Sáng 18.7, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn – Khơi thông nguồn lực – Thúc đẩy tăng trưởng”. Đây cũng là lần đầu tiên Thường trực Chính phủ khóa mới gặp mặt cộng đồng doanh nghiệp.
Lắng nghe ý kiến từ đại diện cộng đồng doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và FDI, Thủ tướng ghi nhận nhiều ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng cao, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Cộng đồng doanh nghiệp rất trăn trở với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp mình nhưng đồng thời cũng vì lợi ích chung của đất nước.
Theo tổng hợp, có 53 nhóm khó khăn, vướng mắc, kiến nghị, trong đó các kiến nghị đã được xử lý triệt để còn ít. Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương giải quyết dứt điểm ngay những nội dung thuộc thẩm quyền và đã đủ căn cứ pháp lý; vấn đề nào vượt thì báo cáo cấp thẩm quyền để tháo gỡ sớm nhất…
Thủ tướng khẳng định, tất cả những trả lời phản ánh kiến nghị của doanh nghiệp phải được công khai và sẽ được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, VCCI để cộng đồng doanh nghiệp, người dân đánh giá những phản ánh kiến nghị đã được xử lý thỏa đáng chưa.
“Vẫn có tình trạng khi doanh nghiệp hỏi thì các bộ trả lời là theo khoản này, điều này của luật này, nghị định này, thông tư này, đề nghị doanh nghiệp căn cứ quy định pháp luật triển khai. Chúng tôi cho rằng cách làm việc đó cũng tốt nhưng chưa hiệu quả và chưa đi được đến cùng.
Công khai là phương pháp tốt nhất để chúng ta vừa giám sát và vừa đánh giá hiệu quả, các bộ, địa phương không thể trả lời chung chung nữa và cũng thấy trách nhiệm của chính mình trong việc phải xử lý đến cùng”, Thủ tướng chia sẻ.
Đối với các phản ánh, kiến nghị chưa được xử lý thỏa đáng, Thủ tướng yêu cầu VCCI tiếp tục tổng hợp, gửi lên các bộ, cơ quan của Chính phủ để được giải quyết, bảo đảm quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp. Ngoài ra, xây dựng cơ chế, như định kỳ hàng tháng hoặc đột xuất khi cần thiết tổng hợp các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp, gửi các bộ, cơ quan của Chính phủ để kịp thời xử lý…
Thủ tướng đánh giá rất cao những ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp, trong đó có nội dung liên quan phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án năng lượng, điện, nhất là điện gió, điện mặt trời, du lịch, vật liệu xây dựng.
“Tất cả những vấn đề này, Chính phủ đều đã nhận thấy đang có những khó khăn và đang chỉ đạo. Quan trọng nhất là quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch và được hiểu một cách thống nhất, được triển khai một cách đồng bộ từ các bộ, ngành cho đến các địa phương”, Thủ tướng cho biết và nhấn mạnh quan điểm “đồng hành cùng doanh nghiệp; tăng trưởng được hay không là các doanh nghiệp cố gắng”.
Đánh giá về những kết quả đạt được thời gian qua, Thủ tướng cho rằng cả 3 khu vực doanh nghiệp: Nhà nước, tư nhân và FDI đều có bước phát triển mạnh mẽ và chuyển biến tích cực.
Lũy kế đến hết tháng 6, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng quy mô vốn đăng ký đạt trên 30 triệu tỉ đồng, đóng góp hơn 60% GDP, thu hút trên 17,6 triệu lao động, cộng đồng doanh nghiệp đã khẳng định là lực lượng chủ yếu trong phát triển kinh tế, đóng góp 55% tổng thu ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tuy nhiên, theo người đứng đầu Chính phủ, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số – chúng ta cần bước đột phá mạnh mẽ hơn, đặc biệt, cần phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp đầu tàu, doanh nghiệp công nghệ cao trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để tạo năng suất mới, giá trị gia tăng mới và sức bật mới cho nền kinh tế.
Thủ tướng cũng chỉ rõ 5 hạn chế, trong đó, với doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng, tiến độ đầu tư còn chậm, liên kết với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế.
Doanh nghiệp tư nhân chủ yếu nhỏ và vừa; năng lực vốn, quản trị, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị trong nước và toàn cầu còn hạn chế. Với doanh nghiệp FDI, liên kết nội địa lỏng lẻo, chuyển giao công nghệ và nội địa hóa chưa cao.
Ngoài ra, môi trường kinh doanh còn nhiều rào cản, không chỉ trong các luật, thể chế mà còn từ việc thực thi của bộ, ngành, chính quyền địa phương; thị trường vốn, lao động, khoa học công nghệ chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chưa chủ động đóng góp tích cực cho việc hoàn thiện thể chế; ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp chưa cao.
Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh tinh thần cốt lõi của hội nghị là: chuyển mạnh từ nhận diện, tháo gỡ khó khăn sang hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển; từ đối thoại sang hành động quyết liệt; từ cam kết sang kết quả thực chất, cụ thể, có địa chỉ, có thời hạn – tất cả hướng tới hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số một cách bền vững.
“Thể chế không còn là điểm nghẽn nhưng thể chế là nền tảng kiến tạo phát triển mạnh mẽ hơn thì vẫn phải tiếp tục hoàn thiện thời gian tới”, Thủ tướng nói.
Sáng 9.7, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp, cho ý kiến về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Trình bày tờ trình dự thảo nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang nêu rõ, dự án nghị quyết được xây dựng nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Dự thảo gồm 3 chương, 13 điều.
Dự thảo nghị quyết quy định về chính sách xử lý hình sự, gồm không truy cứu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự.
Để thực hiện các chính sách này, điều 9, điều 10 dự thảo nghị quyết quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự để thực hiện.
Để bảo đảm tương ứng với việc xử lý hình sự, điều 11 dự thảo quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang tương ứng với các điều kiện về các chính sách xử lý hình sự quy định từ điều 5 đến điều 8 dự thảo nghị quyết.
Về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện, nghị quyết dự kiến được thực hiện trong 3 năm.
Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 2 năm).
Qua thẩm tra sơ bộ, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính nhất trí trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp không thường lệ thứ nhất, diễn ra trong tháng 8 tới.
Phát biểu kết luận, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị tiếp tục rà soát kỹ lưỡng các quy định trong dự thảo nghị quyết, nhất là các cơ chế, chính sách hình sự đặc thù. Chỉ quy định những nội dung thực sự khác với các luật, nghị quyết hiện hành và thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Phó chủ tịch Quốc hội cũng nhấn mạnh, cần đánh giá đầy đủ tác động, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi, chặt chẽ trong tổ chức thực hiện, tránh tạo khoảng trống pháp lý hoặc phát sinh những vướng mắc trong quá trình áp dụng.
Đồng thời, chuẩn hóa các khái niệm còn chưa rõ nội hàm, mang tính định tính nhằm nâng cao tính minh bạch và thuận lợi trong quá trình tổ chức thực thi.
Đặc biệt, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống quy định, quy trình, thủ tục tố tụng hình sự nhằm cụ thể hóa các chính sách hình sự đặc thù quy định tại dự thảo nghị quyết này, bảo đảm thiết lập được một quy trình tố tụng đủ chặt chẽ, đồng bộ và khả thi, phù hợp với nguồn lực và thực tiễn vận hành của hệ thống tư pháp. Cùng đó, phân định rõ trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, dân sự, giữa trách nhiệm của pháp nhân với cá nhân.
Xử lý nghiêm hành vi cố ý làm trái, tham nhũng, nhưng sẽ khoan hồng, giảm nhẹ đối với phạm vi vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, không vụ lợi, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục hậu quả.
Việc xử lý cần ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng.
Tiếp tục rà soát, bổ sung thời điểm nghị quyết có hiệu lực thi hành và thời hạn thực hiện thí điểm các cơ chế, chính sách đặc thù bảo đảm phù hợp với lộ trình sửa đổi bộ luật Hình sự và bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp các chính sách đặc thù được luật hóa trong luật sửa đổi cần xác định rõ thời điểm nghị quyết hết hiệu lực và phương án chuyển tiếp để tránh chồng chéo hoặc tạo ra khoảng trống pháp lý.
Ông Nguyễn Hồng Diên cũng đề nghị, nghiên cứu phân loại mức độ thiệt hại và quy định ngưỡng mức độ thiệt hại phải báo cáo xin ý kiến cấp có thẩm quyền về định hướng, cơ chế, chính sách đặc thù xử lý các vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tiễn Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân tại sân bay quốc tế Don Mueng (thủ đô Bangkok), có Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul và phu nhân; một số quan chức Chính phủ và Đại sứ Thái Lan tại Việt Nam Urawadee Sriphiromya.
Về phía Việt Nam có Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan Phạm Việt Hùng, cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan.
Trong thời gian thăm chính thức Thái Lan, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm cùng Thủ tướng Thái Lan Anutin Charnvirakul; hội kiến Nhà vua và Hoàng hậu Thái Lan; hội kiến Chủ tịch Quốc hội Thái Lan và dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Thái Lan; chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác; tiếp Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Thái Lan và đại diện một số tập đoàn của Thái Lan.
Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân đã đến dâng hương, dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh (tỉnh Udon Thani); gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan.
Tại cuộc hội đàm, hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường tin cậy chính trị thông qua duy trì tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tất cả các kênh; nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương hiện có; sớm tổ chức kỳ họp Ủy ban hỗn hợp hợp tác song phương giữa hai bộ trưởng Ngoại giao…
Hai bên nhất trí thúc đẩy, làm sâu sắc hơn nữa hợp tác quốc phòng - an ninh, tăng cường phối hợp phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mạng, ma túy và hợp tác bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải.
Hai bên nhất trí đẩy mạnh hợp tác, kết nối kinh tế theo hướng bổ trợ lẫn nhau với những đột phá mới và phát triển mới về chất; phấn đấu sớm đưa kim ngạch thương mại song phương từ mức 22 tỉ USD hiện nay lên 25 tỉ USD theo hướng cân bằng, bền vững, đẩy nhanh các thủ tục cấp phép, mở cửa thị trường cho một số sản phẩm nông nghiệp tiềm năng.
Hai bên nhất trí tiếp tục tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan và cộng đồng người Thái Lan tại Việt Nam; đẩy mạnh giảng dạy tiếng Việt tại Thái Lan và tiếng Thái tại Việt Nam để tăng cường hiểu biết lẫn nhau; bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử, văn hóa gắn với quan hệ hữu nghị giữa hai nước, trong đó có các khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan.
Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, phát huy vai trò trung tâm của ASEAN và củng cố đoàn kết nội khối, tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mekong. Hai bên đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển (UNCLOS) năm 1982.
Hai bên nhất trí chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương triển khai các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm, đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển thực chất và hiệu quả trong thời gian tới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam đánh giá cao vai trò và những đóng góp của Ấn Độ đối với hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực; luôn coi Ấn Độ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, ủng hộ Ấn Độ tiếp tục phát huy vai trò lớn hơn tại khu vực và thế giới; ủng hộ và sẵn sàng tham gia tích cực vào các sáng kiến toàn cầu của Ấn Độ và làm cầu nối hỗ trợ Ấn Độ tăng cường hợp tác với khu vực, qua đó góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định, thượng tôn luật pháp quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có quan hệ hữu nghị truyền thống, tin cậy chính trị cao; việc hai bên nhất trí nâng tầm quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường có ý nghĩa quan trọng giúp củng cố tin cậy chính trị và mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng trong nhiều lĩnh vực; đề nghị hai bên tiếp tục tăng cường hơn nữa trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư; mở rộng hợp tác khoa học, công nghệ, tăng cường kết nối, giao lưu nhân dân giữa hai nước.
Bộ trưởng Rajnath Singh cho biết, chuyến thăm diễn ra ngay sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thể hiện mong muốn và cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Ấn Độ trong việc thực hiện các thỏa thuận cấp cao và thúc đẩy quan hệ hai nước.
Bộ trưởng cho biết lãnh đạo cấp cao và dư luận, truyền thông Ấn Độ rất ấn tượng với kết quả chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước; khẳng định chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt, mở ra chương hợp tác sâu rộng, chiến lược mới trong quan hệ song phương.
Bộ trưởng khẳng định Việt Nam là một trong những đối tác quan trọng nhất trong chính sách “Hành động hướng Đông” và các chiến lược phát triển quan hệ với khu vực của Ấn Độ; đánh giá cao vai trò, vị thế cũng như những đóng góp tích cực, chủ động của Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác khu vực.
Bộ trưởng khẳng định Ấn Độ sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng giữa hai nước, mở rộng các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực chất lượng cao, cam kết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Việt Nam hoàn tất các dự án hợp tác đang triển khai trong khuôn khổ các gói tín dụng và hỗ trợ quốc phòng hiện có và xem xét tiếp tục cung cấp gói hỗ trợ mới phù hợp với nhu cầu và năng lực mỗi bên.
Bộ trưởng cũng nhất trí sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành liên quan của Ấn Độ để thúc đẩy hơn nữa hợp tác khoa học công nghệ, tăng cường kết nối hàng không, hàng hải giữa hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ nhấn mạnh Việt Nam và Ấn Độ có tầm nhìn chung về các vấn đề thế giới, khu vực; sẽ tiếp tục duy trì trao đổi đoàn, phát huy các cơ chế đối thoại giữa hai nước, trong đó có cơ chế tham vấn giữa hai Bộ Quốc phòng, tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp lập trường trong các vấn đề khu vực, quốc tế và tại các diễn đàn đa phương, nhất là các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM +).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ tin tưởng rằng với quyết tâm của lãnh đạo hai nước, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ bước vào kỷ nguyên mới, vì lợi ích của nhân dân hai nước và đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.