Không chỉ điện thoại, mỹ phẩm hay thời trang, nhiều nhóm hàng như tủ lạnh, máy giặt, sofa, bàn ghế, thậm chí các mặt hàng tiêu dùng số lượng lớn như bao gạo, thùng sữa, bỉm, nước giặt… cũng đang dần dịch chuyển sang kênh online.
Sự thay đổi trong hành vi mua sắm khiến ngành logistics đối mặt với một bài toán mới: giao hàng nặng và hàng cồng kềnh.
Nhu cầu cao và thị trường dịch vụ này ngày càng cạnh tranh dữ dội. Thế nhưng, mảng dịch vụ giao hàng nặng, hàng cồng kềnh thì không phải dịch vụ giao hàng nhanh nào cũng thực hiện được.
Dữ liệu thống kê hết năm 2025 của Metric.vn cho thấy, tổng doanh thu của 4 sàn thương mại điện tử lớn nhất Việt Nam đã đạt hơn 429.000 tỉ đồng, tăng gần 35% so với cùng kỳ năm trước. Con số tăng trưởng này là “trong mơ” cho nhiều ngành kinh doanh dịch vụ.
Lý giải cho mức tăng trưởng “biết nói” này, đa số chuyên gia nghiên cứu thị trường cho rằng, chính sự tăng trưởng vượt bậc của thương mại điện tử đã tạo con số hàng trăm ngàn tỉ đồng nói trên. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, dịch vụ giao nhận hàng không chỉ tập trung những gói, kiện hàng mua lẻ, nhiều kiện hàng lớn cồng kềnh, hay mua sắm hàng tiêu dùng với số lượng lớn qua kênh online cũng tăng mạnh.
Điều này kéo theo nhu cầu ngày càng cao đối với các dịch vụ vận chuyển có khả năng xử lý hàng hóa cồng kềnh, giao nhận liên tỉnh và vận hành theo mô hình khác biệt so với chuyển phát nhỏ lẻ truyền thống.
Tuy nhiên, giao hàng nặng hiện vẫn là một trong những mảng khó của logistics thương mại điện tử.
Không ít chủ shop cho biết chi phí giao hàng cao, khó giao tại khu vực hẻm nhỏ, nguy cơ va đập, hư hỏng lớn và tỷ lệ hoàn hàng cao là những vấn đề thường gặp khi xử lý các đơn hàng cồng kềnh.
Trong khi đó, phần lớn hệ thống giao nhận hiện nay được tối ưu cho hàng hóa nhỏ gọn, khiến nhiều doanh nghiệp và người bán phải tự tìm giải pháp riêng đối với các mặt hàng kiện lớn.
Theo các chuyên gia trong ngành, sự gia tăng của nhóm hàng cồng kềnh đang thúc đẩy thị trường logistics chuyển sang xu hướng chuyên biệt hóa. Thay vì sử dụng chung một mô hình vận hành cho mọi loại hàng hóa, nhiều doanh nghiệp bắt đầu đầu tư hệ thống riêng dành cho hàng nặng nhằm tối ưu chi phí trung chuyển, giao nhận và nâng cao trải nghiệm khách hàng.
Cùng với nhu cầu gia tăng, thị trường giao nhận hàng kiện lớn trong nước gần đây ghi nhận thêm sự xuất hiện của các mô hình logistics chuyên biệt cho hàng nặng và hàng cồng kềnh. Trong đó có J&T Cargo, một thương hiệu đang triển khai dịch vụ vận chuyển hàng nặng tại một số thị trường quốc tế và bắt đầu mở rộng hoạt động tại Việt Nam.
Theo tìm hiểu, J&T Cargo được thành lập vào năm 2020 và hiện cung cấp các dịch vụ vận chuyển hàng lẻ B2B, B2C, hàng cồng kềnh, vận tải nguyên chuyến cùng các giải pháp kho vận tại nhiều thị trường như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Brazil và Việt Nam.
Tại Việt Nam, doanh nghiệp này cho biết đang phát triển mạng lưới vận hành theo hướng tinh gọn, thông minh nhằm mang đến các giải pháp vận chuyển hàng nặng với chi phí cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng nặng ngày càng tăng của thị trường.
Quản lý một bưu cục J&T Cargo tại TP.HCM cho biết gần đây, lượng khách mua online các mặt hàng cồng kềnh hoặc tiêu dùng số lượng lớn đang tăng lên rõ rệt. “Trước đây khách hàng thường tự mua ở chợ, tiệm tạp hóa, siêu thị… Nay dịch vụ vận chuyển hàng hóa phát triển mạnh, chuyên nghiệp giúp người tiêu dùng có thể chuyển sang mua những món hàng cồng kềnh này qua kênh trực tuyến”.
Nhu cầu giao hàng nặng được dự báo tiếp tục tăng theo sự phát triển của thương mại điện tử, nhiều khả năng lĩnh vực logistics chuyên biệt này sẽ trở thành xu hướng mới, phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Đặc biệt, khi người tiêu dùng dần hình thành thói quen mua trực tuyến đối với các mặt hàng cồng kềnh hoặc tiêu dùng số lượng lớn, thị trường sẽ cần thêm các mô hình vận hành chuyên biệt để giải quyết bài toán giao nhận, trung chuyển và tối ưu chi phí.
Chiều 23/4, Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư quốc tế Viettel (Viettel Global - mã: VGI) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Theo tờ trình được thông qua, năm 2026, Viettel Global lên kế hoạch tổng doanh thu hợp nhất 52.561 tỷ đồng, tăng trưởng 7% so với thực hiện 2025, tương đương tăng 3.450 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 13.275 tỷ đồng, giảm 12,5% so với cùng kỳ, giảm 1.901 tỷ đồng.
Chia sẻ tại đại hội, bà Nguyễn Thị Hoa - Tổng Giám đốcViettel Global cho biết, mục tiêu lợi nhuận năm 2026 có sự sụt giảm là do biến động tỉ giá.
Trong quý I/2026, thế giới có nhiều biến động lớn, đặc biệt là tình hình chiến sự tại Trung Đông đã ảnh hưởng đến công tác vận chuyển, giá cả hàng hóa, xăng dầu và vật tư thiết bị.
Tính đến hết quý I, Viettel Global vẫn hoàn thành vượt các chỉ tiêu kế hoạch mà Tập đoàn Viettel đề ra. Bà Hoa cho biết, con số chi tiết sẽ được công bố theo đúng quy định về thông tin tài chính trong thời gian tới.
Nói về việc giảm thiểu rủi ro về tỉ giá, bà Hoa nói rằng: dân gian có câu "người tính không bằng trời tính", còn ở đây là "trời tính không bằng tỉ giá tính".
"Rủi ro tỉ giá luôn là bài toán lớn. Chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp như làm việc chặt chẽ với các ngân hàng để có thể mua USD với tỉ giá tốt nhất.
Bên cạnh đó là đa dạng hoá đồng tiền, một số giao dịch công ty sử dụng Nhân dân tệ hoặc Bath Thái để giảm rủi ro về USD cũng như chủ động kế hoạch mua bán ngoại tệ theo từng thời điểm", bà Hoa chia sẻ.
Ông Nguyễn Cao Lợi - Phó Tổng Giám đốc Viettel Global chia sẻ thêm: Chúng tôi coi tỉ giá là một loại chi phí kinh doanh để phân bổ vào giá thành, tập trung vào phân khúc khách hàng cao cấp - những người ưu tiên chất lượng hơn giá cả. Nhờ vậy, lợi nhuận thực tế và dòng tiền mang về vẫn rất tốt.
Cũng trong phần thảo luận tại đại hội, một trong những vấn đề được cổ đông quan tâm nhất là lợi thế cạnh tranh của Viettel Global so với đối thủ. Trả lời thắc mắc này, bà Hoa đã thẳng thắn đúc kết sự thành công của tập đoàn dựa trên 3 yếu tố cốt lõi.
Thứ nhất là sự đầu tư hạ tầng mạnh mẽ. Ban lãnh đạo xác định đặc thù của ngành viễn thông là bắt buộc phải đầu tư hạ tầng đi trước. Do đó, mỗi năm công ty đều rót một khoản tiền đầu tư rất lớn cho các thị trường.
Thứ hai là tốc độ triển khai nhanh và tối ưu. Năng lực này xuất phát từ yếu tố con người. "Sự chịu khó, chịu khổ của người Viettel ở khắp mọi nơi. Mỗi khi xem lại những thước phim về sự hy sinh của đồng đội tại các thị trường xa xôi, tôi vẫn không cầm được nước mắt", bà Hoa nói.
Thứ ba là sản phẩm và giá thành. Tổng Giám đốc Nguyễn Thị Hoa cho biết, tiêu chí của Viettel là phải mang lại những dịch vụ có chất lượng tốt nhất cho khách hàng, đi kèm với một mức giá hợp lý.
CTCP Lọc hóa dầu Bình Sơn (HoSE: BSR) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với doanh thu hơn 45.900 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ 2025.
Lợi nhuận sau thuế đạt 8.265 tỷ đồng, gấp hơn 20 lần mức khoảng 400 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, đồng thời là mức lợi nhuận theo quý cao nhất trong vòng 4 năm trở lại đây.
Kết quả này cũng vượt xa kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm 2026 là 2.162 tỷ đồng vừa được doanh nghiệp thông qua tại đại hội đồng cổ đông thường niên.
Cơ cấu doanh thu cho thấy dầu diesel tiếp tục là sản phẩm chủ lực, đóng góp gần 21.180 tỷ đồng, tương đương gần một nửa tổng doanh thu. Hai sản phẩm xăng không chì RON 95 và RON 92 mang về hơn 16.000 tỷ đồng. Phần còn lại đến từ nhiên liệu bay Jet A-1, LPG, xăng sinh học, dầu hỏa và các sản phẩm khác từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất.
Đáng chú ý, biên lợi nhuận gộp của BSR trong quý I đạt khoảng 21%, trong khi cùng kỳ năm trước chỉ xấp xỉ 1%. Ngoài hoạt động kinh doanh cốt lõi, doanh nghiệp còn ghi nhận gần 530 tỷ đồng từ lãi tiền gửi và chênh lệch tỷ giá, tăng mạnh so với cùng kỳ.
Theo phía BSR, nguyên nhân chính dẫn tới mức tăng trưởng đột biến là do diễn biến thuận lợi của thị trường dầu thô. Trong quý I/2026, giá dầu tăng từ khoảng 67 USD/thùng vào tháng 1 lên gần 104 USD/thùng vào tháng 3. Ngược lại, cùng kỳ năm 2025 ghi nhận xu hướng giảm từ 79 USD xuống 72,6 USD/thùng. Biến động này giúp gia tăng chênh lệch giữa giá dầu thô đầu vào và giá các sản phẩm đầu ra, qua đó cải thiện đáng kể biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Song song với yếu tố thị trường, BSR duy trì vận hành Nhà máy Lọc dầu Dung Quất ở mức công suất rất cao, trung bình 125% công suất quy đổi.
Tổng sản lượng sản xuất trong quý đạt hơn 1,99 triệu tấn sản phẩm, vừa đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước, vừa đóng góp khoảng 3.953 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước.
Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của BSR đạt 106.786 tỷ đồng, tăng hơn 21.000 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho tăng mạnh lên 21.573 tỷ đồng, gần gấp đôi so với đầu kỳ.
Doanh nghiệp cho biết việc duy trì tồn kho cao, bao gồm cả dầu thô và sản phẩm là chiến lược chủ động nhằm đảm bảo nguồn cung trong bối cảnh địa chính trị thế giới, đặc biệt tại Trung Đông, tiềm ẩn nhiều rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng dầu thô.
Ngoài ra, lượng tồn kho thành phẩm lớn cũng giúp BSR có dư địa điều tiết thị trường, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu xăng dầu nội địa khi tăng đột biến hoặc khi nguồn nhập khẩu gặp gián đoạn.
Về cơ cấu nguồn vốn, vốn chủ sở hữu của BSR đạt 68.778 tỷ đồng, trong khi nợ phải trả ở mức hơn 38.000 tỷ đồng, chủ yếu là nợ ngắn hạn phục vụ nhập nguyên liệu và hoạt động vận hành.
Ban lãnh đạo doanh nghiệp cho biết đã kích hoạt các kịch bản ứng phó từ sớm trước diễn biến xung đột tại Trung Đông, với nhiều phương án kéo dài từ vài tuần đến nửa năm. Hiện BSR vẫn duy trì vận hành nhà máy ở công suất rất cao và đảm bảo nguồn cung dầu thô ít nhất đến đầu tháng 7.
Ông N.T.K (TP.HCM) mới đây nhận được thông báo về hồ sơ hoàn thuế chưa đủ điều kiện. Theo Thuế TP.HCM, lý do là do Công ty CP Đầu tư và Dịch vụ Sài Gòn Real (đơn vị chi trả thu nhập) cho vị này ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, vẫn còn nợ số tiền thuế TNCN đã khấu trừ với cơ quan thuế.
"Người nộp thuế vui lòng liên hệ với tổ chức trả thu nhập để nộp số tiền thuế TNCN đã khấu trừ vào ngân sách nhà nước", công văn nêu. Trả lời cho trường hợp này, đại diện Thuế TP.HCM cho rằng, doanh nghiệp ngưng hoạt động, chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế và còn nợ tiền thuế TNCN thì người nộp thuế liên hệ với công ty. Công ty liên hệ với cơ quan thuế để đối chiếu nợ thuế và xử lý xong nợ thuế thì người lao động mới được hoàn lại tiền thuế này.
Mới đây Thuế TP.HCM công bố 2.872 doanh nghiệp đang nợ thuế từ tiền công, tiền lương lên gần 276 tỉ đồng. Theo Quyết định 108/2025 của Tổng cục Thuế (nay là Cục Thuế): "Tại thời điểm giải quyết hồ sơ hoàn thuế TNCN của người nộp thuế, tổ chức trả thu nhập đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thay tiền thuế TNCN đã khấu trừ hoặc tổng tiền thuế TNCN người nộp thuế là cá nhân đã nộp đủ vào ngân sách nhà nước tại kỳ quyết toán cá nhân có đề nghị hoàn thuế". Như vậy, trường hợp tổ chức chi trả thu nhập còn nợ thuế, cơ quan thuế sẽ không giải quyết hồ sơ hoàn thuế cho người nộp thuế được.
Từ đầu năm đến ngày 30.4, cơ quan thuế đã nhận hơn 1,31 triệu tờ khai quyết toán thuế TNCN điện tử, trong đó có 1,082 triệu tờ khai đề nghị hoàn. Cơ quan thuế xác định 1,026 triệu hồ sơ đủ điều kiện hoàn tự động, chiếm 95% tổng số tờ khai đề nghị hoàn, với số tiền 4.882 tỉ đồng. Qua đó, đã ban hành 763.100 lệnh hoàn (chiếm 74% số hồ sơ phải xử lý) và chuyển Kho bạc Nhà nước chi hoàn 3.566 tỉ đồng. So với năm 2025, tỷ lệ hoàn thuế TNCN tự động tăng từ 36,4% lên 95%; số hồ sơ đủ điều kiện hoàn tự động tăng 264%; số lệnh hoàn đã chuyển Kho bạc Nhà nước tăng 189%; số tiền hoàn tự động tăng 271%.
Như vậy, công tác hoàn thuế tự động đang phát huy hiệu quả nhưng số hồ sơ chưa được hoàn lên khoảng 56.000 trong 4 tháng đầu năm.
Số thuế TNCN khi chưa được nộp vào ngân sách nhà nước thì cơ quan thuế sẽ không thực hiện hoàn thuế cho cá nhân. Luật sư Trần Xoa - Giám đốc Công ty luật Minh Đăng Quang cho rằng, thuế TNCN đối với người làm công ăn lương thường thông qua doanh nghiệp để thực hiện khấu trừ tại nguồn, người lao động không thể tự đi khai, nộp từng quý. Đến khi doanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế năm, hệ thống mới thể hiện lên phần thu nhập, số thuế phải nộp và cá nhân có thể nhìn thấy trên eTax. Nghĩa là khi không được hoàn thuế và nhận được lý do doanh nghiệp đang còn nợ số tiền thuế thì lúc này cá nhân mới biết được. "Người làm công ăn lương biết nhưng làm sao yêu cầu doanh nghiệp nộp số thuế này", ông Xoa nhấn mạnh.
Theo ông Trần Xoa, khi doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế TNCN tháng, quý phải gửi kèm danh sách từng người lao động nộp bao nhiêu và thể hiện dữ liệu trên eTax để theo dõi, chứ không chờ đợi đến thời điểm quyết toán toán thuế (thường rơi vào đầu năm sau). Điều này sẽ giúp giải quyết hoàn cho những trường hợp đã nộp thuế. Ngoài ra, đối với một số doanh nghiệp nợ chỉ vài đồng, vài chục đồng hay nói chung là nợ quá nhỏ thì có giải pháp yêu cầu doanh nghiệp nộp hoặc đối chiếu nếu sai sót thì điều chỉnh để tránh ảnh hưởng đến quyền lợi người lao động.