Như tuyên bố trước đó của Tổng thống Trump, Mỹ hôm qua 3.4 tiếp tục tấn công mạnh mẽ nhằm vào Iran khi đánh sập hoàn toàn cây cầu lớn nhất của nước này. Chủ nhân Nhà Trắng cảnh báo sẽ còn nhiều diễn biến nữa, đồng thời đe dọa hủy các nhà máy điện của đối phương.
Ngược lại, Hãng thông tấn Tasnim dẫn thông báo từ Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cùng ngày tuyên bố đã bắn rơi thêm một máy bay tiêm kích thế hệ 5 tàng hình F-35 của Mỹ. Tasnim đăng tải nhiều hình ảnh được cho là chụp mảnh vỡ máy bay, nhưng giới phân tích cho rằng hình ảnh đó có thể là của dòng chiến đấu cơ F-15. Phía Mỹ chưa lên tiếng phản hồi về thông báo của IRGC.
Giữa tình hình chiến sự vẫn leo thang, 2 chuyên gia Heather Williams và Joseph Rodgers, thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), đánh giá Tổng thống Trump thực tế cần một lối thoát nhanh chóng và giữ thể diện để giải quyết vấn đề hạt nhân nếu ông muốn đạt được các mục tiêu của mình như đã nêu trong bài phát biểu ngày 1.4.
Quay lại tháng 6.2025, Mỹ và Israel tiến hành chiến dịch quân sự “Búa nửa đêm” và “Sư tử trỗi dậy” để tấn công vào các cơ sở hạt nhân Fordow và Isfahan của Iran. Sau cuộc tấn công, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth tự tin tuyên bố “tham vọng hạt nhân của Iran đã bị xóa sổ”. Nhưng thực tế, cuộc tấn công khi đó được cho là chỉ phá hủy một số máy ly tâm, thiết bị và cơ sở vật chất, còn các chi tiết quan trọng về chương trình hạt nhân vẫn chưa rõ bị thiệt hại thế nào.
Quan trọng nhất, kho dự trữ uranium được cho là đã làm giàu đến 60% của Iran ở đâu? Theo Tổng giám đốc Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) Rafael Grossi phát biểu vào ngày 9.3, kho dự trữ hạt nhân đang ở 2 địa điểm: khu phức hợp đường hầm ngầm Isfahan, cùng với Natanz.
Liên quan vấn đề này, một câu hỏi khác là tình trạng thiết bị hạt nhân và chuyên môn của Iran. Sau chiến dịch “Sư tử trỗi dậy”, đại diện Israel còn tiết lộ nước này đã ám sát 14 nhà khoa học hàng đầu của Iran và tấn công các cơ sở sản xuất máy ly tâm trên khắp nước này. Nhưng dường như Iran vẫn duy trì một số năng lực hạt nhân, vận hành một số lò phản ứng nghiên cứu và điện hạt nhân. Ngoài ra, có thể có các máy ly tâm khác thực tế được cất giữ thành công ở các cơ sở ngầm để tiếp tục chương trình hạt nhân bí mật.
Nhiều thông tin gần đây cho thấy Tổng thống Trump đang xem xét triển khai quân đội để chiếm giữ hoặc phá hủy kho dự trữ 440,9 kg uranium làm giàu 60% của Iran. Nếu dùng giải pháp quân sự, ông Trump có thể có 3 chọn lựa.
Thứ nhất, Lầu Năm Góc có thể chọn tiến hành một chiến dịch không kích kéo dài nhằm phá hủy các cơ sở ngầm. Đây là lựa chọn ít rủi ro nhất về mặt chính trị vì không dùng đến lực lượng mặt đất. Nhưng đây cũng là chọn lựa khó thành công nhất. Trong chiến dịch “Búa nửa đêm” hồi tháng 6.2025, Mỹ đã dùng vũ khí “phá boongke”, nhưng kết quả dường như chỉ khiến vật liệu hạt nhân của Iran bị vùi lấp dưới đất chứ không bị phá hủy. Nên với chọn lựa này, sau tấn công, Mỹ và Israel sẽ phải liên tục theo dõi các địa điểm bị tấn công và sẵn sàng tiếp tục tấn công nếu Iran tìm cách phục hồi cơ sở.
Lựa chọn thứ hai là tiến hành đột kích các cơ sở mục tiêu để phá hủy vật liệu cùng thiết bị từ bên trong. Chọn lựa này đòi hỏi một lực lượng viễn chinh lớn để bảo vệ một vành đai xung quanh các cơ sở, các đội phá hủy để phá vỡ các lối vào đường hầm bị chôn vùi và các đội phá hủy cơ sở. Mỗi nhân lực đều phải trang bị các thiết bị chuyên dụng. Khi cho nổ từ bên trong, Iran khó có thể phục hồi vật liệu hạt nhân. Nhưng nếu không có kiểm chứng hiệu quả, thì không có gì đảm bảo rằng tất cả các vật liệu phân hạch đã bị phá hủy.
Lựa chọn thứ ba là tấn công phá vỡ các lối vào đường hầm, xác định và loại bỏ vật liệu hạt nhân, rồi vận chuyển ra khỏi Iran. Muốn làm được điều này, Mỹ cần huy động lực lượng khổng lồ cả binh sĩ chiến đấu lẫn hậu cần, triển khai máy bay vận chuyển hàng hóa và nhiều phương tiện cần thiết để đưa vật liệu ra khỏi Iran. Chiến dịch như vậy được các chuyên gia quân sự mô tả là “đặc biệt phức tạp nhất trong lịch sử”. Không những vậy, chọn lựa này cũng đầy rủi ro.
Tất nhiên, vẫn có thể có những giải pháp ngoại giao nhưng cũng không hề dễ dàng, bởi sau những gì đã xảy ra với Iran, thể chế cầm quyền nước này nhiều khả năng càng quyết tâm sở hữu vũ khí hạt nhân để phòng ngừa các rủi ro trong tương lai.
Thế Giới
Phát biểu lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka

Ngày 8-5, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước đầu tiên đến Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã phát biểu tại Quốc hội Sri Lanka. Sự kiện, theo chia sẻ của Chủ tịch Quốc hội Sri Lanka Jagath Wickramaratne, có ý nghĩa lịch sử, truyền cảm hứng không chỉ cho Quốc hội và các nghị sĩ Sri Lanka mà còn chứa đựng nhiều chia sẻ về kinh nghiệm quý cho đất nước này.
Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Quốc hội Sri Lanka.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội, Tiến sĩ Jagath Wickramaratne,
Thưa các vị nghị sĩ Quốc hội Sri Lanka,
Thưa toàn thể quý vị và các bạn,
Hôm nay, tôi rất vinh dự được phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, cơ quan lập pháp tối cao, nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Sri Lanka. Thay mặt Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, tôi xin gửi tới Ngài Chủ tịch Quốc hội, các vị nghị sĩ và toàn thể Nhân dân Sri Lanka lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và tình hữu nghị chân thành nhất.
Tôi trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tôi chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của Nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Thưa quý vị và các bạn,
Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của Nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng xúc động của tình cảm mà Nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với Nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì". Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của Nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc chúng ta đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21-7-1970, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka đã trải qua hơn nửa thế kỷ vun đắp. Năm ngoái, hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng thống Anura Kumara Dissanayake đã thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và tham dự Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tại TP.HCM.
Những sự kiện đó cho thấy quan hệ hai nước không chỉ được xây dựng bằng văn kiện ngoại giao, mà còn bằng sự hiểu biết, sự tin cậy và tình cảm chân thành giữa Nhân dân hai nước.
Hôm nay, tại Quốc hội Sri Lanka, tôi muốn chia sẻ với quý vị về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua.
Gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Đất nước vừa trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, nền kinh tế trì trệ, đời sống Nhân dân thiếu thốn, nguồn lực phát triển rất hạn hẹp. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới.
Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Chúng tôi nhận thức rằng để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của Nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy các thành phần kinh tế; bảo đảm vai trò quản lý, định hướng và kiến tạo phát triển của Nhà nước; đồng thời tôn trọng quy luật thị trường, khuyến khích cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Trong nông nghiệp, Việt Nam trao quyền nhiều hơn cho người nông dân, khơi thông năng lực sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, từng bước chuyển từ tình trạng thiếu ăn sang tự chủ lương thực và trở thành một trong những quốc gia có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nông sản.
Trong công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam mở cửa thu hút đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành các khu công nghiệp, khu kinh tế, thúc đẩy thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
Về đối ngoại, Việt Nam kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Từ thực tiễn ấy, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, thể hiện qua các con số thống kê về kinh tế, xã hội (từ chỗ thiếu lương thực và nằm trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nằm trong số 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới với quy mô GDP năm 2025 đạt mức 514 tỉ USD, GDP đầu người trên 5.000 USD/năm; là một trong 15 quốc gia có quy mô thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, tham gia trên 20 hiệp định thương mại tự do, kết nối với hơn 60 nền kinh tế quan trọng trên thế giới...).
Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thức sâu sắc rằng Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Năng suất lao động cần tiếp tục nâng cao; chất lượng tăng trưởng phải được cải thiện; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng và những biến động của thương mại toàn cầu đặt ra nhiều yêu cầu mới. Những kết quả đã đạt được không làm chúng tôi tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm mà chúng tôi cho rằng có thể có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ nhất, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh.
Độc lập, tự chủ là nền tảng để mỗi quốc gia bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình. Nhưng tự chủ không có nghĩa là khép kín. Tự chủ là có đủ bản lĩnh, năng lực và niềm tin để hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và cùng có lợi.
Việt Nam luôn coi nội lực là quyết định, nhưng ngoại lực là quan trọng. Nội lực là con người, thể chế, văn hoá, truyền thống, khát vọng và sức sáng tạo của Nhân dân. Ngoại lực là tri thức, thị trường, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và hợp tác quốc tế. Sức mạnh của phát triển nằm ở khả năng kết hợp hài hòa giữa hai nguồn lực đó.
Hội nhập quốc tế mở ra cánh cửa rất lớn, nhưng năng lực nội sinh vẫn mang tính quyết định. Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng không đủ. Phát triển bền vững đòi hỏi phải nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, chất lượng nguồn nhân lực, công nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị, đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Việt Nam đang nỗ lực chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động và tài nguyên sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chất lượng nguồn nhân lực.
Thứ hai, phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển; đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế.
Phát triển bền vững cần một nền tảng pháp lý ổn định, minh bạch, công bằng và có khả năng thích ứng với thay đổi. Nếu Chính phủ mở đường bằng chính sách, thì Quốc hội bảo đảm con đường ấy được soi sáng bởi pháp luật, trách nhiệm giải trình và ý chí của Nhân dân.
Ở Việt Nam, Quốc hội có vai trò rất quan trọng trong thể chế hóa đường lối phát triển, ban hành pháp luật, quyết định các vấn đề lớn của đất nước, giám sát hoạt động của Nhà nước và phản ánh nguyện vọng của Nhân dân. Hôm nay phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, tôi càng thấy rõ hơn vai trò của các cơ quan lập pháp trong việc tạo dựng niềm tin, thúc đẩy cải cách và bảo đảm phát triển bao trùm.
Một chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến trong một lĩnh vực. Nhưng một tư duy phát triển đúng có thể mở ra con đường cho cả quốc gia. Đổi mới ở Việt Nam không chỉ là thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là thay đổi cách nhìn về phát triển, về vai trò của Nhà nước, thị trường, người dân và doanh nghiệp.
Chúng tôi vừa làm vừa tổng kết, vừa thí điểm vừa nhân rộng, không nóng vội, không cực đoan, nhưng kiên trì đổi mới. Bài học của Việt Nam là phải xuất phát từ thực tiễn đất nước mình, tôn trọng quy luật khách quan, đồng thời biết học hỏi kinh nghiệm quốc tế một cách chọn lọc, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Thứ ba, lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển.
Phát triển không chỉ là tăng trưởng GDP. Phát triển phải được đo bằng cuộc sống tốt hơn của người dân, bằng cơ hội học tập của trẻ em, bằng việc làm ổn định của người lao động, bằng sự an toàn của cộng đồng và bằng niềm tin của Nhân dân.
Với quan điểm "dân là gốc", Việt Nam luôn gắn tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, phát triển nông thôn và nâng cao chất lượng sống. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà còn là chủ thể sáng tạo, người tham gia và người làm chủ tiến trình phát triển.
Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn, nhưng một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân cảm thấy họ là người thụ hưởng, người tham gia và người làm chủ của tiến trình phát triển ấy.
Thứ tư, coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Đối với nhiều quốc gia đang phát triển, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế. Nông nghiệp còn gắn với an ninh lương thực, sinh kế của hàng triệu người dân, ổn định xã hội, văn hóa cộng đồng và khả năng chống chịu trước khủng hoảng.
Việt Nam bắt đầu nhiều bước đổi mới từ nông nghiệp và nông thôn. Từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi nhận thấy rằng bảo đảm sinh kế của nông dân, phát triển hạ tầng nông thôn, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, chế biến sâu, giảm thất thoát sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và thích ứng với biến đổi khí hậu là những trụ cột rất quan trọng của phát triển bền vững.
Thế giới đang thay đổi rất nhanh. Khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho mọi quốc gia.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống Nhân dân; xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chúng tôi hiểu rõ khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn.
Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka: làm thế nào để phát triển nhanh hơn nhưng bền vững hơn; hiện đại hơn nhưng bao trùm hơn; hội nhập sâu hơn nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.
Mỗi quốc gia có lịch sử, văn hóa, điều kiện, nguồn lực và lựa chọn phát triển riêng. Điều chúng tôi mong muốn chia sẻ là hành trình mà chúng tôi đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, chúng tôi mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tôi vui mừng thông báo với Quốc hội và Nhân dân Sri Lanka rằng trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Với khuôn khổ quan hệ mới này, chúng ta có điều kiện thuận lợi hơn để làm sâu sắc hợp tác chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, giáo dục, văn hoá, du lịch, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và phối hợp đa phương.
Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số hướng hợp tác lớn.
Thứ nhất, tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện.
Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương.
Đặc biệt, Quốc hội hai nước có thể tăng cường trao đổi kinh nghiệm về lập pháp, giám sát, cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động nghị viện, xây dựng pháp luật phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ nhóm yếu thế, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo cơ hội cho thanh niên. Việt Nam mong muốn hai Quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Thứ hai, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.
Hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Sri Lanka còn nhiều dư địa. Hai nước có thị trường, sản phẩm, vị trí địa lý và năng lực bổ trợ cho nhau. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Hai bên đã thống nhất mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương lên 1 tỉ USD trong tương lai gần; đồng thời khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại.
Mục tiêu 1 tỉ USD không chỉ là một con số. Đó là biểu tượng cho niềm tin mới, động lực mới và không gian hợp tác mới giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Tôi đề nghị các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hóa các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Các lĩnh vực có thể ưu tiên gồm nông nghiệp, chế biến thực phẩm, sản xuất, năng lượng tái tạo, linh kiện điện tử và ô tô, dược phẩm, bệnh viện, viễn thông, logistics, hạ tầng, du lịch, dịch vụ và công nghệ thông tin. Đây là những lĩnh vực mà Sri Lanka đã bày tỏ quan tâm thu hút đầu tư và hợp tác với Việt Nam.
Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn.
Nông nghiệp là lĩnh vực rất gần gũi với cả hai quốc gia. Việt Nam sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với Sri Lanka như tinh thần Tuyên bố chung năm 2025. Tôi tin rằng hợp tác nông nghiệp giữa hai nước không chỉ tạo thêm giá trị kinh tế, mà còn góp phần bảo đảm an ninh lương thực, sinh kế cho người dân nông thôn, thích ứng biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bao trùm.
Thứ tư, phát triển các động lực hợp tác mới: kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh.
Sri Lanka có vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, là điểm kết nối quan trọng của các tuyến hàng hải quốc tế. Việt Nam là quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, đang thúc đẩy chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững. Hai nước có thể hợp tác trong logistics, cảng biển, vận tải, thương mại hàng hải, bảo vệ môi trường biển, ứng phó thiên tai và phát triển kinh tế biển xanh.
Hai bên cũng có thể đẩy mạnh hợp tác trong chuyển đổi số, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, chính phủ số, dịch vụ công số, giáo dục số, y tế số, năng lượng tái tạo và tài chính xanh. Hai nước đã cam kết hợp tác trong khai thác các công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và chuyển đổi số, phục vụ phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý. Trí tuệ, công nghệ, sáng tạo và dữ liệu có thể trở thành những cây cầu mới nối liền Việt Nam và Sri Lanka.
Thứ năm, tăng cường giáo dục, văn hoá, du lịch và giao lưu Nhân dân.
Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thật sự bền chặt khi được nuôi dưỡng không chỉ bằng thỏa thuận và văn kiện, mà bằng sự hiểu biết, giao lưu và tình cảm của người dân hai nước.
Việt Nam và Sri Lanka có nhiều điều kiện để phát triển du lịch văn hóa, du lịch Phật giáo, du lịch di sản, du lịch biển và du lịch sinh thái. Hai bên đã nhất trí tầm quan trọng của kết nối hàng không và khuyến khích các hãng hàng không sớm mở đường bay trực tiếp; đồng thời thúc đẩy các biện pháp tạo thuận lợi cho du lịch, kinh doanh và giao lưu Nhân dân.
Hai nước cũng cần tăng cường trao đổi sinh viên, học giả, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, doanh nghiệp trẻ; mở rộng học bổng; thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu; tổ chức các tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Sri Lanka và Sri Lanka tại Việt Nam. Việt Nam trân trọng việc Sri Lanka sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm về khảo cổ học, bảo tồn di sản văn hóa; đồng thời Việt Nam cũng mong muốn tăng cường hợp tác trong nghiên cứu Phật giáo, văn hóa và lịch sử giữa hai nước.
Tôi cũng mong Quốc hội, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam tại Sri Lanka ổn định cuộc sống, hội nhập tốt với xã hội sở tại và đóng góp tích cực cho quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc.
Thứ sáu, phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Trong một thế giới đầy biến động, các quốc gia đang phát triển cần tăng cường đoàn kết, hợp tác và tiếng nói chung. Việt Nam và Sri Lanka cùng coi trọng chủ nghĩa đa phương, luật pháp quốc tế, vai trò của Liên hợp quốc, Phong trào Không liên kết và các cơ chế hợp tác khu vực.
Hai nước cần tiếp tục phối hợp trong các vấn đề cùng quan tâm như hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải; chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, tội phạm mạng, nhập cư bất hợp pháp; tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; ứng phó biến đổi khí hậu; thúc đẩy tài chính khí hậu cho các quốc gia đang phát triển; và thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Tuyên bố chung năm 2025 cũng khẳng định tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việt Nam hoan nghênh định hướng của Sri Lanka tăng cường hợp tác với Đông Nam Á và ASEAN. Việt Nam sẵn sàng làm cầu nối để Sri Lanka mở rộng hợp tác với ASEAN; đồng thời mong muốn Sri Lanka tiếp tục là cầu nối để Việt Nam tăng cường quan hệ với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương.
Các quốc gia vừa và nhỏ không tìm kiếm sức mạnh bằng đối đầu. Chúng ta tìm kiếm sức mạnh bằng đoàn kết, bằng luật pháp quốc tế, bằng năng lực tự cường, bằng chất lượng quản trị, bằng niềm tin của Nhân dân và bằng sự tin cậy giữa các dân tộc.
Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình, bởi chúng tôi đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập, bởi chúng tôi đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển, bởi chúng tôi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của Nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có Nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho Nhân dân hai nước.
Tôi tin tưởng rằng với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Thưa Ngài Chủ tịch Quốc hội,
Thưa các vị nghị sĩ,
Từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, chúng ta có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, Nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Chúc Quốc hội Sri Lanka tiếp tục là biểu tượng của ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân Sri Lanka.
Chúc Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân Sri Lanka hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và thịnh vượng.
Chúc quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Sri Lanka không ngừng phát triển, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới.
Trân trọng cảm ơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Ông John Ternus sẽ chính thức đảm nhiệm vị trí CEO Apple từ ngày 1-9, kế nhiệm ông Tim Cook, người dự kiến chuyển sang vai trò Chủ tịch điều hành hội đồng quản trị.
Trong giai đoạn chuyển giao, ông Cook vẫn giữ vai trò CEO đến hết mùa hè để đảm bảo quá trình chuyển giao kế nhiệm diễn ra suôn sẻ.
Phát biểu về người kế nhiệm, ông Cook ca ngợi ông Ternus là người có "tư duy của một kỹ sư, tâm hồn của một nhà đổi mới và trái tim của một nhà lãnh đạo chính trực".
Bản thân ông Ternus cũng nhấn mạnh rằng bản thân "may mắn khi được làm việc dưới thời Steve Jobs và được Tim Cook dìu dắt", coi đây là cơ hội để tiếp tục sứ mệnh của Apple.
Ở tuổi 51, ông John Ternus hiện là Phó chủ tịch cấp cao phụ trách kỹ thuật phần cứng - vị trí giúp ông đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển hầu hết các sản phẩm quan trọng của Apple.
Gia nhập Apple từ năm 2001, ông đã tham gia hoặc giám sát kỹ thuật cho gần như toàn bộ danh mục sản phẩm hiện tại, từ iPhone, iPad, Mac đến AirPods.
Ông cũng đóng vai trò then chốt trong quá trình ứng dụng chip Apple Silicon thay cho chip Intel vào năm 2020 cho các dòng máy Mac - bước đi giúp cải thiện hiệu năng và thúc đẩy doanh số, theo báo Wall Street Journal.
Dưới sự dẫn dắt của ông, nhiều sản phẩm mới ra đời như Apple Watch và AirPods đã phát triển thành các mảng kinh doanh lớn, trong khi Vision Pro - kính thực tế ảo - cho thấy tham vọng mở rộng sang các lĩnh vực công nghệ mới.
Không chỉ làm việc ở hậu trường, ông Ternus còn là gương mặt quen thuộc tại các sự kiện ra mắt sản phẩm của Apple, trực tiếp giới thiệu nhiều thiết bị quan trọng và tham gia định hình lộ trình sản phẩm của công ty.
Sinh ra tại California, ông Ternus tốt nghiệp cử nhân kỹ thuật cơ khí tại Đại học Pennsylvania năm 1997. Trong thời gian học, ông không chỉ nổi bật về học thuật, mà còn là vận động viên bơi lội xuất sắc của trường.
Sau khi ra trường, ông làm việc tại Virtual Research Systems - một start-up về thực tế ảo, chuyên phát triển kính VR và công nghệ nhập vai.
Kinh nghiệm này sau đó trở thành nền tảng quan trọng khi ông tham gia phát triển các sản phẩm như Vision Pro của Apple.
Gia nhập Apple vào thời điểm công ty đang trong giai đoạn chuyển mình dưới sự trở lại của Chủ tịch Steve Jobs, ông Ternus từng bước thăng tiến từ một kỹ sư thiết kế sản phẩm lên Phó chủ tịch phụ trách kỹ thuật phần cứng (2013), trước khi gia nhập đội ngũ điều hành cấp cao vào năm 2021.
Giới quan sát mô tả ông Ternus là một kỹ sư cơ khí thân thiện, có phong cách quản lý điềm tĩnh, giống với ông Tim Cook hơn là cá tính mạnh mẽ và đôi khi khó đoán của Steve Jobs.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của ông trong Apple đã vượt xa vai trò kỹ thuật. Ông tham gia sâu vào các quyết định chiến lược, từ lộ trình sản phẩm đến các tính năng và định hướng phát triển dài hạn.
Việc Apple dần "đưa Ternus ra ánh sáng" trong những năm gần đây cũng được xem là dấu hiệu chuẩn bị cho quá trình chuyển giao quyền lực này.
Ở độ tuổi tương đương với Tim Cook khi lên làm CEO năm 2011, ông Ternus được kỳ vọng có thể dẫn dắt công ty trong một thập kỷ hoặc hơn - yếu tố quan trọng với doanh nghiệp đề cao sự ổn định lãnh đạo như Apple.
Dù kế thừa một Apple đang ở đỉnh cao với lợi nhuận hơn 100 tỉ USD mỗi năm và giá trị vốn hóa lên tới 4.000 tỉ USD, ông Ternus vẫn đối mặt với không ít thách thức.
Áp lực lớn nhất nằm ở lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), nơi Apple bị đánh giá là chậm chân so với các đối thủ tại Thung lũng Silicon.
Ông sẽ phải tiếp quản kế hoạch nâng cấp trợ lý ảo Siri, đồng thời tìm cách tạo ra các sản phẩm AI mang tính biểu tượng cho người dùng đại chúng.
Việc lựa chọn một CEO có nền tảng kỹ thuật như ông Ternus cũng cho thấy Apple có thể đang đặt cược vào đổi mới công nghệ, thay vì chỉ tập trung vào vận hành và dịch vụ như giai đoạn dưới thời Tim Cook.
Câu hỏi lớn đặt ra là liệu ông Ternus sẽ tiếp tục con đường tăng trưởng ổn định, hay đưa Apple bước vào một chu kỳ đổi mới mạnh mẽ hơn - trong bối cảnh công ty cần tìm kiếm "cú hích tiếp theo" sau iPhone?
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thế Giới
Mỹ tính đổi tên chiến dịch tấn công Iran nếu thỏa thuận ngừng bắn đổ vỡ, nguy cơ chiến sự tái diễn

Ngày 13-5, NBC News dẫn lời quan chức Mỹ tiết lộ Lầu Năm Góc đang cân nhắc đổi tên xung đột với Iran từ Chiến dịch Cuồng nộ (Epic Fury) thành Chiến dịch Búa tạ (Operation Sledgehammer), trong trường hợp thỏa thuận ngừng bắn Mỹ - Iran sụp đổ và Tổng thống Donald Trump quyết định nối lại tấn công.
Động thái này cho thấy chính quyền Trump đang cân nhắc nghiêm túc khả năng nối lại cuộc chiến với Iran.
Chính quyền Trump đã tuyên bố chấm dứt Chiến dịch Cuồng nộ sau khi Mỹ và Iran đồng ý ngừng bắn vào đầu tháng 4 để theo đuổi đàm phán ngoại giao. Tuy nhiên Lầu Năm Góc vẫn tiếp tục gọi xung đột với Iran dưới tên Epic Fury trong các bản cập nhật công khai.
Một quan chức Lầu Năm Góc cho biết Chiến dịch Cuồng nộ thực tế vẫn tiếp diễn, lệnh ngừng bắn chỉ đơn giản là tạm dừng các hoạt động tác chiến quy mô lớn.
Trong khi đó, một quan chức Nhà Trắng lại cho biết nếu chiến sự tái diễn, mọi hoạt động quân sự mới sẽ được triển khai dưới một tên chiến dịch hoàn toàn khác.
Đây sẽ là cơ sở để ông Trump cho rằng thời hạn 60 ngày - thời hạn mà Đạo luật Quyền hạn chiến tranh năm 1973 quy định tổng thống phải có sự phê chuẩn của Quốc hội để tiếp tục hành động quân sự - sẽ được tính lại từ đầu.
Theo đạo luật này, tổng thống Mỹ phải thông báo Quốc hội trong vòng 48 giờ kể từ khi các hoạt động tác chiến bắt đầu, nếu không quân đội phải rút trong vòng 60 ngày, hoặc phải được Quốc hội phê chuẩn tiếp tục hành động quân sự.
Chính quyền Trump cho rằng ngưỡng 60 ngày chưa bị chạm tới do các hoạt động tấn công trong Chiến dịch Cuồng nộ đã bị tạm dừng sau 40 ngày.
Trên thực tế, Mỹ và Iran gần đây đã nhiều lần nổ súng vào nhau, do Tehran muốn ngăn tàu thuyền di chuyển qua eo biển Hormuz, còn Washington tiếp tục phong tỏa hải quân với các cảng của Iran.
Một quan chức Mỹ nói rằng ông Trump đang cân nhắc nhiều phương án nhằm mở lại eo biển này, song ông chưa ra lệnh cho quân đội Mỹ nối lại hoạt động chiến đấu quy mô lớn.
"Phong tỏa đang tạo không gian cho các quyết định mà không cần tác chiến lớn hay đặt quá nhiều người vào nguy hiểm. Hiện trạng này sẽ không kéo dài", vị quan chức này nói.
Cách đây vài ngày, Iran đã gửi đề xuất mới nhằm chấm dứt chiến sự, tuy nhiên ông Trump nhanh chóng chỉ trích đề xuất là "hoàn toàn không thể chấp nhận được" và cảnh báo lệnh ngừng bắn hiện tại là rất mong manh. Một trong những bất đồng lớn là việc ông kiên quyết không để Iran sở hữu vũ khí hạt nhân.
Ông Trump khi đó cho biết dự kiến sẽ thảo luận về vấn đề Iran với "một nhóm lớn các tướng lĩnh".
Các quan chức Mỹ tiết lộ trong ngày 11-5, Ngoại trưởng Marco Rubio - cố vấn an ninh quốc gia lâm thời, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Dan Caine, Bộ trưởng Chiến tranh (Quốc phòng) Pete Hegseth và các quan chức khác đã nhóm họp để bàn về các lựa chọn tiếp theo liên quan Iran, gồm cả căng thẳng quanh eo biển Hormuz.
Trong khi đó vào hồi tháng 4, một quan chức Nhà Trắng cho biết chuyến thăm Trung Quốc của ông Trump (từ ngày 13 đến 15-5) là một trong những yếu tố góp phần vào quyết định có nối lại chiến sự với Iran hay không.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

