Theo Quyết định do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn vừa ký, ban giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân gồm 3 người.
PGS.TS Bùi Đức Thọ (SN 1975) tại Đức Thọ, Hà Tĩnh giữ chức Giám đốc.
Hai Phó Giám đốc gồm: PGS.TS Bùi Huy Nhượng và GS.TS Nguyễn Thành Hiếu.
Trước khi trở thành tân Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, ông Thọ đã trải qua các vị trí công tác.
Cụ thể, từ tháng 4/2021 đến năm 2025, ông là Chủ tịch Hội đồng Đại học Kinh tế Quốc dân.
Từ tháng 6/2020 đến tháng 4/2021, ông giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân.
Từ tháng 6/2019 đến tháng 6/2020, ông Thọ là Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (nay là Đại học Kinh tế Quốc dân).
Trước đó, ông đảm nhiệm các chức vụ: Trưởng phòng Tổ chức cán bộ, Trưởng phòng Quản lí khoa học, Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý Khoa học, Phó Trưởng phòng Quản lí khoa học, giảng viên của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Ông học cao học tại Trường Đại học Boise State, Mỹ, nghiên cứu sinh ngành Hành chính học tại Trường Đại học Kyung Hee, Hàn Quốc.
Trước đó, ông Bùi Đức Thọ cũng là sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Tin Gốc: Dân Trí

Cấp thiết hoàn thiện hành lang pháp lý để bảo vệ trẻ em trên môi trường số
Suốt nhiều năm, khi nói đến việc bảo vệ trẻ em trên Internet, người ta thường nhấn mạnh vào giáo dục kỹ năng như nhận biết tin giả, bảo vệ thông tin cá nhân hay ứng xử văn minh trên mạng… Những điều đó vẫn đúng, nhưng trước bối cảnh hiện nay, có lẽ chỉ như vậy là chưa đủ.
Phát biểu gần đây của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho thấy tư duy quản lý đang có sự thay đổi đáng chú ý. Theo Bộ trưởng, không gian mạng đã trở thành nơi học sinh dành nhiều thời gian để học tập, giao lưu và tiếp cận thông tin. Tuy nhiên, sự phát triển rất nhanh của mạng xã hội và các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) cũng đặt ra những thách thức mới trong công tác bảo vệ trẻ em.
Do vậy, việc xây dựng các quy định quản lý trẻ em tiếp cận mạng xã hội và AI là bước chuyển cần thiết trong tư duy bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Nếu trước đây trọng tâm là trang bị kỹ năng cho trẻ, thì nay giáo dục phải đi cùng pháp luật, giải pháp công nghệ, trách nhiệm của các nền tảng số và sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường với cơ quan quản lý. Nói cách khác, bảo vệ trẻ em trên môi trường số cần một hệ sinh thái bảo vệ nhiều tầng, thay vì những nỗ lực đơn lẻ, rời rạc.
Thông điệp ấy cho thấy một sự dịch chuyển trong tư duy. “Trường học an toàn” hôm nay không đơn thuần giới hạn trong hàng rào trường học, cũng không dừng lại ở việc giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, mà còn bao gồm việc bảo vệ học sinh trong môi trường số.
Một học sinh có thể không gặp bạo lực trong lớp học, nhưng vẫn đối diện với bắt nạt trên mạng, nội dung độc hại, lừa đảo trực tuyến, thông tin sai lệch hay những thuật toán liên tục giữ các em ở lại màn hình nhiều giờ mỗi ngày. Nếu những rủi ro ấy không được nhận diện như một phần của an toàn học đường, khái niệm “trường học an toàn” sẽ trở nên thiếu trọn vẹn.
Đây cũng là lý do nhiều quốc gia đã vào cuộc mạnh mẽ, với nhiều giải pháp thiết thực. Trọng tâm của các chính sách này xoay quanh việc quy định độ tuổi tối thiểu để sử dụng mạng xã hội, yêu cầu xác minh độ tuổi, tăng trách nhiệm của các nền tảng công nghệ hoặc thiết lập tài khoản trẻ em ở chế độ bảo mật cao hơn… Điểm chung là không đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai trẻ em hay cha mẹ, mà buộc cả hệ thống cùng tham gia bảo vệ trẻ.
Ở Việt Nam hiện chưa có địa phương nào ban hành quy định cấm trẻ em sử dụng mạng xã hội theo nghĩa pháp lý đầy đủ. Tuy nhiên, nhiều trường học và địa phương đã bắt đầu siết việc học sinh sử dụng điện thoại trong trường học. Trong khi đó, đề xuất hạn chế hoặc cấm trẻ em tiếp cận một số nền tảng mạng xã hội vẫn đang ở giai đoạn nghiên cứu, thảo luận chính sách nhưng đã nhận được sự quan tâm lớn từ dư luận.
Không ít phụ huynh bày tỏ sự đồng tình với việc cần có những giới hạn rõ ràng hơn để bảo vệ trẻ em trên môi trường số, miễn là các quy định ấy được xây dựng khoa học, khả thi và không cản trở nhu cầu học tập, tiếp cận tri thức của các em.
Mới đây, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa (đoàn Hải Phòng) đã đề nghị nghiên cứu các giải pháp phù hợp, trong đó có phương án hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến. Cùng với đó, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng tiến hành khảo sát tại một số địa phương như Đắk Lắk, Hưng Yên, Hải Phòng... về việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Những động thái liên tiếp này là tín hiệu đáng mừng, bởi điều quan trọng không đơn thuần là có thêm đề xuất hay khảo sát, mà là việc bảo vệ trẻ em trên môi trường số đã bước ra khỏi phạm vi những lời khuyến nghị để trở thành một nội dung chính sách. Đây là tiền đề để Việt Nam tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đồng thời hoàn thiện hành lang pháp lý và xây dựng cơ chế bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện thực tiễn trong nước.
Cần “lá chắn” nhiều tầng cho trẻ em trên môi trường số
Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không thể chỉ là trách nhiệm của cha mẹ. Cũng không thể chỉ giao cho nhà trường hay chờ đợi sự tự giác của các nền tảng công nghệ. Điều mà chúng ta cần lúc này là xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, đồng bộ, nhất quán bảo vệ trẻ em trên môi trường số phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế trên thế giới.
Để làm được điều đó, trước hết cần sớm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng trong việc bảo vệ người dùng chưa thành niên; nghiên cứu các giải pháp công nghệ như xác minh độ tuổi, thiết lập chế độ mặc định an toàn cho tài khoản trẻ em; tăng cường cơ chế báo cáo, tiếp nhận phản ánh và xử lý nhanh, nghiêm các nội dung độc hại, đặc biệt là những nội dung có nguy cơ tác động trực tiếp đến trẻ em; đồng thời tiếp tục hoàn thiện các tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ trẻ em trên môi trường số…
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý cũng phải tính đến các “khoảng trống” dễ bị lợi dụng, hạn chế tối đa tình trạng lách luật, vượt qua các rào cản kỹ thuật hoặc sử dụng tài khoản của người khác để tiếp cận những nền tảng, nội dung không phù hợp với lứa tuổi.
Tuy nhiên, pháp luật chỉ tạo ra “hàng rào”. Để “lá chắn” ấy thực sự phát huy hiệu quả, giáo dục mới là yếu tố quyết định.
Trước mỗi năm học mới, việc tập huấn giáo viên và truyền thông tới phụ huynh cần được xem là một phần của công tác chuẩn bị. Giáo viên cần được trang bị kiến thức để hướng dẫn học sinh sử dụng AI và mạng xã hội có trách nhiệm. Phụ huynh cần được hỗ trợ để hiểu rằng quản lý con trên môi trường số không đơn thuần là giới hạn thời gian sử dụng thiết bị, mà còn là đồng hành, trò chuyện và cùng con xây dựng “hệ miễn dịch” số, kỹ năng số.
Ở cấp độ nhà trường, kỹ năng công dân số, sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, nhận diện lừa đảo trực tuyến và ứng xử trên môi trường mạng,… cần trở thành những nội dung giáo dục định kỳ. Cùng với đó là tăng cường hoạt động thể thao, nghệ thuật, đọc sách, câu lạc bộ và trải nghiệm thực tế để giúp học sinh cân bằng giữa đời sống số và đời sống thực.
Báo chí, mạng xã hội, các tổ chức xã hội và doanh nghiệp công nghệ cũng cần đồng loạt triển khai những chiến dịch truyền thông bài bản, dài hạn về an toàn số bằng nhiều hình thức truyền tải gần gũi, hấp dẫn thông qua video, infographic, podcast, tọa đàm hay bộ tài liệu hướng dẫn dành cho phụ huynh và học sinh.
Chỉ khi việc “định hướng tư tưởng” được thực hiện thường xuyên, liên tục, theo cách “mưa dầm thấm lâu”, nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ mới dần trở thành một thói quen, thay vì chỉ được nhắc đến sau mỗi vụ việc đáng tiếc.
Bên cạnh đó, thông tin về Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 cùng các kênh tiếp nhận phản ánh, tư vấn và hỗ trợ cần được phổ biến rộng rãi để bất kỳ trẻ em nào cũng biết nơi tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần.
Điều quan trọng nhất, tôi cho rằng chúng ta không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” hay “thả nổi”. Trẻ em có quyền tiếp cận Internet, AI và những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại. Nhưng quyền ấy phải đi cùng một môi trường đủ an toàn, đủ nhân văn và đủ trách nhiệm.
Thiết nghĩ, một xã hội văn minh không đo bằng việc trẻ em sử dụng công nghệ nhiều hay ít, mà bằng việc người lớn đã làm gì, đã tác động ra sao để các em được lớn lên an toàn trong kỷ nguyên số.
Và có lẽ, trước thềm năm học mới, đó là câu hỏi mà không chỉ ngành giáo dục, mà cả gia đình, nhà trường, doanh nghiệp công nghệ và toàn xã hội đều cần cùng nhau trả lời.
Bà Đặng Việt Trinh là chuyên gia truyền thông, hoạt động trong lĩnh vực quản trị truyền thông - thương hiệu, quan hệ báo chí và xử lý khủng hoảng. Bên cạnh công việc chuyên môn, bà thường xuyên có các bài phân tích, bình luận đăng tải trên nhiều cơ quan báo chí, với mối quan tâm đặc biệt đến giáo dục, trí tuệ nhân tạo, phát triển bền vững và những chuyển động xã hội trong thời đại số.
Đặng Việt Trinh
Tin Gốc: Dân Trí

20 trường có điểm chuẩn lớp 10 thấp nhất TP.HCM bao gồm:
Danh sách 20 trường có điểm chuẩn lớp 10 thấp nhất chủ yếu tập trung ở các trường thuộc khu vực ngoại thành và các địa phương sáp nhập. Trong 20 trường có điểm chuẩn thấp nhất, có tới 14 trường chỉ lấy từ 9-10 điểm, cho thấy áp lực cạnh tranh tại các trường này không lớn. Đặc biệt có khoảng 10 trường lấy điểm chuẩn 9 điểm ở cả 3 nguyện vọng đồng nghĩa thí sinh chỉ cần đạt trung bình 3 điểm mỗi môn là có cơ hội trúng tuyển.
Nhóm này gồm các trường: THPT Cần Thạnh, THCS và THPT Nguyễn Huệ (Bình Dương), THPT Trần Phú (Bà Rịa - Vũng Tàu), THPT Hắc Dịch, THPT Phước Bửu, THPT Nguyễn Văn Cừ (Bà Rịa - Vũng Tàu), THPT Hòa Bình, THPT Dương Bạch Mai, THPT Bưng Riềng và THPT Võ Nguyên Giáp.
Sở GD-ĐT TP.HCM cho hay, tại các địa bàn có mật độ dân cư thấp, nơi cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập, Sở điều chỉnh điểm sàn xuống 9 điểm, thấp hơn năm học trước, nhằm tạo điều kiện để học sinh được học gần nơi cư trú, giảm áp lực đi lại cho gia đình và khai thác hiệu quả trường lớp hiện có. Đối với khu vực nội thành, nơi nhu cầu vượt quá nguồn chỗ học công lập, Sở bảo đảm tuyển đủ chỉ tiêu, đồng thời tiếp tục rà soát, sắp xếp và phát triển thêm các loại hình trường công lập để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.
Để tham khảo toàn bộ thông tin liên quan đến thi lớp 10 năm 2026 và các năm trước, bạn đọc có thể tra cứu TẠI ĐÂY.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Vụ hàng trăm học sinh tại TP.HCM nghi ngộ độc: Bộ Y tế đề nghị điều tra, xử lý vi phạm

Theo Cục An toàn thực phẩm, đơn vị này đã nhận được báo cáo tại phường Bình Quới, TP.HCM ghi nhận hơn 140 học sinh Trường tiểu học Bình Quới Tây nhập viện cấp cứu, nghi do ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như sốt, đau bụng, nôn… Các học sinh đang được điều trị tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh khác nhau.
Cục đề nghị Sở An toàn thực phẩm TP.HCM khẩn trương chỉ đạo các cơ sở khám, chữa bệnh có bệnh nhân đang điều trị, tập trung nguồn lực tích cực điều trị cho bệnh nhân nghi ngộ độc thực phẩm.
Đồng thời tổ chức điều tra, truy xuất nguồn gốc thực phẩm để xác định rõ nguồn cung cấp nguyên liệu, thực phẩm nghi ngờ gây ngộ độc; lấy mẫu thực phẩm, bệnh phẩm để xét nghiệm tìm nguyên nhân; điều tra và xử lý nghiêm các vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (nếu có), công khai kết quả để kịp thời cảnh báo cho cộng đồng.
Song song đó tăng cường các biện pháp quản lý, đặc biệt trong các bếp ăn tập thể, các cơ sở cung cấp suất ăn để hạn chế nguy cơ gây ngộ độc thực phẩm, tăng cường kiểm tra, bảo đảm an toàn thực phẩm ở các bếp ăn tập thể, bếp ăn trường học;
Tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể phải đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm. Thực hiện nghiêm việc kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ nguyên liệu thực phẩm, đảm bảo vệ sinh trong suốt quá trình sơ chế, chế biến, vận chuyển thực phẩm, kiểm thực ba bước, lưu mẫu thực phẩm;
Tuyên truyền cho người dân trong việc lựa chọn thực phẩm cũng như các cơ sở dịch vụ chế biến thực phẩm phục vụ các sự kiện đông người;
Thực hiện nghiêm các nội dung chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế về việc tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố.

