Năm đó, đã gần chạm bước đến khung cửa tuổi 90, nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình tiếp chúng tôi thân mật: “Ý kiến của bà là trách nhiệm với thế hệ trẻ về sau, trách nhiệm trước lịch sử”.
Những ngày ấy, Biển Đông dậy sóng. Thanh niên biết đến các trận chiến đấu giữ gìn biên cương phía Bắc nơi “lò vôi thế kỷ” Vị Xuyên… Bà Nguyễn Thị Bình còn kể thêm cho chúng tôi nghe kỷ niệm về những lần được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Bình kể về lần gặp Bác đầu tiên, đó là năm bà 27 tuổi, một ngày đầu tháng 12.1954, bà vừa tập kết ra miền Bắc, đặt chân đến thủ đô Hà Nội. Sáng hôm ấy, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Thứ trưởng Bộ Y tế đến gặp bà, vui vẻ thông báo:
– Cô Yến có một tin vui hết sức đặc biệt, Bác Hồ muốn gặp cô.
“Nghe anh Thạch nói, tôi không tin ở tai mình nữa. Nỗi vui mừng và lo lắng trào dâng trong lòng. Sao Bác lại biết tôi? Tôi chưa hề được gặp Bác bao giờ. Quả thật, Bác đã dành tình thương đặc biệt cho tôi. Tôi không nghĩ rằng mình được gặp Bác Hồ”.
Ấn tượng về lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Bình kể:
– Cô Yến đấy ư? Ngồi xuống đây với Bác. Chúng ta là chỗ thân quen. Bác đã biết ông ngoại cô từ thời ở Pháp. Cụ Phan (chí sĩ Phan Chu Trinh) là người Bác rất kính trọng…
Nghe đến đây, bà nghẹn ngào, không thể nói thành lời. Thì ra ông ngoại của bà – cụ Phan Chu Trinh – từng là người bạn vong niên của Bác Hồ những ngày trên đất Pháp. Sau này, bà biết thêm, đó là những năm tháng hoạt động bí mật ngay trong lòng thủ đô Paris – Pháp.
Qua tư liệu một người chị em con dì là bà Lê Thị Kinh (bí danh Phan Thị Minh) khai thác ở lưu trữ của Pháp, bà Nguyễn Thị Bình biết thêm trong mật báo ngày 11.2.1920, mật thám Jean viết: “Quốc nhờ phụ cấp của ông Trường, ông trả tiền nhà, còn Phan Chu Trinh và Khánh Ký cho tiền mua thức ăn”.
Trước khi qua đời tại Sài Gòn (ngày 24.3.1926), cụ Phan Chu Trinh có gặp lại cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh) và trăng trối: “Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”. Lời tiên đoán ấy đã thành sự thật: Nguyễn Ái Quốc trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh – tuyên bố nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2.9.1945).
Không có may mắn được nhìn thấy ông ngoại, những ngày cuối tháng 3.1926, cả nước để tang truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Hơn một năm sau, cô cháu ngoại Nguyễn Thị Yến Sa mới chào đời.
Buổi gặp gỡ đầu tiên với người bạn vong niên của ông ngoại ấy, như bà Nguyễn Thị Bình kể lại, hầu như Bác chỉ dành để hỏi chuyện về gia đình bà. Lúc chia tay, Bác căn dặn:
– Một truyền thống gia đình như thế, rất đáng trân trọng. Cố gắng công tác phụng sự Tổ quốc để xứng đáng là con cháu cụ Phan.
“Tôi ghi nhớ mãi lời Bác dạy – bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ – Tôi đã nhập môn những bài học ngoại giao đầu tiên từ Bác. Một người thầy trong mọi ứng xử, giao tiếp”.
Năm 1960, sau cuộc đồng khởi của đồng bào miền Nam, cục diện chính trị đã thay đổi, mở ra một cục diện ngoại giao mới. Bà Nguyễn Thị Bình được cử vào làm thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi được phụ trách công tác ngoại giao.
Năm 1968, Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán ngoại giao ở Paris. Bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Phó trưởng đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị bốn bên (Trưởng đoàn là ông Trần Bửu Kiếm).
Tháng 4.1969, sau chuyến đi công tác ngoại giao ở Anh, trở về Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bình được Bác gọi đến Phủ Chủ tịch để hỏi han công việc. Vừa nhìn thấy Bác, lòng bà se lại. Bác đã yếu đi nhiều, mái tóc bạc hơn và cử chỉ không còn nhanh nhẹn như những lần bà được gặp trước đây.
“Bác hỏi tôi về hoạt động ngoại giao, về tình hình bà con Việt kiều. Tôi thưa với Bác về những hoạt động của mình, kể lại cuộc biểu tình lớn của nhân dân Anh ủng hộ cuộc chiến đấu của ta vừa tổ chức ở Luân Đôn khi tôi đến thăm, Bác bảo:
– Phải hết sức tranh thủ tình cảm của nhân dân thế giới. Họ ủng hộ mình là xuất phát từ tình cảm chân thật. Cháu sang bên đó, nhớ chuyển lời thăm hỏi của Bác tới bà con Việt kiều…”.
Bác lại dặn dò tôi cần phải cố gắng làm tốt công tác của mình, đấu tranh ngoại giao không phải dễ dàng, cần kiên trì, không làm nhanh được. Công tác ngoại giao có lúc nguy hiểm như ngồi trên lưng cọp vậy. Ta phải luôn luôn bình tĩnh, vững vàng. Tôi ghi lòng tạc dạ những lời dạy bảo ân cần, sâu sắc của Bác, và lấy lời Bác làm phương châm hành động của mình.
Lịch sử đã từng ghi lại những biểu hiện mẫu mực của đường lối ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt. Tôi đã học ở Người biết bao bài học quý giá. Trong hoạt động ngoại giao của Bác đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của nhà chiến lược thiên tài và là nhà ngoại giao lỗi lạc”.
Hôm ấy, bà Nguyễn Thị Bình không ngờ là lần cuối bà được gặp Bác, được nghe những lời dạy bảo đầy ân tình của Bác, được ăn bữa cơm cuối cùng với Người.
“Sau này, tôi được biết rằng việc chọn tôi làm Trưởng đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở Hội nghị Paris, chính là do anh Xuân Thủy đã đề xuất với Bác. Bác am hiểu công tác ngoại giao quốc tế và đặc biệt vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực này”, bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại.
Trở thành Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn ngoại giao Hội nghị bốn bên ở Paris, sau này là Phó chủ tịch nước 2 nhiệm kỳ (1992 – 2002), bà Nguyễn Thị Bình nhớ lại: “Hầu như mọi bước đi, mọi thành công trong công tác ngoại giao của tôi đều có sự dìu dắt, dõi theo của Bác Hồ”.
Thông tin trên được đơn vị tư vấn đưa ra tại buổi làm việc giữa Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận (Bộ Xây dựng) với ông Nguyễn Thành Diệu - Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp để tháo gỡ những khó khăn cho các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh, diễn ra vào ngày 21-5 tại tỉnh Đồng Tháp.
Đối với dự án cao tốc Bắc - Nam đoạn Đức Hòa - Mỹ An, đơn vị tư vấn cho biết với tổng chiều dài khoảng 70km. Trong đó đoạn đi qua địa phận tỉnh Đồng Tháp dài khoảng 3,1km, đơn vị tư vấn đưa ra hai phương án thi công được cân nhắc dựa trên khả năng đáp ứng vật liệu.
Đối với phương án 1, thi công cầu và đường thông thường, ưu điểm là tính phổ biến nhưng nhược điểm lớn nhất là áp lực cực lớn về vật liệu xây dựng. Dự báo nhu cầu cát đắp nền cho phương án này lên đến 11,16 triệu m3.
Còn với phương án 2 là phần lớn trên tuyến sẽ thi công cầu cạn. Với phương án này dù kinh phí đầu tư ban đầu lớn hơn, nhưng xây dựng cầu cạn sẽ giúp giảm nhu cầu cát lấp xuống chỉ còn khoảng 1,3 triệu m3.
Ông Diệp Bảo Tuấn - Phó giám đốc Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận - cho biết Bộ Xây dựng sẽ căn cứ vào quy hoạch nguồn mỏ và khả năng cung cấp thực tế của địa phương để quyết định chọn phương án nào. Nếu nguồn cát không thể đáp ứng, việc chuyển sang phương án cầu cạn là cần thiết để đảm bảo tiến độ.
Ông Nguyễn Thành Diệu - Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp - khẳng định tỉnh Đồng Tháp hiện đang đối mặt với tình trạng khan hiếm vật liệu vô cùng nghiêm trọng.
Ông Diệu thẳng thắn chia sẻ rằng hiện nay các công trình đầu tư công của tỉnh gần như đang phải "đứng máy" vì thiếu cát. Tỉnh đang triển khai 5 khu công nghiệp với diện tích gần 2.000 hecta nhưng hoàn toàn không có nguồn cát để san lấp.
Để tháo gỡ khó khăn, UBND tỉnh Đồng Tháp và Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận đã thống nhất một số giải pháp tình thế. Theo đó, ông Diệu đã giao Sở Xây dựng rà soát các mỏ cát hiện nay, xem xét gia hạn khai thác và nâng công suất phục vụ công trình đang triển khai.
Cụ thể là dự án cao tốc Mỹ An - Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp) khi mở rộng từ 17m lên 24m sẽ cần bổ sung thêm khoảng 1,6 triệu m3 cát.
Về phía Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận, ông Diệp Bảo Tuấn cũng kiến nghị phía địa phương cho ý kiến về các phương án khác nhằm tháo gỡ khó khăn cho tình trạng khan hiếm cát lấp như chọn phương án thi công cầu cạn thay vì đắp nền, phương án sử dụng cát biển đối với những vùng phù hợp, sự dụng cát nhập khẩu từ Campuchia,…
Kết luận được đưa ra sau cuộc làm việc ngày 6/5 giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường với UBND TP Hà Nội về tính toán thủy lực, an toàn thoát lũ đoạn sông Hồng triển khai Dự án đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.
Hai bên cơ bản thống nhất với đề xuất điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng do nhà đầu tư đưa ra. Theo đó, khu vực bãi sông sẽ được điều chỉnh tăng tỷ lệ và quy mô đất xây dựng để phát triển trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đoạn từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở.
Trục này được định hướng trở thành không gian xanh trung tâm, đồng thời phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ, đô thị gắn với văn hóa sáng tạo và khoa học công nghệ dọc hai bờ sông.
Bộ và thành phố đánh giá phương án quy hoạch cơ bản phù hợp với định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn phòng chống lũ, đê điều theo các quyết định của Thủ tướng.
Hai cơ quan cũng thống nhất cách tiếp cận bảo đảm an toàn thoát lũ thông qua mô hình tính toán thủy lực, thủy văn, cao độ xây dựng và chỉnh trị dòng chảy sông Hồng theo cả mùa mưa lũ lẫn mùa khô. Phương án nghiên cứu còn đặt sông Hồng trong tổng thể hệ thống sông qua Hà Nội để khôi phục các dòng sông Tích, Nhuệ, Đáy.
Trong định hướng này, Hà Nội nghiên cứu xây dựng đập dâng trên sông Hồng tại khu vực Phố Hiến và trên sông Đuống phía dưới Long Tửu.
"Kết luận thống nhất từng bước di dời, sắp xếp, quy hoạch lại toàn bộ khu dân cư ngoài đê nhằm đáp ứng yêu cầu tái thiết toàn diện, đồng bộ không gian hai bên sông Hồng theo định hướng Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội", thông báo nêu.
Các làng nghề ven sông như gốm Bát Tràng, Kim Lan, Văn Đức hay vùng trồng đào Nhật Tân sẽ được bảo tồn, hồi sinh trong cấu trúc phát triển mới. Thành phố định hướng gắn các làng nghề với không gian văn hóa, du lịch trải nghiệm và công viên chuyên đề, đi cùng hạ tầng đồng bộ và môi trường sống an toàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường và UBND TP Hà Nội yêu cầu tiếp tục hoàn thiện phương án quy hoạch trong kịch bản bất lợi nhất của biến đổi khí hậu, bão lớn và thời tiết cực đoan. Đồ án phải tính toán cụ thể cao độ xây dựng, bảo đảm đồng bộ giữa an toàn thoát lũ, thủy lợi, đê điều và mật độ phát triển đô thị.
Cuối năm 2025, HĐND Hà Nội đã thông qua chủ trương đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng quy mô hơn 11.000 ha, tổng vốn sơ bộ khoảng 855.000 tỷ đồng, với mục tiêu tái thiết đô thị hai bờ sông.
Dự án kéo dài từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, đi qua 19 xã, phường của Hà Nội. Phía hữu ngạn gồm các xã phường Ô Diên, Thượng Cát, Đông Ngạc, Phú Thượng, Hồng Hà, Vĩnh Tuy, Vĩnh Hưng, Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Thanh Trì, Nam Phù, Hồng Vân. Phía tả ngạn gồm Mê Linh, Thiên Lộc, Vĩnh Thanh, Đông Anh, Bồ Đề, Long Biên và Bát Tràng.
Dự án được chia thành 4 hợp phần, gồm trục giao thông - công viên cảnh quan, giải phóng mặt bằng tái thiết đô thị hai bờ sông, tuyến metro ngầm dài khoảng 45 km dọc hữu ngạn và các khu tái định cư.
Theo tính toán sơ bộ, khoảng 200.000 người dân bị ảnh hưởng bởi dự án, một phần được bố trí tái định cư tại chỗ. Tổng mức đầu tư toàn dự án khoảng 855.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành vào năm 2030.
Ai cũng chia vui với bà con ở đây vì họ sẽ có căn hộ mới khang trang, giã từ kiếp "ngủ thò chân ra cửa" mấy mươi năm.
Người dân bật khóc không chỉ bởi căn nhà. Họ rưng rưng vì cạnh họ mai này vẫn là xóm giềng cũ, vẫn nguyên đó nơi có "góc phố ngôi trường, bến nước con đường" trong thành phố đã "yêu từ khi mới ra đời".
Nhìn giọt nước mắt của người phụ nữ ở Mả Lạng, một chuyên gia về đô thị chia sẻ rằng TP lo cho dân không chỉ bằng cơ chế mà bằng cả những đau đáu, trăn trở về hạnh phúc.
Người dân có căn nhà khang trang và vẫn vẹn nguyên đó mối quan hệ với cộng đồng mà họ đã sống bao năm. Cả hồn đô thị trong mỗi người, mỗi nhà ở Mả Lạng, chợ Gà - Gạo.
Trong cuộc họp mấy hôm sau đó, Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang cũng khẳng định điểm mới là TP không chỉ xử lý vấn đề đô thị mà còn đặt đời sống người dân ở vị trí trung tâm.
Việc tái định cư tại chỗ sẽ giúp người dân ổn định cuộc sống, tiếp tục gắn bó với nơi quen thuộc trong điều kiện sống tốt hơn.
Giọt nước mắt ở Mã Lạng vì thế không chỉ là nỗi rưng rưng, niềm hạnh phúc mà còn mở ra hy vọng về mô hình, tư duy mới trong cách làm chính sách - như Bí thư Trần Lưu Quang chỉ đạo.
TP còn hàng chục ngàn nhà dân trên kênh rạch cần di dời, tái định cư; còn đó hàng trăm chung cư cũ xuống cấp; còn hàng loạt công trình cần sự chia sẻ của người dân nhường mặt bằng...
Cách làm có chiều sâu, nhân văn ở Mả Lạng, chợ Gà - Gạo sẽ là đích đến để TP xây dựng mô hình cho những dự án sắp tới.
TP cũng là nơi hàng triệu người lao động đang và sẽ cần nhà để an cư, theo mô hình nhà cho thuê như yêu cầu của Tổng Bí thư. Và với tầm vóc của đô thị lớn nhất cả nước, chắc chắn cần có một cách làm đột phá để hàng triệu người lao động TP có nhà ở, sống an vui, hạnh phúc.
Câu chuyện ở Mã Lạng sẽ là minh chứng cho nội lực và mở ra hy vọng để TP một lần nữa có mô hình tiên phong.
Mả Lạng, chợ Gạo Gà, nhà trên kênh rạch, nhà cho thuê và rất nhiều dự án, chương trình lớn của TP, tất cả đều cần một cách làm mới, tư duy mới.
Sản phẩm khi đó không chỉ là công trình, dự án có thể cầm nắm được mà lớn hơn là mô hình, là thể chế mà TP được kỳ vọng là nơi tiên phong thể nghiệm.
Giọt nước mắt ở Mả Lạng, chợ Gạo - Gà đang dần khép lại một đoạn trường của người dân trong ngôi nhà chật hẹp. Nhưng đã mở thêm niềm hy vọng về những mô hình mới, cách làm mới từ tư duy lấy người dân làm trung tâm, từ sự dám nghĩ, biết làm của đội ngũ cán bộ TP.