Những con đường rộng mở, những ngôi nhà cao tầng khang trang, thậm chí cả biệt thự mọc lên san sát ở thôn Nam Mới, xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh khiến nhiều người không khỏi bất ngờ khi trở lại vùng quê ven biển này. Vài chục năm trước, nơi đây vẫn còn là một làng chài nghèo, người dân chủ yếu sống bằng nghề đi biển, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
Sự đổi thay ấy đến từ những dòng tiền gửi về của hàng nghìn lao động đang làm việc tại nước ngoài. Tuy nhiên, phía sau những ngôi nhà tiền tỷ ấy, điều còn thiếu lại là những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất hay mô hình kinh doanh đủ lớn để tạo thêm việc làm và động lực phát triển bền vững cho địa phương.
Câu chuyện của một làng quê ven biển Hà Tĩnh cũng phản ánh bài toán lớn đang đặt ra với nguồn kiều hối hàng chục tỷ USD mỗi năm của Việt Nam: Làm thế nào để dòng tiền này không chỉ phục vụ tiêu dùng, tích trữ mà thực sự trở thành nguồn lực cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế?
Bà Hoàng Thị Thành (57 tuổi, trú tại thôn Nam Mới) cho biết, hiện chồng và 4 người con của bà đang làm việc tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Người làm lâu nhất đã hơn chục năm, mỗi tháng gửi về khoảng 1.000 – 2.000 USD.
“Trong làng, hầu như gia đình nào cũng có người đi làm việc tại nước ngoài, có nhiều nhà 2-3 người. Một người sang làm ăn khấm khá rồi đầu tư cho người thân, anh em, họ hàng sang theo. Dần dần cả làng cùng đi xuất khẩu lao động mới thay đổi được cuộc sống như hiện nay”, bà Thành chia sẻ.
Dạo quanh các tuyến đường trong thôn Nam Mới hôm nay, không khó để bắt gặp những căn nhà cao tầng, biệt thự khang trang không thua kém khu vực đô thị. Tuy nhiên, ngoài một nhà hàng sinh thái ven biển, địa phương gần như chưa có nhiều doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất được hình thành từ nguồn tiền tích lũy của người lao động.
Trao đổi với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Quốc Toàn – Chánh Văn phòng UBND xã Cổ Đạm (Hà Tĩnh) cho biết, không chỉ thôn Nam Mới mà nhiều làng quê tại địa phương đã “thay da đổi thịt” nhờ nguồn thu nhập, tích lũy của người lao động đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài gửi về cho gia đình.
Xã Cổ Đạm hiện được hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 đơn vị cũ gồm xã Cương Gián, Xuân Liên và Cổ Đạm, với quy mô dân số hơn 34.600 người. Tính đến nay, toàn xã có 6.811 người đang đi xuất khẩu lao động, riêng xã Cương Gián cũ có khoảng 2.700 người.
“Hiện nay, xuất khẩu lao động đã trở thành một hướng đi quan trọng giúp nhiều gia đình cải thiện thu nhập và nâng cao đời sống. Con em làm ăn xa xứ cũng đã tích cực đóng góp để xây dựng quê hương. Số tiền họ gửi về đã giúp cuộc sống của người thân, gia đình được đảm bảo hơn”, ông Toàn nói.
Tuy nhiên, theo đại diện địa phương, phần lớn số tiền người lao động gửi về hiện vẫn chủ yếu được sử dụng để xây nhà, mua sắm trang thiết bị hoặc tích lũy dưới dạng vàng, bất động sản, tiền tiết kiệm; số người trở về thành lập doanh nghiệp còn khá ít.
Câu chuyện tại xã Cổ Đạm, tỉnh Hà Tĩnh chỉ là một lát cắt trong bức tranh lớn về dòng kiều hối của Việt Nam.
Nhìn lại hành trình hơn 30 năm kể từ khi Việt Nam bắt đầu có những chính sách cởi mở về kiều hối vào năm 1993, dòng tiền này đã chảy về không ngừng nghỉ. Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổng lượng kiều hối lũy kế đến nay đã đạt xấp xỉ 240 tỷ USD. Đây là con số cho thấy sự gắn kết bền chặt giữa cộng đồng kiều bào với quê hương.
Năm 2025 tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng của dòng vốn này bất chấp nhiều biến động từ kinh tế thế giới. Riêng tại Tp.HCM, lượng kiều hối chuyển về đạt hơn 10,34 tỷ USD, tăng 8,3% so với năm 2024.
Đáng chú ý, châu Á đang trở thành khu vực đóng góp lớn nhất với 5,06 tỷ USD, chiếm gần một nửa tổng lượng kiều hối chuyển về thành phố. Đây cũng là thị trường truyền thống với lực lượng lao động đông đảo của Việt Nam tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc).
Nói với Người Đưa Tin, ông Nguyễn Quang Huân – Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, ĐBQH khóa XV cho rằng, kiều hối là nguồn lực rất quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn.
Theo ông Huân, hiện nay ngân sách Nhà nước đã dành khoảng 35% chi ngân sách cho đầu tư phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. “Càng phát triển, càng triển khai nhiều dự án thì nhu cầu vốn càng tăng. Trong khi đó, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam hằng năm lên tới hàng chục tỷ USD, trở thành nguồn bổ sung rất đáng kể cho nền kinh tế”, ông Huân nói.
Ông Huân cho rằng, đây là thế mạnh cần tiếp tục phát huy bởi cộng đồng kiều bào ở nước ngoài không chỉ đóng góp nguồn lực tài chính mà còn thể hiện sự gắn kết với quê hương. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để sử dụng hiệu quả dòng vốn này cho phát triển kinh tế.
Dù lượng kiều hối liên tục tăng mạnh, song phần lớn dòng tiền này hiện vẫn chủ yếu tập trung vào tiêu dùng, xây dựng nhà cửa, mua bất động sản hoặc tích trữ thay vì đi vào sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Quang Huân, vấn đề cốt lõi nằm ở niềm tin. Muốn người dân hay kiều bào đưa tiền vào đầu tư thì trước tiên họ phải tin vào môi trường kinh doanh và triển vọng phát triển dài hạn. Nếu thiếu niềm tin, họ sẽ lựa chọn cất trữ bằng vàng, ngoại tệ hoặc giữ tiền trong nhà thay vì đưa vào nền kinh tế.
Ông Huân dẫn nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chi tiêu cho đầu tư của người dân Việt Nam hiện còn khá thấp, phản ánh tâm lý dè dặt trước doanh nghiệp, thị trường chứng khoán hay môi trường đầu tư nói chung. Trong khi đó, nếu nguồn tiền trong dân được khơi thông và quay trở lại phục vụ sản xuất, kinh doanh thì đây sẽ là nguồn lực rất lớn cho tăng trưởng.
Để tạo niềm tin, theo ông Huân, trước hết doanh nghiệp phải nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch. Đồng thời, Nhà nước cần xây dựng các chính sách ổn định, dài hạn và nhất quán. Nếu chính sách thay đổi liên tục, hôm nay ưu đãi nhưng ngày mai lại điều chỉnh thì doanh nghiệp sẽ không dám đầu tư dài hạn. Khi doanh nghiệp thiếu niềm tin và người dân cũng thiếu niềm tin thì sẽ rất khó huy động nguồn vốn cho phát triển kinh tế.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Tiến Lâm – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Song Ngư Sơn, một tiến sỹ kinh tế từng có nhiều năm sinh sống và làm việc tại Nga cho rằng, phần lớn lao động sau thời gian dài làm việc ở nước ngoài thường ưu tiên xây nhà, mua đất, sắm xe hoặc chi tiêu cá nhân thay vì đầu tư sinh lời lâu dài.
Theo ông Lâm, đây là nhu cầu chính đáng sau nhiều năm lao động vất vả. Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào tiêu dùng khiến nguồn vốn tích lũy chưa phát huy hiệu quả kinh tế bền vững. “Nhiều người sau khi tiêu hết số tiền tích cóp lại rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc phải tiếp tục đi lao động nước ngoài”, ông Lâm nói.
Ông cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này. Đa số lao động xuất khẩu là lao động phổ thông, ít được trang bị kiến thức về quản lý tài chính, kinh doanh hay khởi nghiệp. Dù có kinh nghiệm làm việc nhưng họ lại thiếu kỹ năng xây dựng và điều hành mô hình kinh doanh nên thường e ngại rủi ro, sợ thua lỗ.
Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh ở nhiều địa phương vẫn còn những khó khăn như thiếu chính sách hỗ trợ, thủ tục phức tạp, thiếu thông tin thị trường và nguồn nhân lực phù hợp. Điều này khiến người lao động chưa mạnh dạn sử dụng vốn để mở rộng sản xuất hay thành lập doanh nghiệp.
“Sau nhiều năm xa quê, nhiều người chỉ mong muốn có cuộc sống ổn định, an toàn thay vì tiếp tục đối mặt với áp lực kinh doanh. Một số người dù có ý tưởng nhưng thiếu sự đồng hành, tư vấn và hỗ trợ từ chính quyền hoặc các tổ chức xã hội nên dần từ bỏ ý định khởi nghiệp. Như bản thân tôi, để đi đến được hành trình này cũng đã trải qua không ít khó khăn nếu không có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương”, ông Lâm chia sẻ.
Ở góc độ tài chính ngân hàng, ông Lâm cho rằng nếu dòng tiền kiều hối chủ yếu chảy vào tiêu dùng hoặc bất động sản mà không được tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh thì sẽ hạn chế khả năng tạo việc làm và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, gây lãng phí nguồn lực.
Theo ông Lâm, để nguồn kiều hối chảy mạnh hơn vào đầu tư và sản xuất kinh doanh, cần tập trung vào các giải pháp khuyến khích thông qua chính sách và cải thiện môi trường đầu tư. Trong đó, các đề án phát triển nông nghiệp xanh, sản phẩm OCOP gắn với làng nghề truyền thống và du lịch nông thôn có thể trở thành lĩnh vực tiềm năng để người dân và kiều bào tham gia đầu tư.
Bên cạnh chính sách dài hạn, ông Nguyễn Quang Huân cho rằng, Nhà nước cần tăng cường đối thoại và lắng nghe ý kiến của cộng đồng trí thức, doanh nhân và kiều bào ở nước ngoài để hiểu nhu cầu, kỳ vọng của họ.
“Chúng ta đã chú trọng lắng nghe ý kiến trong nước thì cũng cần làm điều tương tự với kiều bào. Càng có nhiều góc nhìn đóng góp, chính sách xây dựng ra càng sát thực tế và bền vững hơn”, ông Huân nói.
Theo ông Huân, muốn thu hút hiệu quả nguồn lực kiều bào thì trước hết phải hiểu tâm lý, nhu cầu và động lực của cộng đồng này. Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn đến kinh tế học hành vi, bởi trong thực tế con người không phải lúc nào cũng hành động hoàn toàn theo logic kinh tế mà còn chịu tác động bởi cảm xúc, niềm tin và kỳ vọng.
Chuyến tàu khách liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Nam Ninh (Trung Quốc) được Tổng công ty Đường sắt VN (VNR) chính thức khôi phục từ tháng 5.2025, sau 5 năm gián đoạn vì đại dịch Covid-19. Sau gần 1 năm vận hành trở lại, tuyến tàu đã phục vụ hơn 25.000 lượt khách, riêng 3 tháng đầu năm nay đạt hơn 4.800 lượt khách.
Sau khi đến Nam Ninh, hành khách có thể tiếp tục hành trình tới các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Quảng Châu hay Thâm Quyến nhờ mạng lưới tàu cao tốc hiện đại của nước này, hoặc nối chuyến sang nước thứ 3. Ngành đường sắt hai nước cũng đã tổ chức chạy thẳng tàu từ ga Gia Lâm đến ga Bắc Kinh và ngược lại, với 2 chuyến tàu mỗi tuần xuất phát từ Hà Nội vào tối thứ ba, thứ sáu hằng tuần và đến ga Bắc Kinh Tây vào thứ năm, chủ nhật hằng tuần.
Với đường biên giới dài, hoạt động giao thương, du lịch qua các khu vực cửa khẩu giữa VN và Trung Quốc rất sôi động. Ngoài du lịch đường bộ, đường sắt trở thành phương tiện lựa chọn cho nhiều hành khách Trung Quốc sang VN sau khi nối lại tuyến liên vận. Trung Quốc hiện là thị trường khách du lịch lớn nhất tới VN với 1,4 triệu lượt khách trong quý 1/2026.
Đặc biệt, với lượng hàng hóa xuất nhập khẩu rất lớn, các tuyến đường sắt liên vận quốc tế vận chuyển hàng hóa đang hoạt động hết công suất, như tuyến liên vận từ ga Kép (Bắc Giang cũ, nay là Bắc Ninh) đến Đồng Đăng (Lạng Sơn) để kết nối qua Trung Quốc. Tuyến liên vận từ ga Cao Xá (Hải Dương cũ, nay là Hải Phòng) đi Đồng Đăng - Bằng Tường (Quảng Tây, Trung Quốc) đi sâu vào nội địa Trung Quốc hoặc quá cảnh sang các nước Trung Á, Nga, EU.
Chia sẻ với Thanh Niên, ông Hoàng Gia Khánh, Tổng giám đốc VNR, cho biết các tuyến liên vận quốc tế từ nội địa VN quá cảnh sang Trung Quốc chỉ theo 2 hướng: từ Hà Nội - Đồng Đăng sang Bằng Tường, hoặc Hà Nội - Lào Cai sang Hà Khẩu. Tuy nhiên, hạ tầng đang là nút thắt lớn nhất do khổ đường sắt không tương thích. Hiện chỉ có tuyến Đồng Đăng - Bằng Tường kết nối thẳng (nhờ chung khổ đường sắt 1.435 mm), trong khi các tuyến kết nối khác phải đổi tàu vận chuyển do đường sắt phía VN là khổ 1.000 mm, phía Trung Quốc là khổ 1.435 mm.
Tuy nhiên, hạn chế kết nối do hạ tầng sẽ được khắc phục trong tương lai gần. Tín hiệu vui là cuối tháng 12.2025, dự án đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã chính thức khởi công thành phần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, đánh dấu bước khởi động của dự án đường sắt được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho hành lang kinh tế phía bắc kết nối Trung Quốc. Theo quy hoạch được Quốc hội phê duyệt, tuyến đường sắt này dài gần 391 km, nối từ Lào Cai đến ga Lạch Huyện (Hải Phòng), được đầu tư theo tiêu chuẩn điện khí hóa, khổ 1.435 mm, tốc độ thiết kế tối đa 160 km/giờ.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cùng chứng kiến lễ ký kết hai văn kiện trong lĩnh vực hợp tác đường sắt, gồm giấy chứng nhận bàn giao kết quả dự án viện trợ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và bản ghi nhớ về hợp tác đào tạo nhằm nâng cao năng lực nguồn nhân lực đường sắt VN.
Thông tin với báo chí sau chuyến đi, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc tiếp nhận báo cáo nghiên cứu khả thi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở để hai bên triển khai đàm phán, ký kết các hiệp định như Hiệp định xây dựng công trình cầu đường sắt qua biên giới giữa ga Lào Cai và ga Hà Khẩu Bắc, Hiệp định vay vốn cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Phía VN cũng sẽ tiến hành thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư theo quy định, làm cơ sở lựa chọn nhà thầu, phấn đấu khởi công tuyến vào cuối năm 2026.
Bộ Xây dựng cũng đang thúc đẩy triển khai các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng kết nối với phía Trung Quốc. Trong đó, ưu tiên hoàn thành sớm quy hoạch tuyến đường sắt Đồng Đăng - Hà Nội, làm cơ sở lập và hoàn thành báo cáo nghiên cứu tiền khả thi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án giai đoạn 2026 - 2027 để sớm khởi công xây dựng.
Theo Cục Đường sắt VN, việc đầu tư 3 tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn và Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái sẽ tạo kết nối liền mạch giữa hệ thống đường sắt hai nước. Đặc biệt, cả 3 tuyến đều có thể mở rộng kết nối tới châu Âu, thúc đẩy các đoàn tàu liên vận Việt - Trung - châu Âu. Với tốc độ trung bình
160 km/giờ và hệ thống đường ray khổ đôi được đầu tư mới, không chỉ hiện đại hóa mạng lưới đường sắt VN mà còn thúc đẩy kết nối với mạng lưới giao thông đường sắt ASEAN.
Còn theo lãnh đạo Bộ Xây dựng, hợp tác đường sắt với Trung Quốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế và giao lưu nhân dân giữa hai nước; đặc biệt là phát triển hoạt động vận tải hàng hóa liên vận quốc tế bằng đường sắt qua Trung Quốc và quá cảnh Trung Quốc sang các nước thứ 3 như các nước EU, Nga, Mông Cổ, các nước Trung Á…
Chiến lược phát triển đường sắt VN đến năm 2030, tầm nhìn 2050 tập trung hiện đại hóa mạng lưới, ưu tiên đường sắt tốc độ cao và các tuyến kết nối liên vùng, quốc tế, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp đường sắt trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Với tốc độ phát triển đường sắt hàng đầu thế giới cả về quy mô và công nghệ, Trung Quốc sẽ hỗ trợ VN tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại trong lĩnh vực đường sắt.
"Đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước, bao gồm lắp ráp, bảo trì thiết bị, từng bước sản xuất linh kiện, thiết bị, tiến tới tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu", Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, HoSE: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức vụ Phó Tổng Giám đốc.
Ông Lưu Danh Đức (sinh năm 1973) là Thạc sĩ Công nghệ Thông tin tại Viện Tin học Pháp ngữ (IFI), Kỹ sư Công nghệ Thông tin tại Đại học Bách khoa Hà Nội, với hơn 22 năm chuyên sâu trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt trong ngành ngân hàng và các tập đoàn lớn.
Trước khi gia nhập Sacombank, ông từng đảm nhiệm các vị trí Phó Tổng giám đốc, Giám đốc Công nghệ thông tin tại nhiều tổ chức lớn như LPBank, SHB, T&T Group, Sovico, Sun Group, Tasco, VinGroup, VIB...
Ông Nguyễn Hoàng Hải (sinh năm 1973), tốt nghiệp Đại học Quốc gia Hà Nội chuyên ngành Viễn thông. Với hơn 30 năm kinh nghiệm dẫn dắt các tổ chức lớn trong lĩnh vực Viễn thông và Tài chính - Ngân hàng.
Trong quá trình công tác, ông Hải từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo then chốt tại Gtel Mobile và VIB như Giám đốc Marketing, Giám đốc Điều hành, Giám đốc Khối chiến lược và Chuyển đổi mô hình, Giám đốc Khối vận hành, trực tiếp tham gia hoạch định chiến lược, thúc đẩy chuyển đổi mô hình và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Gần đây nhất, ông tiếp tục ghi dấu ấn tại LPBank với vai trò Phó Tổng Giám đốc, góp phần xây dựng nền tảng vận hành tinh gọn và hiệu quả.
Bên cạnh đó, Sacombank cũng vừa bổ sung ông Nguyễn Thanh Hiệp (hiện đang là Giám đốc Khối Quản trị rủi ro) vào Thành viên Ban điều hành phụ trách lĩnh vực Quản lý rủi ro. Ông Hiệp (sinh năm 1974) bắt đầu công tác tại Sacombank từ năm 2006 và có kinh nghiệm sâu rộng trong lĩnh vực kiểm soát và quản lý tín dụng. Động thái này càng làm rõ nét chiến lược phát triển thận trọng, tăng trưởng từ nền tảng kết hợp với quản trị rủi ro chặt chẽ của Ngân hàng.
Thông qua tư duy điện ảnh đương đại, quy mô sản xuất lớn và ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc, V-Film sẽ tôn vinh lịch sử, văn hóa và tinh thần dân tộc một cách sống động, hấp dẫn và có sức lan tỏa toàn cầu.
V-Film thuộc trụ cột Văn hóa của Tập đoàn Vingroup, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và phát hành phim điện ảnh, chương trình truyền hình, với mục tiêu góp phần xây dựng ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế; đồng thời hình thành hệ sinh thái điện ảnh kết nối các nguồn lực sáng tạo trong và ngoài nước.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Vingroup sẽ đầu tư toàn diện cho chuỗi giá trị điện ảnh của V-Film từ phát triển kịch bản, sản xuất, hậu kỳ đến phát hành. Đồng hành cùng V-Film là Hội đồng tư vấn uy tín gồm các nhà nghiên cứu lịch sử, chuyên gia văn hóa và cố vấn học thuật hàng đầu Việt Nam. Sự tham gia của các chuyên gia không chỉ bảo đảm tính chính xác của các mốc lịch sử và chiều sâu văn hóa, mà còn khẳng định tâm huyết của V-Film trong sứ mệnh tôn vinh và quảng bá lịch sử, văn hóa dân tộc.
Song song với các chuyên gia lịch sử - văn hóa là đội ngũ sản xuất chuyên nghiệp từng làm việc trong môi trường điện ảnh quốc tế cùng thế hệ đạo diễn trẻ Việt Nam giàu năng lượng sáng tạo. Ngoài ra, V-Film cũng sẽ hợp tác sâu rộng với các đối tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm, từng bước đưa các câu chuyện lịch sử - văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào dòng chảy điện ảnh thế giới.
Về cách thức triển khai, các dự án tại V-Film sẽ được phát triển mở rộng thành nhiều mùa phim và hệ sinh thái nội dung đa nền tảng, trọng tâm là các phim truyện lịch sử - văn hóa quy mô lớn. Kịch bản sẽ là sự kết hợp giữa yếu tố lịch sử, chính kịch và tâm lý nhân vật, đan xen cùng những sáng tạo điện ảnh nhằm tạo nên series sống động, vừa giàu bản sắc, vừa có khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Chia sẻ về định hướng của hãng, ông Trần Đức Việt, Tổng Giám đốc V-Film, cho biết: "Thế giới mới biết đến cảnh đẹp và ẩm thực Việt Nam nhưng chưa thực sự hiểu rõ về vẻ đẹp tâm hồn và chiều sâu lịch sử - văn hóa của chúng ta. V-Film mong muốn kiến tạo một hệ sinh thái điện ảnh, nơi những câu chuyện Việt Nam được kể bằng ngôn ngữ hiện đại nhất, góp phần đưa văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Chúng tôi tin rằng Việt Nam hoàn toàn có thể sở hữu những tác phẩm điện ảnh đỉnh cao, chạm tới khán giả toàn cầu bằng chính chiều sâu văn hóa và tinh thần dân tộc mình".
Khởi đầu dòng phim tôn vinh lịch sử - văn hóa Việt Nam của V-Film sẽ là series phim về triều đại nhà Trần - lấy cảm hứng từ thời kỳ Đông A rực rỡ với ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, xen lẫn những cuộc chuyển giao quyền lực đầy kịch tính và các lựa chọn làm thay đổi vận mệnh dân tộc.
Series phim đã hoàn tất khâu kịch bản mùa 1 với 10 tập. Dự án đang ở giai đoạn tuyển chọn diễn viên, dự kiến khởi quay vào tháng 7/2026 và sẽ công chiếu mùa đầu tiên vào tháng 12 năm nay.