Người phụ nữ sống ở Đống Đa không nhớ mình đã ngồi im bao lâu trong phòng khám, hình ảnh đứa con lớn lên thiếu mẹ hiện ra không dứt. Nhưng tinh thần thép được rèn qua 20 năm một mình bươn chải ở Hà Nội sớm giúp cô tự sốc lại bản thân. Thay vì chìm vào câu hỏi “Tại sao lại là mình?”, Linh chọn cách nhìn đây là bài kiểm tra, không phải bản án.
“Cứ ba tháng tôi tái khám một lần, xem nó như căn bệnh mạn tính để sống chung, chứ không phải để ủ rũ hay trách móc”, cô nói, thêm rằng 6 năm trôi qua vẫn sống khỏe mạnh.
Khác với Linh, Ánh Hoa đối mặt với ung thư máu từ năm 12 tuổi. Trải qua những ngày tháng tuổi thơ gắn liền với giường bệnh cùng hóa chất và nỗi sợ hãi, Hoa quyết định thay đổi tâm thế. Cô coi mỗi đợt truyền thuốc là một cuộc chiến nhỏ cần chinh phục. Sau gần 15 năm kiên trì, cô nhận kết quả đẩy lui bệnh hoàn toàn và hiện là thành viên tích cực của Sáng kiến Ung thư Muối.
Tại Việt Nam, theo số liệu GLOBOCAN 2022, mỗi năm có khoảng 180.480 ca ung thư mới và 120.184 ca tử vong, biến ung thư thành gánh nặng y tế hàng đầu. Song song gánh nặng thể chất là một cuộc khủng hoảng tâm lý âm thầm. Như nghiên cứu của Bệnh viện Quân y 103 trên 264 bệnh nhân tại khoa Ung bướu cho thấy gần 58% người bệnh bị trầm cảm.
Với nhóm trẻ tuổi, hệ quả còn nặng nề hơn. Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Singapore trên 20.000 bệnh nhân cho thấy nhóm 25 đến 30 tuổi có nguy cơ mắc các rối loạn tâm lý suốt đời cao hơn ngay cả sau khi bệnh thuyên giảm, và nhóm từ 15 đến 19 tuổi có nguy cơ tự tử cao hơn đáng kể so với dân số chung.
Bác sĩ Nguyễn Thị Diễm Hương, Phòng khám Hỗ trợ điều trị Ung thư, Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM, cho biết những bệnh nhân vượt xa tiên lượng ban đầu thường có chung một đặc điểm là họ không coi ung thư là án tử hình.
“Họ xem đó là một chặng đường cần vượt qua, từ đó giữ được tâm lý thảnh thơi và năng lượng tích cực ngay cả trong những giai đoạn điều trị nặng nề nhất”, bà nói.
Về mặt sinh học, các nghiên cứu ghi nhận nhóm bệnh nhân này thường duy trì hoạt động miễn dịch tốt hơn, đặc biệt ở tế bào diệt tự nhiên và tế bào lympho T. Ngược lại, bệnh nhân trầm cảm, lo âu kéo dài thường ít tuân thủ phác đồ, bỏ tái khám, khiến bệnh tiến triển nặng hơn và tiên lượng kém hơn.
Y học hiện đại cũng đang thay đổi bức tranh tổng thể. Một số loại ung thư như tuyến giáp, vú, tiền liệt tuyến và đại tràng, nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời, có tỷ lệ sống trên 5 năm vượt 90%. Bác sĩ Hà Hải Nam, Phó trưởng khoa Ngoại bụng 1, Bệnh viện K, nhấn mạnh rằng ngưỡng 5 năm là mốc quan trọng vì tế bào ung thư thường di căn mạnh nhất trong 2-3 năm đầu. Qua mốc đó, ngay cả khi tái phát, bệnh nhân vẫn có thể điều trị hiệu quả nếu phát hiện kịp thời.
Tuy nhiên, bác sĩ Ngô Văn Tỵ, Khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, đưa ra cảnh báo sự lạc quan không nên được áp dụng như một công thức chung. Nhiều loại ung thư vẫn tiến triển nhanh, có thể tái phát và tiên lượng hạn chế. Kỳ vọng thái quá đôi khi dẫn đến trì hoãn những quyết định điều trị quan trọng.
“Và sống lâu hơn không tự động nghĩa là ‘sống tốt hơn’, khi nhiều bệnh nhân phải đánh đổi bằng tác dụng phụ kéo dài, chi phí điều trị lớn và áp lực tâm lý triền miên. Mỗi bệnh nhân cần được đánh giá rất cá thể hóa, không thể mặc định”, ông nói.
Ngày 7/4, bác sĩ Hà Cẩm Thương, Phó khoa Sản khoa tự nguyện Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, cho biết thai kỳ của người phụ nữ lớn tuổi nhiều nguy cơ do tiền sử mổ đẻ cũ, đái tháo đường thai kỳ phải uống insulin hằng ngày.
Đến tuần 37, sản phụ chuyển dạ, chỉ định mổ lấy thai. "Đây là ca mổ đầy nguy cơ, gây tê rất khó khăn", bác sĩ nói. May mắn hai bé chào đời đều khỏe mạnh, phản xạ tốt, sức khỏe sản phụ ổn định.
Bác sĩ cho biết mang thai ở tuổi trên 50, sức khỏe tổng thể và sức đề kháng của người mẹ kém hơn nên mệt mỏi nhiều hơn và dễ gặp các biến chứng như huyết áp cao, tiền sản giật, nhau tiền đạo, đái tháo đường thai kỳ, dọa đẻ non, đẻ non.
Ngoài ra, phụ nữ lớn tuổi thường có các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch... Những bệnh lý này có thể trở nên trầm trọng hơn trong thai kỳ, gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.
Bác sĩ khuyến cáo phụ nữ không nên mang thai khi tuổi cao, đặc biệt mang song thai càng nguy hiểm. Nếu thực hiện IVF thì nên chuyển một phôi, đồng thời phải theo dõi quản lý thai chặt chẽ tại cơ sở y tế chuyên khoa có đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm để đảm an toàn cho cả mẹ và con.
Tại Việt Nam, hầu hết phụ nữ mang thai ngoài 50 tuổi đều nhờ can thiệp hỗ trợ sinh sản. Trường hợp lớn tuổi nhất là sản phụ 61 tuổi, ở Hà Nội, mang thai nhờ thụ tinh trong ống nghiệm từ trứng của người hiến tặng và tinh trùng người chồng, bé gái chào đời năm 2018 nặng 2,6 kg. Một sản phụ khác, 60 tuổi, ở Bắc Giang, sinh con lần ba, cũng nhờ thụ tinh ống nghiệm. Một phụ nữ sinh con trai ở tuổi 58 sau khi mãn kinh được hai năm, phải xin noãn của người khác để thụ tinh trong ống nghiệm.
Xôi là lựa chọn quen thuộc của nhiều người nhờ tiện lợi và tạo cảm giác no lâu. Tuy nhiên, thành phần chính là gạo nếp - loại tinh bột có chỉ số đường huyết cao - khiến món ăn này cần được tiêu thụ hợp lý.
Gạo nếp chứa nhiều amylopectin - loại tinh bột dễ tiêu hóa nhanh. Điều này khiến đường huyết tăng sau ăn.
Ông Hiroyasu Iso, giáo sư y tế công cộng tại Đại học Osaka (Nhật Bản), cho biết chế độ ăn giàu tinh bột tinh chế có liên quan đến nguy cơ cao hơn của bệnh tim mạch và tiểu đường.
Ngoài ra, xôi thường ăn kèm mỡ, thịt, đậu… làm tăng lượng calo đáng kể.
Các chuyên gia cho rằng xôi không chỉ có “mặt trái” về đường huyết mà nếu ăn đúng cách, đây vẫn là món có nhiều điểm tích cực, đặc biệt trong bữa sáng.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), điều quan trọng không nằm ở một thực phẩm riêng lẻ mà ở tổng thể khẩu phần và cách kết hợp thực phẩm.
Cung cấp năng lượng nhanh và “bền”. Xôi từ gạo nếp giàu carbohydrate, giúp bổ sung năng lượng nhanh cho buổi sáng. Nhờ kết cấu dẻo và đặc, xôi cũng giúp duy trì cảm giác no lâu hơn một số món tinh bột khác, phù hợp với người làm việc nặng hoặc cần di chuyển nhiều.
Ít qua chế biến công nghiệp. So với nhiều món ăn sáng hiện đại (đồ chiên, đồ đóng gói), xôi truyền thống thường ít phụ gia hơn, chủ yếu là gạo nếp và nguyên liệu tự nhiên.
Dễ kết hợp thành bữa ăn cân bằng. Xôi có thể “linh hoạt” khi kết hợp với đạm (trứng, thịt, đậu) và rau, từ đó tạo thành bữa sáng đủ chất nếu biết điều chỉnh hợp lý.
Phù hợp với người cần tăng cân hoặc năng lượng cao. Với người gầy, người lao động nặng hoặc vận động nhiều, xôi có thể là nguồn năng lượng tiện lợi và hiệu quả.
Để phát huy mặt tích cực của xôi và hạn chế rủi ro, các chuyên gia khuyến nghị:
Theo Liên đoàn Tiểu đường thế giới (IDF), việc kết hợp tinh bột với protein và chất xơ giúp giảm tốc độ tăng đường huyết sau ăn và cải thiện kiểm soát chuyển hóa.
Như vậy, khi kiểm soát khẩu phần và kết hợp hợp lý, xôi vẫn có thể là một lựa chọn bữa sáng tiện lợi, đủ năng lượng và phù hợp với nhiều đối tượng. Tuy nhiên, người thừa cân, tiểu đường hoặc ít vận động nên hạn chế ăn xôi thường xuyên. Nếu ăn, nên coi đây là bữa phụ thay vì bữa chính lớn.
"Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý", TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
"Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư", ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ "cắt toàn bộ tuyến giáp" sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.