp vợ chồng không được chẩn đoán là vô sinh hoặc không có chỉ định về y tế.
Cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không mã hóa, hoặc không chia sẻ các thông tin về việc hiến tinh trùng, noãn, phôi và lưu giữ với cơ sở dữ liệu dùng chung về hỗ trợ sinh sản theo quy định sẽ bị xử phạt từ 10 - 20 triệu đồng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Ai không hút thuốc lá điện tử nhưng vẫn có thể bị phạt đến 10 triệu đồng?

Theo khoản 1 điều 26 Nghị định 90/2026 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 15.5), quy định phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Đáng chú ý, khoản 2 điều 26 của nghị định nói trên quy định phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình. Trừ trường hợp người chứa chấp là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người vi phạm thì không bị xử lý.
Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với hành vi sử dụng.
Vấn đề đặt ra là, như thế nào thì bị xem là "chứa chấp" hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng?
Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên, luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Công ty luật TNHH HPL và cộng sự) cho biết hiện chưa có quy định giải thích cụ thể về khái niệm "chứa chấp" trong trường hợp này.
Tuy nhiên, có thể hiểu đây là hành vi của người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc quản lý của mình, biết rõ người khác đang sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nhưng vẫn cho phép họ sử dụng tại địa điểm đó.
Trong đó, "địa điểm thuộc quyền chiếm hữu" được hiểu là nơi người đó đang trực tiếp sử dụng, nắm giữ và có quyền quyết định các hoạt động bên trong. Còn "địa điểm thuộc quyền quản lý" là nơi người đó được giao quyền điều hành, giám sát và kiểm soát hành vi diễn ra.
"Điểm cốt lõi để xác định hành vi chứa chấp nằm ở hai yếu tố là người quản lý phải biết hành vi vi phạm và cho phép hoặc để mặc hành vi đó diễn ra trong phạm vi mình có thể kiểm soát", luật sư Thúy Huyền phân tích.
Không chỉ dừng lại ở việc cho thuê hoặc cho mượn địa điểm, trong thực tế, trách nhiệm còn có thể được xem xét trong trường hợp người quản lý bỏ mặc để người sử dụng, hoặc để nhiều người cùng sử dụng thì vẫn có thể bị xem là hành vi chứa chấp.
Tuy nhiên, luật sư Thúy Huyền cho rằng, Nghị định 90/2026 hiện chưa đưa ra tiêu chí cụ thể như số lần vi phạm hay số lượng người vi phạm để mặc nhiên xác định là "chứa chấp". Việc đánh giá sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền, dựa trên yếu tố lỗi và khả năng kiểm soát thực tế của chủ thể quản lý.
Theo luật sư Thúy Huyền, không phải mọi trường hợp sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra trong phạm vi quản lý đều bị xem là chứa chấp.
Ngoài trường hợp loại trừ trách nhiệm đã được quy định tại khoản 2 điều 26 đối với quan hệ gia đình (ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng), pháp luật còn đặt ra nguyên tắc xử phạt hành chính phải gắn với yếu tố lỗi.
"Những trường hợp người vi phạm sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, kín đáo, không có biểu hiện rõ ràng và không bị phát hiện, dù chủ thể quản lý đã có quy định cấm, thì không thể xem là hành vi chứa chấp", luật sư Thúy Huyền nhấn mạnh.
Tương tự, tại các địa điểm như quán ăn, quán cà phê, bệnh viện… nếu người vi phạm cố tình sử dụng thuốc lá điện tử một cách lén lút, né tránh sự kiểm tra, trong khi đơn vị quản lý đã có nội quy cấm rõ ràng, có biển cảnh báo và có biện pháp nhắc nhở khi phát hiện, thì không có cơ sở để xác định hành vi dung túng.
Ngược lại, nếu tình trạng sử dụng thuốc lá điện tử diễn ra một cách phổ biến, kéo dài trong phạm vi quản lý, và người quản lý biết nhưng không có bất kỳ biện pháp kiểm soát, nhắc nhở hay xử lý nào, thì có thể bị xem xét trách nhiệm dưới góc độ buông lỏng quản lý.
Ranh giới pháp lý trong trường hợp này được xác định giữa "không biết trong điều kiện khách quan" và "biết nhưng làm ngơ trước hành vi vi phạm".
Theo luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, khi phát hiện hành vi sử dụng hoặc chứa chấp việc sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, người dân có thể phản ánh đến công an hoặc UBND cấp xã, phường. Đây là những lực lượng có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành chính tại cơ sở.
Đối với các hành vi có tính chất phức tạp hơn, như chứa chấp có tổ chức hoặc liên quan đến hoạt động kinh doanh, buôn bán, người dân cũng có thể phản ánh đến lực lượng quản lý thị trường hoặc thanh tra chuyên ngành y tế.
Căn cứ điều 112 Nghị định 90/2026, thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi này thuộc về Chủ tịch UBND các cấp; thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành y tế; người có thẩm quyền của các lực lượng công an, quản lý thị trường, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển. Ngoài ra còn có các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao và du lịch, giáo dục, xây dựng, nông nghiệp và môi trường.
Tin Gốc: Thanh Niên

