Cuộc thi Đường đến thành công do Phân hiệu Trường đại học Giao thông vận tải tại TP.HCM tổ chức từ năm 2023, dành cho học sinh THPT.
Vòng bán kết và chung kết cuộc thi học thuật “Đường đến thành công” cấp liên tỉnh năm 2026 còn mang đến những màn đấu trí gay cấn khi các đội liên tục ấn chuông giành quyền trả lời, thể hiện sự am hiểu ở cả lĩnh vực khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội.
Đáng chú ý, tại chặng 2 của vòng bán kết, các thí sinh bước vào thử thách giải mã các mảnh ghép thông qua những từ khóa gợi mở thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Với các dữ kiện như Isaac Newton, Michael Faraday, Charles Darwin hay “quân chủ lập hiến”, các đội phải nhanh chóng liên kết thông tin để tìm ra đáp án chính xác là “nước Anh”.
Tại vòng chung kết, 4 đội thi xuất sắc nhất tiếp tục tranh tài qua nhiều phần thi với hệ thống câu hỏi trải rộng trên nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, địa lý, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch, khoa học – kỹ thuật trong nước và quốc tế.
Bên cạnh đó, các đội còn đối mặt với những câu hỏi đòi hỏi phản xạ nhanh, tư duy logic, bài toán mẹo, kiến thức thời sự và các nội dung mang tính ứng dụng cao trong đời sống. Nhiều câu hỏi cũng gắn với văn hóa, lịch sử, địa lý, du lịch cùng những dấu ấn phát triển đặc trưng của các địa phương.
Năm nay, vòng chung kết cấp liên tỉnh quy tụ các đội đoạt giải nhất tại địa phương đến từ tỉnh Vĩnh Long, TP.HCM, Tây Ninh, Khánh Hòa, Đắk Lắk và Gia Lai. Theo thống kê từ ban tổ chức, từ tháng 12-2025 đến nay, các vòng thi cấp địa phương đã thu hút 124 đội thi đến từ 106 trường THPT.
Giành giải á quân tại hội thi, bạn Trí Ngọc, học sinh Trường THPT chuyên Lê Văn Chánh (Đắk Lắk), cho biết em cảm thấy rất vui và tự hào khi cùng đồng đội đi đến vòng cuối cùng và đạt thành tích cao tại sân chơi học thuật liên tỉnh năm nay. Theo Ngọc, không khí sôi động, náo nhiệt tại hội trường đã tiếp thêm động lực để cả đội nỗ lực hết mình qua từng phần thi.
Kết quả chung cuộc, quán quân thuộc về Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn (Khánh Hòa), trong khi Trường THPT chuyên Lê Văn Chánh (Đắk Lắk) giành ngôi á quân.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn toán phân hóa rõ rệt giữa các vùng miền

Đối sánh môn toán giai đoạn 2021-2025 cho thấy chất lượng có sự phân hóa rõ giữa các vùng, miền, thậm chí trong nhóm thành phố trực thuộc T.Ư cũng tồn tại khoảng cách đáng kể. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận sâu hơn, không chỉ ở điểm thi mà ở cấu trúc chất lượng dạy học và các yếu tố hệ thống phía sau.
Trong thời đại công nghiệp 4.0, khi trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn chi phối đời sống, môn toán giữ vai trò nền tảng trong giáo dục phổ thông (GDPT). Không chỉ dừng ở tính toán, toán học rèn luyện cho học sinh tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề – những năng lực cốt lõi của tư duy khoa học và tư duy thuật toán.
Toán học là ngôn ngữ của khoa học – công nghệ, hiện diện trong nhiều lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, kỹ thuật, tài chính hay y học. Vì vậy, chất lượng dạy và học toán ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành nguồn nhân lực công nghệ, đặc biệt là AI.
Nhiều quốc gia đã đổi mới mạnh mẽ dạy và học toán theo hướng phát triển năng lực: giảm ghi nhớ máy móc, tăng cường giải quyết vấn đề thực tiễn, mô hình hóa, tư duy thống kê và ứng dụng công nghệ số. Học sinh được khuyến khích khám phá, thảo luận, trình bày nhiều cách giải, làm dự án thực tiễn, thay vì học công thức, giải đề.
Chương trình GDPT 2018 đã tiếp cận theo hướng này. Tuy nhiên, quá trình triển khai còn phụ thuộc lớn vào năng lực giáo viên, điều kiện dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá. Chính vì vậy, kết quả thi toán còn là "tấm gương" của toàn bộ hệ thống giáo dục.
Trong kỷ nguyên số, toán là nền tảng để làm chủ công nghệ và giữ vai trò then chốt trong các kỳ thi, đặc biệt kỳ thi tốt nghiệp THPT. Tuy nhiên, so sánh toàn quốc chưa phản ánh rõ khác biệt vùng miền, nên cần đối sánh theo nhóm địa phương có điều kiện tương đồng.
Trước ngày 1.7.2025, Việt Nam có 6 thành phố trực thuộc T.Ư. Sau mốc này, có thêm 6 tỉnh được sáp nhập vào 6 thành phố. Vì vậy, khi phân tích kết quả môn toán giai đoạn 2021–2025, cần đặt trong bối cảnh nhóm 12 địa phương, để bảo đảm tính hợp lý thực tiễn phát triển giáo dục.
Điểm trung bình của nhóm được tính bằng trung bình cộng điểm toán của 12 địa phương theo từng năm, trong khi mức trung bình cả nước là kết quả của 63 địa phương. Kết quả cho thấy điểm trung bình của nhóm luôn cao hơn mặt bằng chung cả nước.
Tính bình quân 5 năm, mỗi địa phương được lấy điểm trung bình của 5 năm liên tiếp. Nhóm 12 địa phương đạt mức 6,24 điểm, cao hơn mức 5,93 của cả nước khoảng 0,3 điểm. Dù không lớn, khoảng cách này cho thấy đây là nhóm có chất lượng dạy và học toán khá tốt, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và đội ngũ giáo viên ở các đô thị, địa phương phát triển.
Tuy nhiên, chênh lệch trong nhóm vẫn rõ rệt. So với mức trung bình cả nước, có 10 địa phương cao hơn, trong khi Hậu Giang và Sóc Trăng thấp hơn. Nếu so với mức trung bình của nhóm, chỉ 7 địa phương vượt lên, chủ yếu là các đô thị lớn và địa phương có điều kiện kinh tế tốt như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và các tỉnh công nghiệp. Những nơi này có hệ thống trường học đa dạng, môi trường cạnh tranh và khả năng tiếp cận giáo dục STEM (khoa học-công nghệ-kỹ thuật-toán học) tốt hơn.
Ngược lại, các địa phương như Huế, Cần Thơ, Quảng Nam, Hậu Giang, Sóc Trăng có điểm thấp hơn trung bình nhóm, chủ yếu do còn nhiều khu vực khó khăn, điều kiện dạy và học hạn chế.
Khoảng cách giữa địa phương cao nhất và thấp nhất lên tới hơn 1,2 điểm, phản ánh rõ sự khác biệt về điều kiện phát triển và chất lượng giáo dục. Nhìn chung, các vùng kinh tế phát triển vẫn có lợi thế rõ rệt, trong khi một số khu vực còn nhiều thách thức. Dữ liệu điểm và thứ hạng môn toán của 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.
Nếu đặt kết quả môn toán năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư (mới) trong tương quan xếp hạng với 34 tỉnh, thành phố mới sau sáp nhập, có thể rút ra một số nhận định tổng quan sau.
Trước hết, phần lớn các thành phố trực thuộc trung ương đều nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về môn toán. Hà Nội đạt 5,29 điểm (hạng 2/34), TP.HCM 5,26 điểm (hạng 3/34), và Hải Phòng 5,13 điểm (hạng 4/34). Ba đô thị lớn này đều thuộc top 5, cho thấy lợi thế rõ rệt về dạy và học toán.
Tiếp theo là Huế (4,90 điểm, hạng 7) và Đà Nẵng (4,89 điểm, hạng 8), tiếp tục khẳng định mặt bằng dạy học toán ở các đô thị lớn nhìn chung vẫn ở mức cao so với cả nước.
Trong khi đó, Cần Thơ chỉ đạt 4,32 điểm, xếp hạng 27/34, thấp hơn đáng kể. Kết quả này phản ánh phần nào thực trạng chung của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi điểm toán thường thấp hơn nhiều vùng khác.
Nhìn tổng thể, 5/6 thành phố trực thuộc T.Ư nằm trong top 10 toàn quốc về môn toán năm 2025, cho thấy lợi thế của đô thị lớn về điều kiện giáo dục, đội ngũ và môi trường học tập. Tuy nhiên, khoảng cách giữa Cần Thơ và các thành phố còn lại cũng cho thấy chênh lệch vùng miền vẫn tồn tại.
Đáng lưu ý, sau sáp nhập, sự chênh lệch này có thể bị "che lấp" trong số liệu trung bình. Nếu thiếu phân tích chi tiết theo vùng, nguy cơ bỏ sót các "vùng trũng" giáo dục là rất lớn.
Để lý giải sự khác biệt trên, cần nhìn từ 3 cấp độ: lớp học, nhà trường và hệ thống.
Ở cấp lớp học, phương pháp dạy học vẫn là yếu tố quyết định. Nhiều nơi vẫn nặng về luyện tập dạng bài, trong khi yêu cầu mới là phát triển tư duy và năng lực. Khi đề thi thay đổi, những hạn chế này bộc lộ rõ và những học sinh yếu sẽ mất tự tin khi gặp dạng đề thi mới.
Ở cấp nhà trường, sự khác biệt về điều kiện cơ sở vật chất, quy mô lớp học, và văn hóa học tập ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả. Những trường có môi trường học tập tích cực, chú trọng STEM thường có kết quả tốt hơn.
Ở cấp hệ thống, việc phân bổ giáo viên, đầu tư nguồn lực và chính sách hỗ trợ vùng khó khăn đóng vai trò then chốt. Những địa phương thiếu giáo viên toán giỏi thường gặp khó khăn kéo dài, khó cải thiện trong ngắn hạn.

Đến ngày 9/4, hơn 200 đại học đã công bố phương án tuyển sinh năm nay, trong đó nhiều trường nêu học phí dự kiến. Hiện, Đại học Tân Tạo (Tây Ninh) có mức thu cao nhất - 150 triệu đồng với ngành Y khoa. Một số ngành ở vài trường thu dưới 18 triệu đồng như ở trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế; Học viện Quản lý giáo dục, Đại học Đông Đô (Hà Nội).
Học phí cao thường ở khối ngành Y Dược hoặc với các chương trình liên kết quốc tế, định hướng nghề nghiệp, chất lượng cao. Với chương trình chuẩn, các trường thu chủ yếu trong khoảng 20-40 triệu đồng.
So với năm ngoái, hầu hết tăng học phí trong khoảng 10%, một số trường tăng mạnh hơn như Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (khoảng 12-47%).
Học phí đại học năm 2025-2027 dự kiến như sau:
TT
Trường
Học phí (triệu đồng/năm)
1
Đại học Ngoại thương
28-32 (chương trình chuẩn)
34-39 (chương trình tích hợp)
50-54 (chất lượng cao)
50-70 (định hướng nghề nghiệp và phát triển quốc tế)
77-88 (tiên tiến)
2
Đại học Kinh tế Quốc dân
20-28 (chương trình chuẩn)
45-70 (tiên tiến, chất lượng cao, định hướng ứng dụng POHE)
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
31-67
4
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
19,1-40
5
Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội
38-44
6
Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội
35-58
7
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
48 (chính quy)
93,3-111,2 (liên kết quốc tế)
8
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội
34,2-38,2
9
Đại học Dược Hà Nội
28-58 (hệ đại trà)
150 (liên kết đào tạo)
10
Đại học Công nghiệp Hà Nội
25-31 (chương trình chuẩn)
36-44 (đào tạo bằng tiếng Anh)
11
Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội
59-130
12
Học viện Ngân hàng
27,8-29,4 (chuẩn)
45 (chất lượng cao)
50 (liên kết quốc tế, định hướng Nhật)
13
Đại học Thương mại
25,75-30,69 (chương trình chuẩn)
42,35 (định hướng nghề nghiệp)
50 (chương trình tiên tiến)
65 (song bằng quốc tế)
14
Học viện Tài chính
25-35 (chương trình chuẩn)
50-55 (định hướng chứng chỉ quốc tế)
75-80 (liên kết đào tạo)
15
Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
20-25 (chương trình chuẩn)
16
Đại học Xây dựng Hà Nội
20,9 (chương trình chuẩn)
37 (liên kết quốc tế)
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18,1 (chương trình chuẩn)
38,2 (chương trình đạt kiểm định)
18
Đại học Mở Hà Nội
23,7-25,3
19
Học viện Phụ nữ Việt Nam
20,7-22,68
20
Học viện Quản lý giáo dục
17,9-20,9
21
Đại học Y tế công cộng
21,01-38,57
22
Đại học Thủ đô Hà Nội
19-22,2
23
Đại học Công đoàn
20,85-25,85 (đại trà)
32 (chương trình định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế)
24
Học viện Chính sách và Phát triển
28 (chương trình chuẩn)
35-40 (chất lượng cao)
35 (định hướng nghề nghiệp quốc tế)
25
Đại học Phenikaa (Hà Nội)
28-128
26
Đại học FPT
46,44-94,8 (học tại Hà Nội, TP HCM)
32,52-66,36 (Đà Nẵng, Cần Thơ)
23,22-47,4 (Quy Nhơn)
27
Đại học Thăng Long (Hà Nội)
35,1-54
28
Đại học CMC (Hà Nội)
37,4-44,23
29
Đại học Đại Nam (Hà Nội)
35,7-99
30
Đại học Thành Đô (Hà Nội)
24-52,5
31
Đại học Đông Đô (Hà Nội)
17,49-29,4
32
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương (Hải Phòng)
29,26-47,89
33
Trường Đại học Nông lâm, Đại học Thái Nguyên
18-21,9 (hệ đại trà)
28,9 (chương trình tiên tiến)
34
Trường Đại học Luật, Đại học Huế
18
35
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
17,9-26,03
36
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng
27,7-38
37
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
24,8-26,7
38
Trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt - Hàn, Đại học Đà Nẵng
17,9-20,9
39
Trường Đại học Quy Nhơn (Gia Lai)
20,75-25 (chương trình đại trà)
40
Đại học Phan Châu Trinh (Đà Nẵng)
24-93,5
41
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
35,8 (chương trình dạy bằng tiếng Việt)
55 (Co-op tiếng Anh bán phần)
73,5 (dạy học bằng tiếng Anh)
42
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia TP HCM
24,78-30,85
43
Đại học Y Dược TP HCM
30-90
44
Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
47-81
45
Đại học Sài Gòn
21-53
46
Đại học Tôn Đức Thắng
31,26-68,46 (chương trình chuẩn)
55,6-64 (tiên tiến)
78-88 (học bằng tiếng Anh)
75-83 (liên kết quốc tế)
20,5-24 (phân hiệu Khánh Hòa)
47
Đại học Văn hóa TP HCM
19,91
48
Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
80-88 (bao gồm 6 cấp độ tiếng Anh)
49
Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP HCM
42
50
Đại học Việt - Đức (Bình Dương)
43,7-46,6
51
Đại học Thủ Dầu Một (TP HCM)
25,65-31,35
52
Đại học Tân Tạo (Tây Ninh)
25-150
Lưu ý:
- Với các trường công bố mức thu theo tín chỉ, học phí trung bình năm được ước tính như sau: [giá tín chỉ x tổng số tín chỉ của chương trình]/số năm học.
- Với nhóm công bố học phí theo kỳ, học phí năm học 2026-2027 được ước tính theo số kỳ trong năm đầu đại học.
- Với các trường công bố học phí cả khóa, học phí một năm được ước tính bằng cách chia trung bình cho số năm học.
- Học phí các trường thường chưa bao gồm các tín chỉ Giáo dục Quốc phòng - An ninh, Giáo dục thể chất hoặc tiếng Anh.
Học phí đại học ba năm qua đều tăng, một phần do trần học phí tăng theo Nghị định số 97 (năm 2023) của Chính phủ.
Theo đó, mức cao nhất được thu ở các đại học công lập chưa tự đảm bảo chi thường xuyên năm học 2026-2027 là 1,71 - 3,5 triệu đồng mỗi tháng, cao hơn khoảng 11% so với năm học trước.
Ở các trường đã tự đảm bảo chi thường xuyên (tự chủ), học phí có thể gấp 2,5 lần mức trần. Với chương trình đã được kiểm định, các trường tự xác định học phí.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/hon-50-dai-hoc-cong-bo-hoc-phi-pho-bien-20-40-trieu-dong-5059911.html

Đến ngày 3/4, nhiều đại học công bố lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dịp 30/4-1/5.
Theo lịch chung, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, người lao động được nghỉ ba ngày 25-27/4. Trong đó, ngày 27/4 nghỉ bù do ngày lễ chính rơi vào chủ nhật. Kỳ nghỉ dịp 30/4-1/5 kéo dài 4 ngày, đến 3/5 do nối tiếp với nghỉ hàng tuần. Các đơn vị vẫn làm việc thứ 7 sẽ được nghỉ ít hơn hai ngày so với lịch trên.
Xen giữa hai kỳ nghỉ là hai ngày làm việc bình thường 28-29/4. Vì vậy, để giảng viên, sinh viên có kỳ nghỉ kéo dài liên tục, Đại học Thương mại, Kinh tế TP HCM, Văn hóa Hà Nội hay Học viện Ngân hàng tổ chức học online vào hai ngày trên. Toàn bộ sinh viên không phải đến trường trong 9 ngày, từ 25/4 đến 3/5, dài bằng dịp nghỉ Tết Nguyên đán.
Trong khi đó, nhiều trường khác như Đại học Công nghiệp Hà Nội, Kinh tế Quốc dân, Thủy lợi, Công nghệ TP HCM, Nguyễn Tất Thành cho sinh viên nghỉ liên tiếp 8 ngày, từ 26/4 đến 3/5.
Còn trường Đại học Ngoại thương, trường Kinh tế - Luật và Khoa học Tự nhiên của Đại học Quốc gia TP HCM, Công thương TP HCM cho sinh viên nghỉ đến 1/5, tức 6 ngày. Tuy nhiên, nếu không có lịch học vào thứ 7 (ngày 25/4 và 2/5), kỳ nghỉ cũng có thể kéo dài 9 ngày.
Để đảm bảo chương trình, trường Đại học Công thương TP HCM tổ chức học bù vào thứ bảy của hai tuần sau kỳ nghỉ. Một số trường như Đại học Thăng Long cho biết không tổ chức dạy online hay dạy bù do đã tính toán trong khung kế hoạch năm học.
Lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và dịp 30/4-1/5 của hơn 20 đại học:
TT
Trường
Lịch nghỉ
Số ngày
1
Đại học Thương mại
25/4-3/5
(kết hợp học online)
9
2
Học viện Ngân hàng
3
Đại học Kinh tế TP HCM
4
Đại học Văn hóa Hà Nội
5
Đại học Công nghiệp Hà Nội
26/4-3/5
(kết hợp học online)
8
6
Đại học Kinh tế Quốc dân
7
Đại học Thủy lợi
26/4-3/5
8
8
Đại học Thăng Long
9
Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
10
Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị
11
Đại học Kỹ thuật y tế Hải Dương
12
Đại học Công nghệ TP HCM (HUTECH)
13
Đại học Quốc tế Sài Gòn (SIU)
14
Đại học Gia Định (TP HCM)
15
Đại học Nguyễn Tất Thành (TP HCM)
16
Đại học Ngoại thương
26/4-1/5
(kết hợp học online)
6
17
Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP HCM
18
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia TP HCM
26/4-1/5
(kết hợp học online hoặc học bù)
19
Đại học Công thương TP HCM
26/4-1/5
20
Đại học Công nghệ Đông Á
21
Đại học Đại Nam
28/4-3/5
Ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, trường Đại học Công thương TP HCM, cho biết việc hoán đổi hai ngày làm việc bình thường tạo thành kỳ nghỉ kéo dài để giảng viên, sinh viên có thời gian nghỉ ngơi, tăng sức khỏe tinh thần và nâng cao hiệu suất lao động lâu dài.
"Khoảng 50% sinh viên nhà trường đến từ các tỉnh khác ngoài TP HCM, nghỉ lễ dài tạo thuận lợi cho các em về nhà", ông nói.
Theo ghi nhận, một số trường không hoán đổi lịch mà vẫn chia ra hai kỳ nghỉ riêng biệt, như Đại học Công nghiệp TP HCM và Ngoại ngữ - Tin học TP HCM.
Dương Tâm - Lệ Nguyễn

