Bệnh Ebola được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1976 trong hai đợt bùng phát đồng thời: một đợt do virus Sudan tại Nzara (nay thuộc Nam Sudan) và đợt còn lại do virus Ebola tại Yambuku (nay thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo). Đợt dịch thứ hai xảy ra tại một ngôi làng gần sông Ebola, đây cũng chính là nguồn gốc tên gọi của căn bệnh này.
Hiện nay, đã có vaccine và liệu pháp điều trị cho bệnh virus Ebola (EVD). Tuy nhiên, các thể bệnh Ebola khác như SVD hay BVD vẫn chưa có vaccine hoặc thuốc điều trị đặc hiệu. Các sản phẩm thử nghiệm vẫn đang trong quá trình phát triển.
Can thiệp bằng các biện pháp chăm sóc hỗ trợ tích cực sớm – bao gồm bù nước và điều trị các triệu chứng đặc hiệu – có thể cải thiện đáng kể khả năng sống sót của bệnh nhân. Tiếp cận y tế kịp thời chính là yếu tố sống còn.
– Các nhà khoa học nhận định rằng dơi quả (họ Pteropodidae) là vật chủ tự nhiên của Orthoebolavirus.
– Virus có thể xâm nhập vào người thông qua việc tiếp xúc gần với máu, chất tiết, cơ quan hoặc dịch cơ thể của các động vật bị nhiễm bệnh.
– Các loài động vật có nguy cơ cao bao gồm dơi quả, tinh tinh, gorilla, khỉ, linh dương rừng hoặc nhím được phát hiện bị bệnh, đã chết hoặc tìm thấy trong rừng mưa nhiệt đới.
– Khi đã xâm nhập vào cộng đồng, virus có thể lây từ người sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp (qua da bị tổn thương hoặc niêm mạc) với:
Lưu ý:
– Người bệnh không có khả năng lây truyền virus trước khi xuất hiện các triệu chứng. Họ sẽ tiếp tục là nguồn lây nhiễm chừng nào trong máu vẫn còn chứa virus.
– Nhân viên y tế và hộ lý là nhóm thường xuyên bị lây nhiễm trong quá trình điều trị cho bệnh nhân Ebola. Tình trạng này xảy ra do tiếp xúc gần với người bệnh khi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn không được thực hiện một cách nghiêm ngặt.
– Các nghi lễ mai táng có hành vi tiếp xúc trực tiếp với thi thể người quá cố cũng là một nguyên nhân làm gia tăng tốc độ lây lan của bệnh.
Thời gian ủ bệnh (khoảng thời gian từ khi nhiễm virus đến khi khởi phát triệu chứng) dao động từ 2 đến 21 ngày.
– Các triệu chứng của bệnh Ebola có thể xuất hiện đột ngột, bao gồm:
– Tiếp sau đó là các biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, phát ban và suy giảm chức năng gan, thận. Việc theo dõi sát sao các triệu chứng này là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng đối với các nhân viên y tế.
– Xuất huyết thường được coi là triệu chứng phổ biến trong nhận thức của công chúng, nhưng trên thực tế biểu hiện này ít gặp hơn và chỉ xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Một số bệnh nhân có thể bị xuất huyết nội và ngoại vi, bao gồm: nôn ra máu, đại tiện ra máu, chảy máu mũi, chảy máu nướu răng và âm đạo. Tình trạng chảy máu tại các vị trí tiêm truyền cũng có thể xảy ra.
– Khi virus tấn công vào hệ thần kinh trung ương, người bệnh có thể rơi vào trạng thái lú lẫn, dễ kích động và hung hăng.
– Ở giai đoạn đầu, phân biệt bệnh Ebola với các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, thương hàn, nhiễm khuẩn lỵ trực khuẩn (shigellosis), viêm màng não và các bệnh sốt xuất huyết do virus khác trên lâm sàng là rất khó khăn do các triệu chứng có sự tương đồng lớn.
– Để xác định chính xác một ca nhiễm Orthoebolavirus, bác sĩ phải sử dụng các phương pháp chẩn đoán xét nghiệm sau:
– Các mẫu bệnh phẩm thu thập từ bệnh nhân chứa nguy cơ an toàn sinh học cực kỳ cao. Do đó, việc kiểm tra phòng thí nghiệm đối với các mẫu chưa được bất hoạt phải được tiến hành trong điều kiện an toàn sinh học tối đa. Tất cả mẫu sinh học chưa bất hoạt khi vận chuyển trong nước và quốc tế đều phải được đóng gói theo quy trình hệ thống 3 lớp.
Qua nhiều năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác đã xây dựng các tài liệu hướng dẫn và tổ chức đào tạo nhằm tối ưu hóa quy trình chăm sóc giúp nâng cao cơ hội sống sót cho bệnh nhân, bất kể họ có được tiếp cận với các phương pháp điều trị đặc hiệu hay không.
Đây được gọi là “Chăm sóc hỗ trợ tối ưu”, quy trình này bao gồm việc chỉ định các xét nghiệm liên quan, quản lý cơn đau, đảm bảo dinh dưỡng, điều trị đồng nhiễm (như bệnh sốt rét) và các phương pháp tiếp cận khác nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho bệnh nhân phục hồi.
– Đối với bệnh virus Ebola (EVD):
Hiện có hai loại vaccine đã được phê duyệt: Ervebo (của hãng Merck & Co.) và bộ đôi Zabdeno & Mvabea (của hãng Janssen Pharmaceutica). Vaccine Ervebo được khuyến nghị sử dụng như một phần của hoạt động ứng phó với dịch bệnh (theo khuyến cáo của Nhóm chuyên gia tư vấn chiến lược – SAGE vào tháng 7/2024).
Một số vaccine thử nghiệm hiện đang ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Nhằm ứng phó với dịch bệnh, một quy trình chuẩn (CORE protocol) cũng đã được thiết lập để đánh giá tính an toàn, khả năng dung nạp, tính sinh miễn dịch và hiệu quả của các vaccine thử nghiệm này.
– Sự tham gia của cộng đồng là chìa khóa để kiểm soát thành công bất kỳ đợt bùng phát dịch nào. Công tác dập dịch dựa trên một chuỗi các biện pháp can thiệp đồng bộ: chăm sóc lâm sàng, giám sát và truy vết tiếp xúc, dịch vụ xét nghiệm, phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở y tế, mai táng an toàn và tôn trọng phong tục, tiêm chủng (chỉ áp dụng cho bệnh virus Ebola) và huy động xã hội.
– Nâng cao nhận thức về các yếu tố nguy cơ và các biện pháp bảo vệ cá nhân là cách hiệu quả để giảm tỷ lệ lây nhiễm sang người. Các thông điệp giảm thiểu rủi ro cần tập trung vào các khuyến cáo sau:
Giảm nguy cơ lây truyền từ động vật hoang dã sang người: Tránh tiếp xúc với dơi quả hoặc khỉ/vượn bị nhiễm bệnh, đồng thời không tiêu thụ thịt sống của chúng.
Giảm nguy cơ lây truyền từ người sang người: Hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm bệnh, đặc biệt là với dịch cơ thể của họ. Cần tránh tiếp xúc vật lý gần với bệnh nhân Ebola. Người bệnh phải được cách ly tại trung tâm điều trị chuyên dụng để được chăm sóc sớm và ngăn ngừa lây nhiễm tại nhà.
Minh bạch thông tin: Cộng đồng cần được thông tin đầy đủ về bản chất căn bệnh cũng như các biện pháp kiểm soát dịch. Điều này đạt hiệu quả cao nhất khi người dân tham gia trực tiếp vào công tác ứng phó và có sự thảo luận cởi mở.
Các biện pháp bao vây dập dịch bao gồm: tổ chức mai táng an toàn và tôn trọng người quá cố; xác định những người từng tiếp xúc với người nhiễm Ebola và theo dõi sức khỏe của họ trong vòng 21 ngày; cách ly người lành khỏi người bệnh để ngăn chặn sự lây lan diện rộng và tập trung chăm sóc cho các bệnh nhân đã xác định. Bên cạnh đó, việc duy trì vệ sinh cá nhân và làm sạch môi trường sống cũng đóng vai trò then chốt.
– Nhân viên y tế phải luôn thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn khi chăm sóc bệnh nhân, bất kể chẩn đoán ban đầu của họ là gì. Các biện pháp này bao gồm: vệ sinh tay cơ bản, vệ sinh đường hô hấp, sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân (để ngăn chặn các giọt bắn hoặc tiếp xúc với vật liệu nhiễm khuẩn), thực hành tiêm an toàn và quy trình mai táng an toàn, tôn nghiêm.
– Khi chăm sóc cho bệnh nhân nghi nhiễm hoặc đã xác định mắc Ebola, nhân viên y tế cần áp dụng thêm các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tăng cường để tuyệt đối tránh tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân, cũng như các bề mặt hoặc vật dụng bị ô nhiễm như quần áo, chăn ga gối đệm.
– Nhân viên phòng thí nghiệm cũng là nhóm nguy cơ cao. Tất cả mẫu bệnh phẩm thu thập từ người và động vật để xét nghiệm Orthoebolavirus phải được xử lý bởi đội ngũ nhân sự đã qua đào tạo và tiến hành tại các phòng thí nghiệm được trang bị đầy đủ thiết bị chuyên dụng.
– WHO khuyến cáo không cần cách ly những bệnh nhân đã phục hồi và có kết quả xét nghiệm máu âm tính với Orthoebolavirus.
Tuy nhiên, người khỏi bệnh có thể phải chịu đựng các di chứng cả về mặt lâm sàng lẫn tâm lý. WHO khuyến khích các quốc gia bị ảnh hưởng xem xét thành lập chương trình chăm sóc y tế để giảm nhẹ di chứng, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng, tư vấn tâm lý và thực hiện các xét nghiệm sinh học cần thiết.
– Khoa học chứng minh rằng Orthoebolavirus vẫn có thể tồn tại ở một số cơ quan đặc quyền miễn dịch trên cơ thể của một số người đã phục hồi. Những vị trí này bao gồm tinh hoàn, bên trong nhãn cầu và não bộ.
– Y học đã ghi nhận những trường hợp tái phát triệu chứng lâm sàng mà không phải do tái nhiễm ở người đã khỏi bệnh. Nguyên nhân của hiện tượng này hiện vẫn chưa được thấu hiểu một cách trọn vẹn.
– Lây truyền virus Ebola qua tinh dịch của người nhiễm bệnh đã được ghi nhận kéo dài tới 15 tháng sau khi phục hồi lâm sàng. Để giảm thiểu nguy cơ này, một chương trình xét nghiệm tinh dịch cần được triển khai nhằm mục tiêu:
– Trong trường hợp không có chương trình xét nghiệm tinh dịch, nam giới đã khỏi bệnh cần tuyệt đối tuân thủ các biện pháp tình dục an toàn trong vòng 12 tháng.
– Ngoài ra, Orthoebolavirus có thể tồn tại trong nhau thai, nước ối và thai nhi của những phụ nữ bị nhiễm bệnh khi đang mang thai, cũng như trong sữa mẹ của phụ nữ đang cho con bú. Do đó, các chương trình chăm sóc người sống sót cần phải bao gồm cả việc chăm sóc toàn diện cho phụ nữ mang thai và cho con bú sau khi họ phục hồi.
Chủ thương hiệu thực phẩm trẻ em HiPP và chuỗi siêu thị SPAR hôm 18/4 thông báo thu hồi toàn bộ sản phẩm hũ ăn dặm HiPP tại 1.500 cửa hàng trên khắp nước Áo, Reuters đưa tin. Theo thông báo từ Cơ quan An toàn Thực phẩm và Sức khỏe Áo (AGES), nhà sản xuất quyết định thực hiện biện pháp phòng ngừa này sau khi xác định lô sản phẩm hỗn hợp cà rốt và khoai tây (HiPP Vegetable Carrot with Potato) loại 190 gram có dấu hiệu bị can thiệp.
Trong thông cáo báo chí chính thức, HiPP, nhà sản xuất thực phẩm trẻ em của Đức - Thụy Sĩ, cho biết không loại trừ khả năng một "chất nguy hiểm" đã được đưa vào sản phẩm do những tác động từ bên thứ ba. Sử dụng các hũ đồ ăn này có thể dẫn đến hậu quả "đe dọa tính mạng".
Nghi vấn hiện chỉ tập trung vào một loại sản phẩm hương vị nhất định. Tuy nhiên để phòng ngừa rủi ro, HiPP quyết định rút toàn bộ dòng sản phẩm hũ thủy tinh khỏi các cửa hàng của chuỗi siêu thị lớn nhất Áo, SPAR.
Người phát ngôn của hệ thống SPAR cho biết đợt thu hồi quy mô lớn này triển khai ở 1.500 cửa hàng của hãng tại Áo và không ảnh hưởng đến chi nhánh tại các quốc gia khác.
Đại diện HiPP nhấn mạnh: "Tình huống nghiêm trọng này liên quan đến một sự can thiệp tội phạm từ bên ngoài ảnh hưởng đến kênh phân phối của SPAR tại Áo". Công ty đồng thời cho biết quy trình sản xuất và đảm bảo chất lượng của hãng vẫn đảm bảo tiêu chuẩn.
Hiện chưa rõ "chất nguy hiểm" là chất gì. HiPP cũng là thực phẩm ăn dặm cho trẻ nhỏ phổ biến ở Việt Nam.
Cảnh sát bang Burgenland, miền Đông nước Áo, đang phối hợp HiPP để điều tra vụ việc và kêu gọi công chúng cung cấp các thông tin liên quan.
Theo cơ quan chức năng, những sản phẩm nghi bị can thiệp có dấu hiệu nhận biết đặc trưng là một nhãn dán màu trắng có vòng tròn màu đỏ dán ở dưới đáy hũ.
Phía hệ thống siêu thị SPAR cũng xác nhận việc thu hồi và cam kết khách hàng có thể trả lại sản phẩm để được hoàn tiền đầy đủ. Phạm vi thu hồi bao gồm tất cả cửa hàng thuộc hệ thống SPAR, Eurospar, Interspar và Maximarkt.
HiPP khuyến cáo phụ huynh tuyệt đối không cho trẻ sử dụng bất kỳ hũ thực phẩm nào đã mua tại hệ thống SPAR trong thời gian này. Tuy nhiên, hãng cũng khẳng định các sản phẩm được bán tại các quốc gia khác hoặc tại hệ thống cửa hàng khác ngoài SPAR vẫn đảm bảo an toàn và không nằm trong diện bị ảnh hưởng. Đồng thời, dòng sản phẩm sữa bột của HiPP cũng không liên quan đến sự cố lần này.
Vụ việc của HiPP xảy ra trong bối cảnh thị trường thực phẩm trẻ em vừa trải qua những đợt rúng động hồi đầu năm. Vào tháng 1 và tháng 2, hai tập đoàn Nestlé và Danone cũng từng phải thu hồi sữa bột tại hơn 60 quốc gia sau khi nhiều trẻ em có triệu chứng ngộ độc do nhiễm độc tố Cereulide, một loại độc tố không bị tiêu diệt bởi nhiệt độ nấu nướng.
Tại Anh, Cơ quan An ninh Y tế (UKHSA) ghi nhận ít nhất 36 trẻ bị ngộ độc thực phẩm do các sản phẩm sữa bột nhiễm khuẩn này và may mắn không có trường hợp nào nguy kịch đến tính mạng.
Chiều 15.6, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi cho biết, các bác sĩ Khoa Nhi hô hấp vừa thực hiện thành công ca nội soi gắp một con đỉa còn sống trong đường thở của một bé gái 8 tuổi, ở xã Thanh Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
Trước đó, vào sáng cùng ngày, bệnh nhi được gia đình đưa đến khám tại Phòng khám Tai Mũi Họng, Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi trong tình trạng khàn tiếng, ho nhiều và khó thở kéo dài.
Qua thăm khám lâm sàng kết hợp nội soi đường thở, các bác sĩ phát hiện một dị vật bất thường nằm sâu trong hệ hô hấp của bệnh nhi. Ngay sau đó, bệnh nhi được hội chẩn với Khoa Nhi hô hấp và chỉ định chuyển phòng mổ để thực hiện nội soi gắp dị vật khẩn cấp.
Trong quá trình nội soi phế quản, ê kíp điều trị phát hiện một con đỉa còn sống nằm tại vị trí carina - ngã ba khí quản, nơi chia đôi thành 2 phế quản trái và phải.
Theo các bác sĩ, hình ảnh nội soi cho thấy con đỉa liên tục co duỗi, di chuyển trong đường thở. Sau khi xác định chính xác vị trí dị vật, ê kíp đã tiến hành gắp thành công con đỉa ra ngoài. Dị vật được lấy ra có chiều dài hơn 12 cm.
Bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Duy Thám, Trưởng khoa Nhi hô hấp, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi, cho biết đây là trường hợp dị vật đường thở đặc biệt nguy hiểm.
"Nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời, con đỉa có thể tiếp tục hút máu, phát triển kích thước, gây bít tắc đường thở, dẫn đến suy hô hấp nặng, thậm chí đe dọa tính mạng bệnh nhi", bác sĩ Thám cho biết.
Theo người nhà bệnh nhi, trước đó cháu bé từng đi tắm suối và có uống nước suối. Đây có thể là nguyên nhân khiến đỉa xâm nhập vào đường hô hấp, sau đó bám lại và phát triển trong cơ thể.
Các bác sĩ khuyến cáo, phụ huynh cần đặc biệt lưu ý khi cho trẻ vui chơi, tắm suối hoặc sử dụng nguồn nước tự nhiên chưa qua xử lý. Khi trẻ xuất hiện các triệu chứng bất thường kéo dài như ho dai dẳng, khàn tiếng, khó thở, ho ra máu hoặc cảm giác vướng ở cổ họng sau khi tiếp xúc với nguồn nước suối, ao hồ, cần nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế để được thăm khám và xử trí kịp thời, tránh những biến chứng nguy hiểm.
Ngày 5-4, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM cho biết việc sử dụng rượu, bia có liên quan đến hơn 230 loại bệnh tật và chấn thương. Đáng chú ý, không có mức tiêu thụ rượu, bia nào được xem là an toàn cho sức khỏe.
Theo các chuyên gia, việc nhận diện sớm và can thiệp kịp thời đối với nhóm có nguy cơ cao là giải pháp then chốt nhằm hạn chế những hệ lụy về sức khỏe và xã hội. Do đó, phát hiện sớm người uống rượu, bia ở mức nguy cơ cao đóng vai trò quan trọng trong công tác dự phòng và giảm thiểu tác hại.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), những người có điểm từ 8-15 theo bộ công cụ sàng lọc AUDIT (Alcohol Use Disorders Identification Test) được xếp vào nhóm uống rượu, bia ở mức nguy cơ cao. Ở mức này, dù chưa xuất hiện biểu hiện bệnh lý rõ rệt, người uống đã phải đối mặt với nguy cơ tai nạn, hành vi bạo lực và suy giảm hiệu suất lao động.
Nếu tình trạng này kéo dài, nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như ung thư và tim mạch sẽ gia tăng. Các chuyên gia khuyến cáo biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ sức khỏe là ngừng uống rượu, bia.
Trong trường hợp chưa thể dừng hoàn toàn, cần giảm mức tiêu thụ. Cụ thể, nam giới không quá 2 đơn vị cồn mỗi ngày, nữ giới không quá 1 đơn vị mỗi ngày và không uống quá 5 ngày trong tuần. Một đơn vị cồn tương đương khoảng 3/4 lon bia 330ml (5%), 100ml rượu vang (13,5%) hoặc 40ml rượu mạnh (30%).
Tổng công ty Viglacera (VGC) vừa công bố tài liệu phục vụ Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 sẽ diễn ra vào cuối tháng 4 tại Hà Nội.
Theo đó, doanh nghiệp đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất năm 2026 đạt trên 15.300 tỉ đồng, tăng khoảng 15% so với kết quả thực hiện năm 2025.
Dù dự kiến doanh thu tăng nhưng Viglacera lại đặt kế hoạch lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 1.820 tỉ đồng, giảm hơn 17% so với năm trước.
Viglacera đại hội đồng cổ đông ủy quyền cho hội đồng quản trị "hết quý 2 hoặc quý 3-2026, trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh 6 hoặc 9 tháng năm 2026, dự kiến các yếu tố ảnh hưởng, xem xét thông qua/phê duyệt điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư năm 2026 đảm bảo tỉ lệ chia cổ tức tối thiểu theo kế hoạch đã thông qua".
Trường hợp quyết định thông qua phê duyệt điều chỉnh kế hoạch năm 2026, hội đồng quản trị có trách nhiệm công bố thông tin theo quy định pháp luật và báo cáo việc điều chỉnh kế hoạch năm 2026 tại cuộc họp đại hội đồng cổ đông gần nhất của doanh nghiệp.
Ngày 5-4, Bệnh viện Bạch Mai và Siemens Healthineers đã ký biên bản ghi nhớ, thúc đẩy ứng dụng công nghệ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến, đặc biệt là hệ thống chụp cắt lớp vi tính lượng tử (CT đếm photon) Naeotom Alpha.
Hệ thống Naeotom Alpha là hệ thống CT đếm photon đầu tiên trên thế giới được FDA Hoa Kỳ chứng nhận về tính an toàn và hiệu quả trong ứng dụng lâm sàng. Khác với CT truyền thống, CT đếm photon có thể loại bỏ nhiễu tín hiệu điện từ, phân tích hình ảnh chụp ở mức độ cao hơn, hỗ trợ phát hiện tổn thương rất nhỏ, đặc biệt trong các bệnh lý tim mạch, thần kinh và ung bướu.
Thiết bị này cũng mang lại hiệu quả chụp nhanh, độ phân giải cao, tối ưu hóa liều tia và giảm lượng thuốc cản quang. Đây là các tính năng cần thiết, nhất là với trường hợp bệnh nhân cần chụp nhiều lần, trẻ em. Bạch Mai cho biết 2 hệ thống này được đưa vào sử dụng tại bệnh viện đúng dịp kỷ niệm 115 năm ngày bệnh viện đi vào hoạt động và đây cũng là bệnh viện công lập đầu tiên ở Việt Nam lắp đặt CT đếm photon trong chẩn đoán hình ảnh.
Ngày 5-4, Bộ Y tế và đài truyền hình VTV phối hợp tổ chức chương trình "Nhân dân khỏe mạnh - Đất nước phát triển". Đây là hoạt động nhằm hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7-4, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị.
Phát biểu khai mạc chương trình, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh Nghị quyết 72 thể hiện tầm nhìn chiến lược, chuyển mạnh từ tư duy chăm sóc sức khỏe từ khám chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh, lấy phòng bệnh làm ưu tiên hàng đầu, lấy người dân làm trung tâm và huy động sự tham gia của toàn xã hội trong xây dựng hệ thống y tế công bằng, hiệu quả, hiện đại.
Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cũng kêu gọi Bộ Y tế cùng các bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, đồng thời tăng cường giáo dục thể chất, dinh dưỡng học đường, đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể và xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khỏe người dân.