Từ góc nhìn của chuyên gia kinh tế từng làm việc trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế và theo dõi quá trình phát triển của Việt Nam nhiều năm, ông Andreas Stoffers nói thách thức lớn hơn là làm sao Trung tâm tài chính ở Việt Nam khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, từ đội ngũ lao động trong nước đến dòng chất xám hồi hương mang theo kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế.
Khi làm việc tại Deutsche Bank Việt Nam vào năm 2009, ông cho biết đã gặp không ít giao dịch viên ngân hàng người Việt có nền tảng đào tạo và kỹ năng nghề nghiệp khá tốt. Điều đó cho thấy Việt Nam may mắn sở hữu một nguồn nhân lực nội địa dồi dào. Vì vậy, việc dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước khi xây dựng một IFC là “một lựa chọn thực tế và hợp lý”.
So với thời điểm năm 2009, lực lượng lao động ngành ngân hàng – tài chính của Việt Nam đã có những chuyển biến rất đáng kể. Thời điểm đó kinh nghiệm quốc tế còn hạn chế, tư duy chiến lược và khả năng xử lý các giao dịch xuyên biên giới phức tạp chưa thực sự rõ nét.
Tuy nhiên qua hơn một thập kỷ, Việt Nam ngày càng có nhiều ngân hàng viên và chuyên gia tài chính năng lực cao, có tư duy quốc tế. Sự phát triển này được hỗ trợ bởi cải thiện chất lượng giáo dục ĐH, đặc biệt là tại các ĐH hàng đầu. Nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các trường này giờ đã có thể cạnh tranh ở tầm khu vực.
“Số lượng người lao động, chuyên gia Việt kiều trở về cũng ngày càng tăng. Họ mang theo kinh nghiệm quốc tế, tiêu chuẩn chuyên nghiệp và mạng lưới toàn cầu. Theo tôi, nhóm này là một tài sản chiến lược chưa được khai thác đầy đủ”, GS Andreas Stoffers đánh giá.
Theo ông, tiềm năng của lực lượng lao động được đào tạo tại nước ngoài này cần được tích hợp có hệ thống hơn vào giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
Ngoài việc trở về nước để làm nhà đầu tư hay quản lý, các chuyên gia Việt kiều hay du học sinh có thể trở thành giảng viên, cố vấn, thỉnh giảng hoặc tham gia thiết kế chương trình đào tạo, nhất là hình thức đào tạo thực hành và song hành. Sự tham gia của họ giúp thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn kinh doanh quốc tế.
Bên cạnh nhân lực nội địa, Việt Nam vẫn cần các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đầu và giữa của quá trình phát triển IFC. Sự kết hợp hợp lý giữa nhân lực nội địa và quốc tế sẽ tăng tốc việc học hỏi thể chế qua lại, nâng cao uy tín và giảm rủi ro cho quá trình thử – sai tốn kém.
Phân tích từ quan sát của mình, ông nói trọng thành tích và cầu tiến là đặc điểm ăn sâu trong văn hóa Việt, cũng có thể xem như yếu tố tạo nên điểm mạnh cho lực lượng sinh viên và người lao động Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để người Việt thành công trong những môi trường quốc tế đòi hỏi cao như các trung tâm tài chính.
Bởi các trung tâm này thường tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh, đặc biệt trong giáo dục ĐH, nghiên cứu và đào tạo chuyên môn. Nơi nào dịch vụ tài chính tinh vi phát triển, nhu cầu về giáo dục chất lượng cao sẽ gần như tự động xuất hiện.
“Ý tưởng biến TP.HCM không chỉ thành IFC mà còn trở thành trung tâm giáo dục khu vực là tham vọng nhưng hợp lý về mặt chiến lược”, GS Andreas Stoffers nhận định.
Thẳng thắn, ông cho rằng thách thức trước mắt là nhiều trường ĐH vẫn gặp khó khăn về đảm bảo chất lượng, minh bạch, quản trị và tuân thủ. Nếu TP.HCM muốn trở thành trung tâm giáo dục khu vực thực thụ, những cơ sở này cần được nâng cấp một cách hệ thống.
Thêm nữa, mức lương giảng viên cần trở nên cạnh tranh hơn để thu hút các chuyên gia giàu kinh nghiệm từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy và nghiên cứu. Đồng thời cần dẹp bớt rào cản hành chính với các chuyên gia trong quá trình giảng dạy.
Ông cũng đánh giá sinh viên Việt Nam tự tin, năng động và có tư duy quốc tế hơn nhiều so với trước đây. Nhiều bạn chủ động tìm kiếm cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế, chương trình liên kết và nghiên cứu ứng dụng. Đây là yếu tố then chốt vì một trung tâm giáo dục không được tạo ra chỉ có cơ sở vật chất hay bảng xếp hạng mà cần có sinh viên, giảng viên sẵn sàng gắn kết và học hỏi từ thế giới.
TP.HCM cũng không cần sao chép Singapore, London hay Frankfurt. Sức mạnh của Việt Nam nằm ở việc phát triển mô hình riêng, kết hợp giáo dục quốc tế hóa với lợi thế nội địa như cơ cấu dân số, văn hóa cầu tiến và hội nhập khu vực. Nếu cải cách được thực thi liên tục, TP.HCM có thể trở thành ngọn hải đăng khu vực về giáo dục, tài chính và đổi mới sáng tạo tương tự các trung tâm như Dubai, Hong Kong hay Singapore.
“Nếu đà cải cách này được duy trì, đi kèm với sự hấp dẫn của sự nghiệp học thuật và mối liên kết chặt chẽ hơn giữa trường ĐH và doanh nghiệp, TP.HCM hoàn toàn có cơ hội trở thành trung tâm giáo dục khu vực cùng với vai trò tài chính và đổi mới sáng tạo”, GS Andreas Stoffers nói.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho biết từ 11-31/3, cơ quan này đã làm việc với 26 thương nhân đầu mối nhằm kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguồn cung, dự trữ lưu thông xăng dầu.
Qua đó, cơ quan chức năng phát hiện, xử phạt 3 đơn vị không duy trì mức dự trữ tối thiểu theo quy định. Ba thương nhân bị xử lý gồm: Công ty vật tư xăng dầu Hải Dương; Tổng công ty Dầu Việt Nam - Công ty cổ phần (PVOil); Công ty xăng dầu Vĩnh Long Petro. Mỗi doanh nghiệp bị phạt 130 triệu đồng.
"Các doanh nghiệp này không duy trì hoặc duy trì mức dự trữ xăng dầu thấp hơn mức tối thiểu theo quy định", đại diện Bộ Công Thương cho biết.
Ngoài các trường hợp bị xử phạt, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang làm việc với 5 thương nhân đầu mối khác có dấu hiệu vi phạm liên quan đến mức dự trữ tối thiểu. Trong đó, có trường hợp xuất hiện dấu hiệu găm hàng, đang được xác minh, làm rõ để xử lý.
Việc tăng kiểm tra, giám sát các thương nhân đầu mối trong bối cảnh thị trường xăng dầu đang chịu nhiều bất ổn từ biến động của khu vực Trung Đông.
Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước trải qua 16 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 23.760 đồng, dầu diesel 31.040 đồng. Trước đó, có thời điểm giá hai loại nhiên liệu này lên lần lượt gần 34.000 đồng và 45.000 đồng một lít.
Tại phiên thảo luận tổ về kinh tế xã hội tuần trước, Bộ trưởng Công Thương Lê Mạnh Hùng nhìn nhận xung đột tại Trung Đông tạo ra khủng hoảng năng lượng toàn cầu lớn nhất từ 1970, trong đó Việt Nam cũng chịu tác động lớn.
Ông Hùng cho biết mục tiêu điều hành hiện nay là "phải đảm bảo an ninh năng lượng", gồm đủ nguồn cung và đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô. Theo đó, nhà điều hành đã triển khai đồng bộ 5 nhóm giải pháp, nâng số ngày dự trữ lưu thông từ 15 lên 26 ngày.
Cảng quốc tế Chu Lai chính thức đưa vào vận hành hệ thống điện năng lượng mặt trời đầu tiên, từng bước ứng dụng năng lượng sạch trong hoạt động khai thác cảng
Công suất dự kiến đạt 5.100 kWp
Dự án được triển khai theo 3 giai đoạn, với tổng công suất dự kiến đạt 5.100 kWp. Trong đó, giai đoạn 1 được triển khai theo 2 đợt liên tiếp trong năm 2026.
Cụ thể, đợt 1 bắt đầu từ tháng 1-2026 với công suất 700 kWp trên diện tích gần 5.000 m². Tiếp nối, trong tháng 4-2026, cảng triển khai đợt 2 với quy mô mở rộng thêm 800 kWp trên diện tích hơn 7.200 m².
Sau khi hoàn thành cả 2 đợt, tổng công suất giai đoạn 1 đạt 1.500 kWp với khoảng 2.300 tấm pin năng lượng mặt trời, sản lượng điện dự kiến khoảng 2,1 triệu kWh/năm.
Trong các giai đoạn tiếp theo, cảng sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng với tổng công suất bổ sung đạt 3.600 kWp (tương đương sản lượng điện khoảng trên 5 triệu kWh/năm), triển khai trên quy mô lớn tại hệ thống kho bãi và hạ tầng hiện hữu.
Khi hoàn thành, tổng công suất điện mặt trời tại Cảng quốc tế Chu Lai đáp ứng toàn bộ nhu cầu cung cấp điện cho hoạt động khai thác, đặc biệt là hệ thống container lạnh và chuỗi logistics nông nghiệp.
Nguồn điện năng lượng mặt trời được sử dụng trong các hoạt động xếp dỡ hàng hóa, lưu kho, bãi tại cảng
Lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời
Với tổng diện tích 140 ha, trong đó khu kho bãi chiếm khoảng 20 ha, Cảng quốc tế Chu Lai có lợi thế lớn để phát triển điện mặt trời áp mái. Kết hợp với điều kiện thời tiết khu vực miền Trung có số giờ nắng cao và bức xạ tốt, hệ thống này tạo ra nguồn điện ổn định, giúp duy trì liên tục hoạt động xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, hạn chế rủi ro gián đoạn trong khai thác.
Việc chủ động sử dụng nguồn điện tại chỗ giúp cảng giảm đáng kể chi phí điện năng - một trong những cấu phần chi phí lớn trong khai thác cảng, đặc biệt đối với vận hành container lạnh và hệ thống kho. Qua đó, tạo cơ sở quan trọng để cảng triển khai các chính sách giá linh hoạt và cạnh tranh hơn cho khách hàng.
Cảng quốc tế Chu Lai định hướng duy trì ổn định đơn giá dịch vụ trong dài hạn, hạn chế tối đa tác động từ biến động giá nhiên liệu và giá điện; đồng thời tối ưu chi phí lưu bãi, vận hành container lạnh và dịch vụ logistics liên quan, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu - đặc biệt trong lĩnh vực nông sản - giảm áp lực chi phí chuỗi cung ứng, gia tăng hiệu quả kinh doanh.
Không chỉ mang lại lợi ích về chi phí, dự án còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, giảm phụ thuộc vào nguồn năng lượng truyền thống và từng bước hiện thực hóa mục tiêu phát triển cảng xanh.
Đây là một trong những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tổng thể của Cảng quốc tế Chu Lai trong bối cảnh ngành logistics đang chuyển dịch mạnh theo hướng bền vững.
Hệ thống điện năng lượng mặt trời giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh chi phí năng lượng liên tục gia tăng và yêu cầu giảm phát thải ngày càng cao, việc đầu tư hệ thống điện mặt trời không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là chiến lược dài hạn, giúp Cảng quốc tế Chu Lai chủ động nguồn lực, đồng hành cùng khách hàng tối ưu chi phí và phát triển bền vững.
Theo ban tổ chức, các doanh nghiệp tham gia ngày hội đến từ nhiều lĩnh vực như tài chính - ngân hàng, kiểm toán, công nghệ, thương mại điện tử, sản xuất, logistics…, với nhu cầu tuyển dụng hơn 5.000 vị trí việc làm dành cho sinh viên, người học và người lao động.
Phát biểu khai mạc, PGS.TS. Bùi Quang Hùng, Phó giám đốc Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH), cho biết năm 2026 là dấu mốc đặc biệt khi nhà trường kỷ niệm 50 năm hình thành và phát triển.
Ông chia sẻ trong suốt hành trình đó, UEH định vị giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức mà còn là quá trình kiến tạo giá trị, kết nối con người và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Theo ông Hùng, bước sang năm 2026, UEH xác định chuyển sang giai đoạn "đồng kiến tạo".
Ở giai đoạn này, nhà trường và các đối tác không chỉ dừng lại ở việc kết nối hay đóng góp nguồn lực, mà còn cùng tham gia thiết kế, triển khai và lan tỏa các giải pháp cho những vấn đề của giáo dục và xã hội, hướng đến các giá trị bền vững, dài hạn.
Trong khuôn khổ sự kiện, các doanh nghiệp tổ chức gian hàng tuyển dụng, trực tiếp tư vấn, tiếp nhận hồ sơ và phỏng vấn nhanh ứng viên, giúp rút ngắn quy trình tuyển dụng, đồng thời tăng khả năng kết nối trực tiếp giữa doanh nghiệp và sinh viên.
Về phía người tham gia, sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế quy trình tuyển dụng, được tư vấn hướng nghiệp, hiểu rõ hơn về yêu cầu của thị trường lao động và chủ động nâng cao năng lực để thích ứng, hoàn thiện hồ sơ.
Bên cạnh hoạt động tuyển dụng, lãnh đạo UEH cũng bày tỏ sự trân trọng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp với tổng nguồn lực đóng góp gần 14 tỉ đồng cho các hoạt động giáo dục và phát triển bền vững.
"Nguồn lực này sẽ được chuyển hóa thành những giá trị cụ thể như mở rộng cơ hội học tập thông qua các chương trình học bổng dành cho sinh viên; nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và môi trường học tập; thúc đẩy chuyển giao tri thức vào thực tiễn; đồng thời triển khai các dự án phục vụ cộng đồng, giáo dục xanh và chuyển đổi số", đại diện nhà trường nhấn mạnh.