Trong thông báo tuyển sinh hôm 28/4, trường THPT Phan Huy Chú – Đống Đa, phường Láng, cho biết sẽ thưởng 50 triệu đồng nếu học sinh đạt giải nhất cấp tỉnh hoặc là thủ khoa đầu vào kèm điểm học bạ ba môn Toán, Văn, Anh từ 9,2 trở lên.
Cùng đó, trường còn trao học bổng 25 và 12,5 triệu đồng, dành cho học sinh trong top 2 hoặc 3 về điểm thi đầu vào lớp 10. Điều kiện học bạ lần lượt là 9,1 và 9.
Phan Huy Chú – Đống Đa là trường THPT công lập chất lượng cao, được tuyển theo phương thức riêng là xét học bạ và dùng điểm thi lớp 10 của Sở. Chỉ tiêu năm nay là 400, học phí 6,1 triệu đồng một tháng – cao nhất trong khối trường công.
Trước đó, trường THPT Tự Lập, xã Tiến Thắng, cũng treo thưởng 10 triệu đồng cho thủ khoa đầu vào lớp 10 năm nay của trường. Top 10 điểm cao tiếp theo được thưởng 500.000 đồng mỗi em.
Trường cho biết việc này nhằm thu hút học sinh giỏi, xây dựng lớp mũi nhọn.
Tương tự, trường THPT Đỗ Mười, phường Yên Sở, thông báo tặng xe máy điện cho thủ khoa. Hiệu trưởng Đỗ Văn Nam cũng chia sẻ phần thưởng nhằm thu hút học sinh giỏi, tạo động lực cố gắng cho các em.
Đây là trường công lập mới ở thủ đô, vừa tuyển sinh năm ngoái. Năm nay, hơn 900 em đặt nguyện vọng 1, khi chỉ tiêu là 675.
Năm nay, gần 125.000 trong tổng số 147.000 em tốt nghiệp THCS đăng ký thi lớp 10 công lập ở Hà Nội. Với chỉ tiêu là hơn 82.600, tỷ lệ đỗ khoảng 56%
Kỳ thi diễn ra ngày 30/5-1/6. Điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 công lập ở Hà Nội dự kiến được công bố từ ngày 19 đến 22/6.
Tin Gốc: Vnexpress

Với gần 2,6 triệu học sinh (HS) và khoảng 180.000 cán bộ, giáo viên (GV), nhân viên tại 3.428 cơ sở giáo dục các cấp, hệ thống giáo dục của TP.HCM có quy mô lớn nhất cả nước và đang đứng trước áp lực kép từ việc sáp nhập và biến động dân số.
Tính trung bình mỗi năm TP.HCM tăng cơ học từ 50.000-60.000 HS và khoảng 24% HS không thường trú. Điều này dẫn tới quá tải cục bộ ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới; từ đó phá vỡ sĩ số chuẩn, cản trở mục tiêu học 2 buổi/ngày và chỉ tiêu trường đạt chuẩn quốc gia.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT, cho biết tính đến nay tỷ lệ trung bình toàn TP đạt con số 277 phòng học/10.000 dân. Tuy nhiên số trung bình này đang che lấp sự đứt gãy hạ tầng tại khu vực Bình Dương cũ và các vành đai công nghiệp.
Cụ thể, theo thống kê từng khu vực của Sở GD-ĐT TP.HCM, khu vực 1 (TP.HCM cũ) đã tiệm cận chuẩn, đạt 297 phòng/10.000 dân và "điểm nóng" rơi vào địa bàn các quận 12, Gò Vấp, các huyện Hóc Môn, Bình Chánh trước sáp nhập.
Khu vực 2 (Bình Dương cũ) chỉ đạt khoảng 200 phòng/10.000 dân, được coi là "báo động đỏ", mất cân đối trầm trọng với tốc độ tăng dân số cơ học cực cao do địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất.
Trong khi đó, khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) đã vượt chuẩn với tỷ lệ 316 phòng/10.000 dân và chỉ thiếu hụt cục bộ ở một số ít phường, xã.
Số liệu của Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy sau sáp nhập, một số phường tồn tại tình trạng quá tải trường, lớp. Chẳng hạn tại P.Dĩ An, Trường THCS Võ Trường Toản có 99 lớp với 4.534 HS; Trường THCS Dĩ An có 78 lớp với 3.643 HS.
Hay tại P.An Phú có 8 trường công lập, gồm 2 trường mầm non, 5 trường tiểu học nhưng chỉ có 1 trường THCS. Trong đó cấp tiểu học với 232 lớp/10.625 HS nhưng chỉ 142 lớp/6.460 HS được học 2 buổi/ngày. Cấp THCS có 1 trường là Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi với 103 lớp/4.658 HS, song chỉ có 54 phòng học, số phòng học không đáp ứng đủ số lớp nên chỉ học được 1 buổi/ngày.
Báo cáo từ P.An Phú cho thấy đầu năm học 2025-2026, dân số cơ học tăng nhanh kéo theo trung bình mỗi năm tăng thêm gần 2.000 HS, gây quá tải trường lớp, sĩ số trung bình 48-52 HS/lớp. Đa số các trường phải tận dụng tất cả các phòng chức năng để làm phòng học, gặp khó khăn khi dạy học 2 buổi/ngày.
Tại khu vực 1 có Trường tiểu học Ngô Quyền (Q.Bình Tân cũ) là trường công lập có đông HS nhất TP. Trường có 109 lớp với tổng số hơn 5.000 HS, sĩ số trung bình khoảng 47 HS/lớp. Tình trạng quá tải trường, lớp khiến các nhà trường gặp khó khăn trong việc bố trí lớp học và giảng dạy.
Theo Sở GD-ĐT, thời gian qua TP đã chỉ đạo ngành GD-ĐT rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với quy mô dân số từng địa bàn, thực hiện phân tuyến tuyển sinh hợp lý. Đồng thời đưa các dự án xây dựng mới, cải tạo, mở rộng trường học vào kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bên cạnh đó, TP.HCM tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học; bố trí, bổ sung đội ngũ GV; từng bước giảm sĩ số HS/lớp theo lộ trình quy định của Bộ GD-ĐT.
Sở cho hay khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc chủ động rà soát quỹ đất, lập quy hoạch và đề xuất đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học và THCS thuộc thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp của chính quyền cấp xã.
Sở GD-ĐT đề nghị các địa phương trực tiếp chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xử lý theo thẩm quyền. Cụ thể, khẩn trương rà soát tình hình thực tế về mạng lưới trường lớp, quỹ đất giáo dục và nhu cầu học tập, học bán trú của HS trên địa bàn để có phương án bố trí nguồn lực đầu tư phù hợp. Tổ chức làm việc, đối thoại trực tiếp để làm rõ nội dung kiến nghị và thông tin cụ thể về kế hoạch đầu tư công trung hạn, các dự án trường học dự kiến triển khai và các giải pháp tạm thời nhằm đảm bảo quyền lợi học tập cho HS.
Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu cho biết từ nay đến hết năm 2026, TP dự kiến đưa vào sử dụng thêm 1.200 phòng học, năm 2027 thêm 1.500 phòng, cơ bản đáp ứng nhu cầu chỗ học vào cuối năm 2027; phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ lệ 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học.
Giai đoạn từ 2026-2030, TP.HCM cần 17.483 phòng học, trong khi khả năng đáp ứng hiện chỉ đạt 12.814 phòng, dẫn đến thiếu hụt 4.669 phòng.
Liên quan đến công tác xây dựng trường lớp tại TP.HCM, vào giữa tháng 4, ông Nguyễn Phước Lộc, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN TP.HCM, có buổi làm việc với đại diện các sở, ngành, UBND 168 phường, xã, đặc khu về công tác xây dựng trường học.
Tại buổi làm việc này, Phó chủ tịch HĐND TP.HCM Huỳnh Thanh Nhân đề nghị các địa phương rà soát tất cả quỹ đất giáo dục, siết chặt quản lý đối với kế hoạch xây dựng trường học trong các dự án đầu tư bất động sản, không để xảy ra tình trạng đất xây trường bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Đặc biệt, để hoàn thành mục tiêu 80% trường học đạt chuẩn quốc gia vào năm 2030 thì các dự án xây dựng mới trường học triển khai trong giai đoạn này phải đảm bảo chuẩn quốc gia.
Phó giám đốc Sở Tài chính TP.HCM Lai Xuân Đạt cho hay hiện nay nguồn vốn dành cho giáo dục đã được TP chỉ đạo bổ sung khoảng 65.000 tỉ đồng để chuẩn bị cho công tác xây dựng trường lớp. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu, lãnh đạo các phường, xã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định quy hoạch phù hợp và chọn vị trí xây dựng; xác định quy mô xây dựng, thời gian hoàn thành và dự kiến nguồn vốn. Trên cơ sở đề xuất của UBND xã, phường, sở GD-ĐT tổng hợp thành danh mục ưu tiên. Sở Tài chính sẽ tham mưu với UBND TP cân đối ngân sách để đảm bảo không thiếu chỗ học.
Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đề nghị Sở GD-ĐT làm đầu mối tổng hợp nhu cầu trường lớp theo từng cấp học để điều tiết hợp lý trên toàn địa bàn, tránh đầu tư cục bộ. Đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, cải thiện môi trường học tập, khắc phục tình trạng trường lớp chật hẹp, thiếu sân chơi, đảm bảo cả 2 yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Chỉ đạo về công tác xây dựng trường lớp, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu ngành giáo dục và các địa phương đánh giá sát thực trạng hệ thống trường lớp theo từng cấp học, từng địa bàn. Trên cơ sở đó, chủ động đề xuất giải pháp bảo đảm đủ trường lớp cho HS trên địa bàn.
Về tổ chức thực hiện, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu rà soát, xác định quỹ đất phát triển giáo dục và phải hình thành danh mục hoàn thiện theo hướng đồng bộ giữa các địa bàn, làm rõ hơn mức độ sẵn sàng triển khai của từng khu đất và gắn chặt hơn với danh mục dự án, tiến độ thực hiện và khả năng bố trí nguồn lực; không dàn trải; có trọng tâm, trọng điểm.
Phó bí thư Thành ủy TP.HCM nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt: "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, cho tương lai; xác định GD-ĐT là một trong những cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của TP; giáo dục phải bảo đảm công bằng, toàn diện, không rào cản, hướng tới nền giáo dục tiên tiến, hội nhập quốc tế".
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Chuẩn mực khảo thí: Ranh giới giữa học hỏi và sao chép khi xây dựng đề thi

Trước ý kiến cho rằng có sự tương đồng giữa một số câu hỏi logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm nay của ĐH Quốc gia TP.HCM với câu hỏi của các bài thi quốc tế, chiều qua (29.5), ĐH này cho biết đã tiến hành rà soát, thẩm định và đánh giá các câu hỏi phần logic trong đề thi, thành lập Hội đồng rà soát câu hỏi thi...
Từ đó hội đồng rà soát nhận định: "Sự tương đồng về dạng thức logic không phải là căn cứ để kết luận một câu hỏi được dịch hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của bài thi khác. Thực tế, trong nhiều kỳ thi chuẩn hóa quốc tế, các câu hỏi cùng dạng logic có thể có cấu trúc suy luận tương tự nhưng khác nhau về ngữ cảnh, dữ kiện và cách triển khai nội dung".
Trên cơ sở đó, ĐH Quốc gia TP.HCM khẳng định chưa ghi nhận căn cứ cho thấy các câu hỏi phần logic trong đề thi đánh giá năng lực đợt 2 năm 2026 là bản dịch nguyên dạng hoặc sao chép trực tiếp từ câu hỏi của các bài thi nước ngoài.
Tuy nhiên, vụ việc này lại đặt ra một câu hỏi rộng hơn và có ý nghĩa lâu dài hơn đối với lĩnh vực khảo thí: đâu là ranh giới giữa học hỏi và sao chép trong quá trình xây dựng đề thi?
Trước hết cần nhìn nhận rằng khảo thí là một lĩnh vực khoa học mang tính quốc tế rất cao. Những nguyên lý về đo lường, đánh giá năng lực và thiết kế câu hỏi được hình thành, kiểm chứng và phát triển thông qua cộng đồng học thuật toàn cầu.
Vì vậy, việc những người làm khảo thí ở Việt Nam nghiên cứu các kỳ thi như SAT, LSAT hay PISA là điều hoàn toàn bình thường. Trên thực tế, nếu không học hỏi từ những thành tựu đã được kiểm chứng của thế giới thì mới là điều đáng lo ngại.
Các lý thuyết khảo thí thường khá trừu tượng. Muốn hiểu thế nào là một câu hỏi đánh giá tư duy tốt, người ta không chỉ đọc sách lý thuyết mà còn phải nghiên cứu những đề thi đã vận hành thành công trong thực tế. Chính vì vậy, các đề thi quốc tế từ lâu đã trở thành nguồn học liệu quan trọng đối với những người làm nghề.
Nói cách khác, tham khảo các đề thi quốc tế không phải là vấn đề. Vấn đề nằm ở cách thức tham khảo.
Trong những kỳ thi như LSAT (kỳ thi chuẩn hóa đầu vào các trường luật tại Mỹ và Canada, nổi tiếng với các câu hỏi tư duy logic phức tạp), mỗi câu hỏi thường được xây dựng rất công phu. Có thể hình dung phần logic cốt lõi của câu hỏi như một "bộ xương", còn tên nhân vật, bối cảnh hay câu chuyện bên ngoài chỉ là phần "da thịt" bên ngoài.
Nếu một câu hỏi được sao chép nguyên vẹn cả bộ xương lẫn lớp da thịt bên ngoài (có thể đã cho thay đổi quần áo bên ngoài một chút) thì vấn đề đã rõ ràng. Nhưng trong thực tế, phần lớn tranh luận lại nằm ở vùng trung gian phức tạp hơn. Người biên soạn có thể học hỏi cấu trúc tư duy phía sau rồi phát triển thành những phiên bản mới với dữ liệu và bối cảnh khác.
Chính ở khoảng giữa này mà ranh giới giữa học hỏi và sao chép trở nên khó xác định hơn. Đó cũng là lý do những tranh luận như hiện nay không thể chỉ được giải quyết bằng cảm giác "giống" hay "không giống".
Trong khoa học cũng như trong giáo dục, hầu như không có ai làm việc hoàn toàn từ con số không. Chúng ta đều học hỏi từ những người đi trước. Điều quan trọng không phải là ý tưởng ban đầu xuất phát từ đâu, mà là người sử dụng ý tưởng đó đã đóng góp thêm điều gì, đã phát triển nó đến mức nào và đã tạo ra giá trị mới ra sao.
Chính vì vậy, khi đánh giá một câu hỏi có phải là sao chép hay không, giới chuyên môn thường không chỉ nhìn vào sự giống nhau bề mặt mà còn xem xét mức độ chuyển hóa, mức độ sáng tạo và vai trò của câu hỏi đó trong toàn bộ hệ thống đánh giá.
Trong thực tế giáo dục, một chuyên gia giỏi thường đồng thời đảm nhận nhiều vai trò khác nhau. Họ là giảng viên, hiểu rõ các nguyên lý đánh giá và biết thế nào là một câu hỏi tốt. Họ cũng có thể tham gia hoạt động luyện thi. Trong vai trò này, họ nghiên cứu những dạng câu hỏi đã được chứng minh là hiệu quả, phân tích cấu trúc của chúng rồi tạo ra nhiều câu hỏi tương tự để người học luyện tập. Đó là công việc hoàn toàn chính đáng.
Nhưng đôi khi chính những người này lại được mời tham gia xây dựng ngân hàng đề cho một kỳ thi chính thức. Và lúc đó vai trò nghề nghiệp của họ đã thay đổi.
Họ vẫn cần học hỏi từ các tổ chức khảo thí lớn trên thế giới, nhưng điều cần học là nguyên lý, phương pháp và triết lý đánh giá. Điều mà một cơ quan khảo thí cần xây dựng về lâu dài là một ngân hàng câu hỏi đủ độc lập để trở thành chuẩn mực của chính mình.
Sự khác biệt nằm ở chỗ: nếu thành công của một trung tâm luyện thi được đo bằng khả năng giúp học sinh nhận diện và dự đoán các dạng câu hỏi có thể xuất hiện trong kỳ thi, thì thành công của một cơ quan khảo thí lại nằm ở khả năng bảo đảm rằng đề thi của mình không thể bị dự đoán trước.
Lý do rất đơn giản. Nếu đề thi trở nên quá dễ đoán, lợi thế sẽ ngày càng nghiêng về những thí sinh có điều kiện tham gia các khóa luyện thi chuyên biệt. Khi đó, kết quả thi có nguy cơ phản ánh mức độ luyện tập nhiều hơn là năng lực thực sự của người học.
Đây mới là điểm đáng suy nghĩ nhất trong toàn bộ cuộc tranh luận hiện nay.
Tất nhiên, đây chỉ là một giả thuyết để suy nghĩ chứ không phải một kết luận về vụ việc đang được nhắc đến. Tuy nhiên, với tư cách một người từng tham gia công việc liên quan đến khảo thí, tôi cho rằng đôi khi những tranh luận như thế này có thể xuất phát từ sự mờ nhạt giữa các vai trò nghề nghiệp.
Một thực hành hoàn toàn hợp lý trong môi trường dạy học hoặc luyện thi chưa chắc đã còn phù hợp khi được đưa vào môi trường khảo thí chính thức. Người biên soạn hoàn toàn có thể không có bất kỳ ý định sao chép nào. Họ chỉ đang mang theo những thói quen nghề nghiệp vốn phù hợp ở vai trò giảng dạy hoặc luyện thi sang một vai trò khác đòi hỏi những chuẩn mực cao hơn về tính độc lập của câu hỏi và ngân hàng đề.
Nếu không có những quy định đủ rõ ràng về nguồn tham khảo, mức độ chuyển thể được phép và trách nhiệm của người viết câu hỏi, những sự nhầm lẫn như vậy hoàn toàn có thể xảy ra.
Vấn đề tranh luận hiện nay là cơ hội để các đơn vị khảo thí nhìn lại quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi của mình. Những quy định rõ ràng hơn về việc tham khảo các nguồn quốc tế, về tiêu chuẩn đối với người biên soạn câu hỏi, về cơ chế phản biện chuyên môn và về tính độc lập của ngân hàng đề có thể giúp tránh những tranh luận tương tự trong tương lai.
Khảo thí suy cho cùng là câu chuyện của niềm tin công chúng. Một kỳ thi lớn không được đánh giá bằng việc có hay không có tranh cãi, mà bằng cách những người có thẩm quyền ứng xử trước những tranh cãi ấy. Sự minh bạch, tinh thần cầu thị, những quy trình giám sát chặt chẽ và khả năng tự điều chỉnh khi cần thiết mới là nền tảng tạo nên uy tín lâu dài của một tổ chức khảo thí.
Nếu nhìn theo hướng đó, vụ việc hiện nay không chỉ là một tranh cãi về vài câu hỏi cụ thể. Nó cũng là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực nghề nghiệp, củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm rằng mọi thí sinh đều được đánh giá trong một môi trường công bằng và đáng tin cậy.
Tin Gốc: Thanh Niên

Có mặt tại một cửa hàng tiện lợi trên đường Nguyễn Đình Chiểu, P.Bàn Cờ, TP.HCM vào giờ tan học buổi chiều, chúng tôi quan sát nhiều học sinh (HS) mặc đồng phục các trường THCS, THPT vào lựa các món ăn xế, sau đó mở điện thoại, quét mã thanh toán trên các ứng dụng. Chỉ thi thoảng mới có một vài HS dùng tiền mặt để trả. Vào nhiều thời điểm trong ngày, tại nhiều quán cà phê, trà sữa, gà rán, thậm chí là các xe bánh tráng trộn ở cổng trường, HS cũng quét mã tính tiền.
Chị Thái Trang, phụ huynh có con học lớp 12, Trường THPT Gia Định (TP.HCM), cho biết hiện nay mỗi khi vợ chồng chị cho con tiền tiêu vặt, con đều kêu chuyển khoản. Tiền lì xì hay tiền được cho tặng, con cũng đổi cho cha mẹ để chuyển vào tài khoản, dùng đặt xe, đặt đồ ăn…
Nguyễn Thái Hồng Ngọc, HS lớp 12, Trường THPT Phú Nhuận, cho hay theo quan sát, trải nghiệm cá nhân của em, HS, sinh viên hiện nay không sử dụng tiền mặt mà hình thành thói quen chuyển khoản. Các ví điện tử, app thanh toán của các ngân hàng đã trở nên phổ biến trong giới trẻ. Một phần vì tiện lợi, một phần HS không thích giữ tiền mặt trong người.
"Bạn bè em thường xuyên nhờ nhau đổi từ tiền mặt sang tài khoản để chuyển cho shipper. Nhưng căn tin trường em lại không nhận chuyển khoản mà chỉ nhận tiền mặt, nên mỗi sáng khi muốn xuống căn tin, mọi người lại tất bật đổi sang tiền mặt. Người trẻ hiện nay dường như "không xu dính túi", từ các khoản nhỏ như tiền gửi xe, mua rau củ ở chợ truyền thống cho tới đi ăn uống, mọi người đều quét mã, chuyển khoản", Ngọc cho hay.
Theo Ngọc, các ứng dụng ngân hàng, ví điện tử được HS, sinh viên ưa chuộng vì nhiều bên có các mã ưu đãi/giảm giá để được hoàn tiền; đi đâu cũng không cần mang theo ví lỉnh kỉnh mà chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh. "Dù vậy, cũng có những lúc dở khóc dở cười khi điện thoại không có kết nối internet, mọi người phải tìm cách có wifi mới thanh toán được. Bên cạnh đó, đối với một số ngân hàng thường xuyên bảo trì thì càng bất tiện". Nữ sinh lớp 12 cũng nhận ra sẽ có một số nguy cơ mất an toàn, xuất hiện chủ yếu khi người dùng bật mã QR thanh toán, người đứng sau có thể thấy mã này và chụp lại để có thể rút tiền từ tài khoản, hoặc nguy cơ bị lừa đảo trực tuyến…
Chị Hoàng Thị Mẫn, làm việc tại Tập đoàn Ngân Tín và có con gái đang học lớp 11 tại TP.HCM, cho hay từ đầu năm học này, chị cho con mở tài khoản trực tuyến. Hằng tuần, chị chuyển khoản các phần tiền cho con để ăn sáng, uống nước cũng như các chi phí đi siêu thị mua đồ ăn cho 3 mẹ con trong 1 tuần. "Từ khi con vào lớp 10, tôi đã hướng dẫn con nấu ăn, đi siêu thị, chi tiêu. Ví dụ mỗi tuần tôi chuyển cho con 1 triệu đồng, để mua đủ thực phẩm nấu ăn trong 7 ngày. Hiện nay, con quản lý tiền tốt hơn, còn biết chừa ra khoản dự phòng, phòng trường hợp mẹ chậm lương", chị Mẫn kể.
Chị nhìn nhận nên dạy con quản lý tài chính từ nhỏ, bởi hiện nay trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, HS đã được dạy về tiền tệ, nhận biết tiền. Từ lớp 2, lớp 3, HS được dạy tính toán sản phẩm phù hợp giá tiền lồng ghép trong môn toán, hoạt động trải nghiệm… "Dạy về quản lý tài chính không chỉ là dạy tiêu tiền, tiết kiệm tiền mà còn dạy để trẻ hiểu giá trị của đồng tiền, hiểu rằng cha mẹ lao động vất vả để kiếm được, từ đó con biết trân trọng, sớm nuôi dưỡng ước mơ, động lực để sau này có công việc làm tốt, thu nhập chân chính của riêng mình", chị Mẫn chia sẻ.
Bà Nguyễn Thị Song Trà, Giám đốc Công ty TNHH giáo dục và đào tạo TH (THedu), cho rằng trong dòng chảy hiện đại, không thể ngăn cản HS dùng tiền, hoặc ngăn cấm dùng các ví điện tử/app ngân hàng mà quan trọng là cách cha mẹ nói chuyện với con về sử dụng tiền đúng cách, hợp lý, tùy theo lứa tuổi. Ví dụ dạy con nên mua hàng hóa ở đâu, mua bao nhiêu là đủ, nhận diện sản phẩm an toàn, bảo mật tài khoản, hay cùng con giải những bài toán như xây dựng kế hoạch chi tiêu cho chuyến du lịch hè với số tiền 2 triệu đồng… "Khi con cái ở tuổi HS phổ thông, kinh nghiệm là không nên cho con quá nhiều tiền, phòng tránh nhiều nguy cơ, rủi ro lừa đảo cũng như bắt nạt trực tuyến, bắt nạt học đường", bà Trà nói.
Nguyễn Thái Hồng Ngọc cho rằng HS cần được giáo dục về tài chính từ tiểu học vì thực tế, đã có nhiều trường hợp HS tiểu học bị phát hiện lấy trộm tiền của phụ huynh để tiêu xài. Ngọc đề xuất nội dung giáo dục tài chính cần có sự đột phá, thú vị trong cách truyền tải để thông điệp đến với HS một cách tự nhiên, không gượng ép.
Thạc sĩ Trần Việt An, giảng viên Khoa Marketing, ĐH Kinh tế quốc dân, cho biết việc HS phổ thông được phụ huynh cho phép tự quản lý tiền tiêu dùng sớm và sử dụng ví điện tử là xu hướng dễ hiểu trong bối cảnh thanh toán số đã trở nên phổ biến tại VN.
Theo Ngân hàng Nhà nước, năm 2025, VN có hơn 30 triệu tài khoản ví điện tử đang hoạt động, cho thấy ví điện tử không còn là công cụ xa lạ, mà đã đi vào đời sống tiêu dùng hằng ngày, đặc biệt tại các đô thị lớn, nơi HS thường xuyên mua đồ ăn, đặt xe, mua sắm online hoặc thanh toán các dịch vụ nhỏ qua điện thoại.
"Ở mặt tích cực, việc cho HS tiếp cận ví điện tử có thể giúp các em hình thành kỹ năng tài chính cá nhân sớm hơn: biết theo dõi số dư, lập kế hoạch chi tiêu, phân biệt nhu cầu và mong muốn, cũng như giảm rủi ro khi mang nhiều tiền mặt. Với phụ huynh, ví điện tử cũng tạo điều kiện chuyển tiền nhanh, kiểm tra lịch sử giao dịch và hỗ trợ con trong những tình huống cần thiết. Vì vậy, vấn đề không nằm ở chỗ có nên cho dùng hay không, mà là cho dùng ở mức độ nào, cách kiểm soát ra sao", thạc sĩ An nói.
Song, theo giảng viên ĐH Kinh tế quốc dân, HS dưới 18 tuổi vẫn là nhóm mà khả năng tự kiểm soát tài chính và nhận diện rủi ro số chưa hoàn thiện. Các em dễ bị tác động bởi khuyến mại, mã giảm giá, mua sắm dưới dạng trò chơi, áp lực bạn bè hoặc tâm lý mua theo "trend". Khi thanh toán chỉ cần vài thao tác trên điện thoại, các bạn cũng dễ mất cảm giác cân nhắc như khi sử dụng tiền mặt. "Môi trường tiêu dùng số hoàn toàn có thể khiến HS bị lừa đảo, giả danh, dẫn dụ, bắt nạt hoặc ép chuyển tiền trực tuyến", ông An cảnh báo.
Do đó, theo ông An, phụ huynh nên coi ví điện tử là công cụ giáo dục tài chính có giám sát, không phải một chiếc ví tự do. Một số nguyên tắc cần thiết phải đặt ra: giới hạn hạn mức theo tuần hoặc theo tháng; không liên kết trực tiếp với tài khoản ngân hàng có số dư lớn; bật xác thực sinh trắc học, OTP và thông báo giao dịch; kiểm tra lịch sử chi tiêu định kỳ; hướng dẫn HS không chuyển tiền cho người lạ, không bấm vào đường dẫn lạ, không chia sẻ mã OTP/mật khẩu và phải báo ngay với bố mẹ khi bị đe dọa, tống tiền hoặc ép giữ bí mật.
"Ngay cả sinh viên ĐH vẫn có thể bị lừa đảo trực tuyến nên với HS phổ thông, sự đồng hành của gia đình là điều bắt buộc. An toàn tài chính số cho HS không chỉ là vấn đề công nghệ mà là cả một vấn đề mang tính giáo dục", ông An nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

