Bangkok Post hôm nay (6.4) đưa tin: Bộ Y tế Công cộng Thái Lan ước tính các hóa đơn y tế chưa thanh toán từ bệnh nhân nước ngoài lên tới ít nhất 100 triệu baht mỗi năm (khoảng 70 tỉ đồng).
Tiến sĩ Somruk Jungsaman, Thư ký thường trực của Bộ, cho biết các quan chức đang thu thập dữ liệu chi tiết để hiểu rõ hơn về quy mô của vấn đề. Xuất phát từ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, dịch vụ chăm sóc cấp cứu không thể bị trì hoãn. Điều này đồng nghĩa với việc các bệnh viện thường phải điều trị cho bệnh nhân bất kể họ có khả năng chi trả hay không khiến các cơ sở y tế phải tự gánh chịu chi phí tài chính.
Các trung tâm du lịch lớn như Phuket và Chiang Mai là những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Giám đốc bệnh viện Vachira Phuket – ông Weerasak Lorthongkham cho biết: “Mỗi năm, chúng tôi phải bù đắp khoảng 10 triệu baht (tương đương 8 tỉ đồng) chi phí điều trị cho những bệnh nhân nước ngoài không có bảo hiểm”.
Ông Weerasak Lorthongkham chỉ ra nguyên nhân chính đến từ việc du khách thiếu kinh nghiệm khi lái xe máy hoặc sử dụng rượu bia và chất kích thích, đồng thời dẫn ví dụ một ca nghiêm trọng liên quan đến du khách Nga bị chấn thương cột sống nặng, chi phí điều trị vượt 1 triệu baht (khoảng 800 triệu đồng) nhưng không ai thanh toán. Gia đình không liên lạc được, còn đại sứ quán chỉ có thể hỗ trợ về mặt thủ tục hành chính. Cuối cùng, bệnh viện phải tự lo liệu và chi trả toàn bộ chi phí đưa bệnh nhân hồi hương.
“Nhiều du khách đến Phuket và lần đầu tiên thử lái xe máy, điều này làm tăng đáng kể rủi ro tai nạn”, vị giám đốc này nói.
Trong khi đó, dữ liệu ngành bảo hiểm Thái Lan cho thấy một gói bảo hiểm du lịch cho kỳ lưu trú 2 tuần chỉ tốn khoảng 1.100 baht (khoảng 770.000 đồng) nhưng thường cung cấp mức chi trả y tế từ 3,6 – 9 triệu baht.
Thái Lan không phải quốc gia duy nhất thực hiện điều này. Bảo hiểm du lịch bắt buộc hiện đã được áp dụng tại nhiều khu vực và quốc gia như khối Schengen, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Nga và Cuba.

Nỗi lo nhiều diện tích chè Biển Hồ lụi tàn dần
Những ngày gần đây, nhiều du khách vượt cả trăm cây số tham quan hàng thông trăm tuổi cùng đồi chè Biển Hồ (xã Biển Hồ, Gia Lai).
Không ít người tỏ ra hụt hẫng khi chứng kiến nhiều khoảnh chè trơ gốc, lá úa vàng, cảnh quan không còn xanh mướt như trước.
Bà Phạm Thu Trâm, du khách đến từ Lâm Đồng cho biết bà đã xem hình ảnh đồi chè Biển Hồ và rất mong chờ được tận mắt chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, khi đến nơi, nhiều khu vực chè đã khô héo, xơ xác khiến trải nghiệm không còn trọn vẹn.
Theo bà Trâm, nếu chuyển toàn bộ diện tích chè sang trồng cà phê, cảnh quan đặc trưng của Biển Hồ sẽ mất đi. Trong trường hợp chè quá già cỗi, nên thay bằng giống chè mới để vừa giữ cảnh quan và duy trì giá trị kinh tế.
Chị Phạm Thị Hiền (trú tại phường Thống Nhất, Gia Lai) cho biết dịp cuối tuần chị thường đưa bạn bè đến đồi chè Biển Hồ để ngắm cảnh, chụp ảnh. Thời gian gần đây chè rụng lá, việc cắt tỉa, dọn vệ sinh chưa kỹ khiến cảnh quan xuống cấp, thu hẹp các điểm check-in của du khách.
“Nhắc đến Pleiku, nhiều người nghĩ ngay đến đồi chè và hàng thông Biển Hồ. Đây gần như là biểu tượng du lịch của địa phương. Do đó, nhà nước nên cần có chính sách bảo tồn và phát triển phù hợp”, chị Hiền chia sẻ.
Ngày 18/5, phóng viên ghi nhận tại khu vực đồi chè và hàng thông ở xã Biển Hồ, chứng kiến nhiều diện tích chè đã bị rụng lá, cây chết khô trải dài thành từng mảng lớn. Không ít luống chè khô quắt, trơ cành, xen lẫn các khoảng đất trống nham nhở do gốc chè bị đào bới.
Nhiều khu vực chè sau khi cắt tỉa không được dọn dẹp, cành lá khô phủ kín mặt luống khiến cảnh quan trở nên xơ xác. Một số vị trí nằm gần trụ điện cao thế xuất hiện tình trạng cây chết hàng loạt, chỉ còn lác đác vài mảng xanh.
Theo người dân địa phương, tình trạng chè già cỗi, thiếu nước tưới kéo dài cùng việc một số gốc chè bị đào trộm làm cảnh đang khiến vùng chè nổi tiếng của Pleiku dần mất đi vẻ xanh mướt vốn có.
Chật vật giữ “lá phổi xanh” Biển Hồ
Đại diện Phòng Kế hoạch - Tổ chức (Công ty cổ phần chè Biển Hồ) cho biết thời gian qua, thời tiết nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích chè thiếu nước tưới. Bên cạnh đó, phần lớn chè đã già cỗi, nhiều cây đến tuổi chết tự nhiên.
Tình trạng người dân lén đào trộm gốc chè về làm cảnh cũng diễn ra rải rác nhiều năm nay. Một số diện tích chè giao khoán chăm sóc kém bị chết, người dân chặt về làm củi.
Theo đại diện Phòng Kế hoạch - Tổ chức Công ty cổ phần chè Biển Hồ, do thiếu máy móc và nhân công, nhiều hộ nhận khoán sau khi cắt tỉa chưa dọn dẹp kỹ khiến đồi chè mất mỹ quan, ảnh hưởng hình ảnh du lịch nổi tiếng của Pleiku.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Nguyễn Văn Quản, Tổng giám đốc Công ty cổ phần chè Biển Hồ, cho biết sau cổ phần hóa, doanh nghiệp được giao quản lý khoảng 550ha chè. Công ty chuyển đổi 232ha chè sang trồng cà phê và giữ lại hơn 62ha để phục vụ cảnh quan du lịch.
Theo ông Quản, việc giữ lại hơn 62ha chè là theo chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai nhằm phục vụ du lịch.
Để duy trì diện tích này, doanh nghiệp đã giao khoán cho 113 hộ dân chăm sóc và thu mua chè tươi với giá 4.000-6.000 đồng/kg. Tuy nhiên, việc duy trì vùng chè đang tạo áp lực lớn về chi phí nhân công, vận hành nhà máy sơ chế và duy tu cảnh quan
“Chúng tôi đã kiến nghị tỉnh có cơ chế hỗ trợ bù lỗ cho doanh nghiệp hoặc có chính sách hỗ trợ người lao động. Từ đó, doanh nghiệp mới có điều kiện duy trì diện tích chè phục vụ du lịch”, ông Quản nói.
Cũng theo Tổng giám đốc Công ty cổ phần chè Biển Hồ, doanh nghiệp đang chịu áp lực lớn về chi phí vận hành, tiền thuê đất và đảm bảo thu nhập cho công nhân chăm sóc diện tích chè phục vụ cảnh quan. Nếu tình trạng này kéo dài, công ty sẽ rất khó đảm bảo nguồn lực để chăm sóc, duy trì cảnh quan và vận hành vùng chè theo yêu cầu của tỉnh.
UBND tỉnh Gia Lai đã thống nhất giữ nguyên hiện trạng hơn 62ha chè, gắn với cảnh quan du lịch như hàng thông trăm tuổi, chùa Bửu Minh và hồ Ya Lũ (xã Biển Hồ). Lãnh đạo tỉnh Gia Lai giao các đơn vị liên quan làm rõ hiệu quả sản xuất và đời sống của các hộ nhận khoán để nghiên cứu cơ chế, chính sách hỗ trợ phù hợp.
Công ty cổ phần chè Biển Hồ tiếp tục theo dõi, chăm sóc hơn 62ha chè gắn với cảnh quan du lịch và thực hiện thu mua toàn bộ chè của các hộ dân nhận khoán.
Tin Gốc: Dân Trí

Tại các khu phố sầm uất như Akihabara, Tokyo hay Nipponbashi, Osaka, du khách dễ bắt gặp nhiều quán cà phê hoạt động dựa trên hình thức cà phê theo chủ đề. Cà phê hầu gái là một nhánh của mô hình cà phê theo chủ đề, nơi nhân viên phục vụ mặc trang phục cách điệu từ hình tượng hầu gái phương Tây, hoặc các nhân vật trong anime, manga.
Khác với các quán cà phê thông thường, mô hình cà phê hầu gái tập trung vào trải nghiệm tương tác và "nhập vai". Khi bước qua cánh cửa, khách hàng không còn là "khách" mà là "chủ nhân", "cậu chủ", "tiểu thư", trở về dinh thự của mình.
Ngay khi khách bước qua cửa, nhân viên sẽ thực hiện nghi thức chào đón bằng câu khẩu hiệu kinh điển "Okaerinasaimase!" (Mừng chủ nhân về nhà) để xác lập vai trò của khách hàng trong không gian giả tưởng. Trước khi thưởng thức, khách hàng thực nghi thức "Omajinai" (phép thuật món ăn).
Nhân viên hướng dẫn khách cùng làm các động tác tay hình trái tim và đọc những câu thần chú như "Moe moe kyun", một cụm từ trong văn hóa đại chúng Nhật Bản biểu thị sự dễ thương và năng lượng tích cực, với mục đích tượng trưng là giúp món ăn trở nên ngon miệng hơn. Nhân viên vẽ tương cà trực tiếp tại bàn, tạo hình thú cưng hoặc viết tên khách hàng theo yêu cầu lên các món ăn.
Mô hình cà phê hầu gái ra đời vào tháng 3/2001 tại khu phố Akihabara, Tokyo, với cơ sở đầu tiên tên Cure Maid Cafe. Sự xuất hiện của cà phê hầu gái gắn liền với bối cảnh kinh tế Nhật Bản sau giai đoạn đình trệ kéo dài, được các nhà kinh tế gọi là "Thập niên mất mát" (The Lost Decade).
Đến cuối những năm 1990 và đầu 2000, hệ quả từ thị trường lao động đóng băng đã tạo ra một thế hệ thanh niên Nhật Bản mất phương hướng, dẫn đến sự gia tăng của trạng thái Hikikomori (những người rút lui hoàn toàn khỏi xã hội) và sự bùng nổ của cộng đồng Otaku (người hâm mộ văn hóa đại chúng Nhật Bản).
Mô hình cà phê chủ đề nhập vai kiểu cà phê hầu gái ra đời như một không gian giải tỏa tâm lý. Những tương tác trực tiếp, sự lắng nghe và chăm sóc từ nhân viên giúp khách hàng tạm rời xa những áp lực từ đời sống thực tế để bước vào một thế giới giải trí nhẹ nhàng, mang tính giả tưởng.
Mô hình này lan tỏa sang nhiều quốc gia, nhưng vẫn vấp phải những định kiến. Tại một số nơi, nhiều ý kiến chỉ trích mô hình này thúc đẩy sự phục tùng của phụ nữ và "vật hóa" nhân viên. Tại Trung Quốc, mô hình này từng đối mặt với lệnh cấm sau những biến tướng độc hại.
Cuối năm 2023, từ một vụ án tấn công tình dục xảy ra tại một cơ sở giải trí theo mô hình cà phê hầu gái ở thành phố Nghĩa Ô, tỉnh Chiết Giang, cơ quan kiểm sát đã điều tra hơn 800 doanh nghiệp liên quan.
Kết quả cho thấy nhiều cơ sở đã ép buộc nhân viên nữ quỳ gối phục vụ trà, đút ăn và massage cho khách nam trong những bộ trang phục hở hang. Tháng 4/2024, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã xếp vụ án Nghĩa Ô vào danh sách án lệ điển hình để chấn chỉnh trên toàn quốc. Tòa án phán quyết các dịch vụ này là bất hợp pháp vì vi phạm nghiêm trọng "quyền nhân phẩm" của phụ nữ.
Tại Nhật Bản, chính quyền nỗ lực "làm sạch" bằng cách siết chặt quy định quản lý. Cảnh sát Tokyo thường xuyên truy quét các quán "núp bóng" hầu gái để chèo kéo khách trái phép hoặc cung cấp dịch vụ nhạy cảm tại Akihabara.
Tại các chuỗi lớn như Home cafe, quy tắc "không chạm" được thực thi tuyệt đối. Nhân viên không được ngồi cùng bàn, cấm tiếp xúc thân thể và không được phép tiết lộ thông tin cá nhân cho khách hàng.
Mô hình cà phê này cũng có mặt tại Hà Nội, tiệm đầu tiên đi vào hoạt động từ tháng 12/2023. Đại diện quán cà phê Soru Maid Cafe, Hà Nội cho biết quán có quy định không tự ý chụp ảnh các "hầu gái", việc ghi hình phải nhận được sự cho phép của nhân viên.
Để duy trì môi trường lành mạnh, bộ quy tắc ứng xử được đặt công khai tại từng bàn như một "cam kết" giữa khách và quán. Mọi biểu hiện thiếu chuẩn mực đều có thể dẫn đến việc bị từ chối phục vụ. Quán ưu tiên cách xử lý kín đáo, đảm bảo an toàn cho nhân viên nhưng không làm phá vỡ không gian trải nghiệm của khách.
Tại Nhật, có nhiều phiên bản biến tấu từ mô hình cà phê hầu gái. Quán Slo-maid ở Kamakura, tỉnh Kanagawa, từng gây chú ý khi chỉ tuyển "nhân viên hầu gái" trên 65 tuổi. Mô hình này thay thế sự năng động của giới trẻ bằng sự điềm tĩnh, ấm áp của các cụ bà, tạo không gian "chữa lành" cho những người trẻ kiệt sức vì áp lực. Tại đây, khách hàng tìm thấy sự kết nối thế hệ thay vì dịch vụ giải trí đơn thuần.
Một số quán ở Tokyo cung cấp trải nghiệm cho du khách nhập vai thành hầu gái và phục vụ nhân viên. Thực khách trả khoảng phí 4.000 yen (khoảng 25 USD) cho 90 phút mặc trang phục người hầu, quản gia, phục vụ trà bánh cho nhân viên đóng vai "tiểu thư".
Mô hình cà phê hầu gái trở thành ngành công nghiệp dịch vụ hái ra tiền, thuộc nhóm ngành dịch vụ trong thị trường Otaku. Theo đánh giá từ Viện Nghiên cứu Yano, đơn vị khảo sát thị trường hơn 50 năm hoạt động tại Tokyo, doanh thu từ mô hình này cùng các dịch vụ hóa trang (cosplay) đã chạm mốc hàng trăm tỷ yen vào năm 2025.
Thay vì chỉ bán đồ ăn, đồ uống, các mô hình bán trải nghiệm cảm xúc. Khách hàng sẵn sàng chi trả từ phí vào cửa theo giờ, thực đơn giá cao cho đến các dịch vụ cộng thêm như chụp ảnh lấy liền hay xem biểu diễn sân khấu.
Mai Phương (Theo Soranews24, SCMP, Sixth Tone)
Nguồn: https://vnexpress.net/su-that-mo-hinh-ca-phe-hau-gai-o-nhat-ban-5059230.html

Giữa rất nhiều cuốn sách về du lịch và khám phá, Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không (Nhà xuất bản Thế Giới) của Nguyễn Mạnh Duy xuất hiện như một nỗ lực khác biệt: không kể về hành trình đi đến đâu, mà đào sâu vào câu hỏi đi để hiểu gì. Đây không đơn thuần là một cuốn sách ảnh, mà là một "photography storytelling book" - nơi hình ảnh, ký sự và chiêm nghiệm văn hóa đan cài để mở ra một thế giới vừa hùng vĩ, vừa nội tâm.
Sau hơn một thập kỷ gắn bó với dãy Himalaya, tác giả không chọn cách kể vội vàng. Anh đi, ở lại, quan sát, rồi quay lại - nhiều lần như thế trong suốt 12 năm qua - để tích lũy một "tầng ký ức" đủ dày trước khi chắt lọc thành gần 500 trang sách. Ở đó, Himalaya không chỉ là "nóc nhà thế giới", mà là một hệ sinh thái tinh thần, nơi thiên nhiên, con người và niềm tin hòa quyện vào nhau.
Điểm đặc biệt của cuốn sách không nằm ở việc ghi lại những cảnh quan hùng vĩ - điều mà bất kỳ nhiếp ảnh gia nào đến Himalaya cũng có thể làm. Điều đáng nói là cách Nguyễn Mạnh Duy tổ chức thế giới ấy bằng một hệ quy chiếu riêng: "Mandala ngũ đại".
Theo đó, toàn bộ đời sống Himalaya được nhìn qua năm trụ cột: thiên nhiên, văn hóa, con người, lối sống và đức tin. Năm yếu tố này tương ứng với "Đất - Nước - Lửa - Khí - Không", tạo thành một cấu trúc đa chiều vừa vật chất, vừa tinh thần.
Cách tiếp cận này giúp cuốn sách vượt ra ngoài phạm vi của một ấn phẩm nhiếp ảnh hay du ký. Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không giống một nỗ lực "giải mã", không phải bằng lý thuyết, mà bằng trải nghiệm cá nhân tích lũy qua thời gian dài. Lớp ngoài, độc giả nhìn thấy những dãy núi phủ tuyết, những ngôi làng treo mình giữa mây. Nhưng càng đi sâu, những hình ảnh ấy mở ra đời sống văn hóa bản địa, rồi dẫn đến tầng sâu hơn: đời sống tâm linh, nơi con người đối diện với chính mình.
Nguyễn Mạnh Duy không phải là người xa lạ với Himalaya theo nghĩa thông thường. Anh từng chinh phục những đỉnh núi trên 8.000m, trong đó có Everest - "nóc nhà thế giới".
Nhưng điều đáng chú ý là cuốn sách gần như không đặt trọng tâm vào hành trình "chinh phục". Trái lại, tác giả nhiều lần nhấn mạnh rằng điều giữ chân anh không phải là những đỉnh cao, mà là đời sống văn hóa và tinh thần của vùng đất này.
Có thể nói, đây là sự dịch chuyển từ "chinh phục thiên nhiên" sang "hòa vào thiên nhiên"; từ việc đo đếm bằng độ cao, sang việc cảm nhận bằng chiều sâu. Chính sự dịch chuyển này khiến cuốn sách mang màu sắc chiêm nghiệm rõ rệt - nơi mỗi bức ảnh không chỉ là một khoảnh khắc, mà là một lát cắt của hành trình nội tâm.
Một chi tiết đáng chú ý là phần lớn hình ảnh trong sách được chụp bằng máy ảnh film - một lựa chọn không phổ biến trong thời đại số. Điều này không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là cách tác giả lựa chọn đối thoại với thời gian. Film không cho phép chụp nhiều, không dễ sửa, và mỗi khuôn hình đều mang tính "không thể lặp lại".
Chính vì vậy, mỗi bức ảnh trong sách giống như một dạng "kết tinh" của hành trình, của điều kiện khắc nghiệt, và của sự kiên nhẫn. Như chính tác giả chia sẻ, những cuộn film phải đi qua nhiều hành trình rủi ro, nhưng cũng vì thế mà mỗi hình ảnh trở nên có trọng lượng hơn. Ở đây, nhiếp ảnh không còn là công cụ ghi nhận, mà trở thành một cách lưu giữ ký ức một cách chậm rãi và có ý thức.
Nếu phải tìm một cách định nghĩa ngắn gọn, có thể xem Himalaya: Đất Nước Lửa Khí Không như một "cánh cổng". Cánh cổng ấy mở ra cho độc giả Việt Nam một vùng văn hóa vốn xa xôi, nhưng lại có nhiều điểm chạm với đời sống tinh thần Á Đông: niềm tin, nghi lễ, sự gắn bó với thiên nhiên, và hành trình đi vào nội tâm.
Không dừng lại ở cuốn sách, tác giả còn tổ chức các hoạt động giao lưu, trưng bày, chia sẻ trải nghiệm như một cách kéo gần khoảng cách giữa Himalaya và công chúng trong nước. Ở góc độ này, cuốn sách không chỉ là sản phẩm cá nhân, mà còn là một nỗ lực kết nối văn hóa.
Một trong những điều đáng chú ý là cuốn sách không cố gắng "giải thích" Himalaya theo cách học thuật, mà để người đọc tự cảm nhận. Những hình ảnh, câu chuyện và chiêm nghiệm được đặt cạnh nhau, tạo nên một không gian mở - nơi mỗi người có thể tìm thấy điều riêng cho mình: có người nhìn thấy vẻ đẹp thiên nhiên, có người cảm nhận đời sống con người, có người lại bắt gặp những câu hỏi về chính mình.
Có lẽ vì vậy, cuốn sách không chỉ dành cho những người yêu nhiếp ảnh hay du lịch, mà còn cho những ai quan tâm đến đời sống nội tâm. Theo đó, hành trình đi vào Himalaya - như cách tác giả thể hiện - cũng là hành trình đi vào chính mình.
Nguồn: https://tuoitre.vn/tham-quan-himalaya-cung-nguyen-manh-duy-20260401085843478.htm

