Sau khi lãnh tụ tối cao Ali Khamenei, người lãnh đạo Iran trong 37 năm, bị Israel sát hại ngày 28/2 trong đợt không kích mở màn cuộc chiến chống lại Iran, con trai ông là Mojtaba Khamenei lên kế nhiệm. Tuy nhiên, ông Mojtaba từ đó đến nay chưa từng lộ diện trước công chúng, ngay cả khi Iran đã đạt thỏa thuận ngừng bắn với Mỹ.
Các quan chức cấp cao Iran nói rằng mọi vấn đề then chốt của đất nước đều do tân Lãnh tụ Tối cao 56 tuổi giám sát, nhưng Tổng thống Mỹ Donald Trump bày tỏ hoài nghi, cho hay ông Mojtaba đã bị thương nặng trong các cuộc không kích và không còn nắm quyền lực thực sự.
“Iran đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định ai là lãnh đạo! Họ đơn giản là không biết! Cuộc nội chiến giữa phe cứng rắn, những kẻ đang thất bại thảm hại trên chiến trường, và phe ôn hòa, những người vốn chẳng ôn hòa chút nào nhưng đang dần có uy tín, thật là điên rồ!”, ông Trump từng viết trên mạng xã hội Truth Social.
Một số quan chức Iran giấu tên cho hay ông Mojtaba sau khi bị thương đã giao quyền quyết định cho các tướng lĩnh thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC).
NYTimes cũng dẫn lời giới chuyên gia cho biết quá trình ra quyết định ở Iran không chỉ phụ thuộc vào Lãnh tụ Tối cao, mà còn do một nhóm nhỏ gồm phần lớn các cựu chỉ huy hoặc chỉ huy cấp cao đương nhiệm của IRGC định hướng.
Trên thực tế, không phải toàn bộ IRGC đang nắm quyền kiểm soát ở Iran, mà là một “nhóm huynh đệ”, những tướng vệ binh từng trải qua cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài 8 năm giữa Iran và Iraq bắt đầu vào năm 1980, các nguồn tin cho hay.
Được thành lập vào năm 1979 để bảo vệ cuộc cách mạng Hồi giáo non trẻ, IRGC đã thăng chức cho nhóm sĩ quan trẻ trong độ tuổi 20-30 thành tướng lĩnh. Kinh nghiệm thực tế trong cuộc chiến với Iraq giai đoạn 1980-1988 đã thuyết phục họ rằng Iran phải tự tìm lối đi riêng cho mình bằng mọi giá.
Sau chiến tranh, họ tiếp tục nắm quyền kiểm soát các cơ quan tình báo hoặc an ninh ở Iran. Hầu hết được cho là đã xây dựng mối liên hệ cá nhân với Mojtaba từ nhiều năm trước.
Họ nổi tiếng là thuộc nhóm những người cứng rắn nhất trong bộ máy chính trị -quân sự của Iran. Họ không chỉ cam kết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Cộng hòa Hồi giáo, mà còn áp dụng các biện pháp an ninh nghiêm ngặt để thực thi điều đó.
Trải nghiệm chiến tranh, con đường sự nghiệp và quan điểm tư tưởng chung của họ là lý do đã giúp duy trì sự ổn định của bộ máy lãnh đạo Iran ngay cả khi chịu áp lực rất lớn, bao gồm cả việc mất đi khoảng 50 lãnh đạo chính trị và quân sự cấp cao trong cuộc xung đột với Mỹ và Iran, theo Neil MacFarquhar, nhà bình luận của NY Times.
Một trong những người nổi bật nhất trong nhóm này là Mohammad-Bagher Ghalibaf, 64 tuổi, đang giữ chức Chủ tịch Quốc hội Iran từ năm 2020. Ông Ghalibaf từng là tướng tư lệnh không quân thuộc IRGC, tư lệnh cảnh sát quốc gia, cũng như có thời gian giữ chức thị trưởng Tehran.
Ông đã đối mặt với nhiều lời chỉ trích vì lập trường cứng rắn khi đối phó với các cuộc biểu tình trong nước, và sau đó là những nỗ lực nhằm xây dựng lại hình ảnh bản thân như một chính trị gia ôn hòa hơn.
Ông Ghalibaf hiện giống như cầu nối giữa giới tinh hoa chính trị và quân sự Iran. Ông được đánh giá là người thực tế và được cho là đã tham gia các cuộc đàm phán trực tiếp với phái đoàn Mỹ tại Pakistan gần đây.
Chủ tịch Quốc hội Iran gần đây cảnh báo Washington sẽ phải đối mặt với phản ứng cứng rắn nếu nối lại chiến dịch tấn công, sau khi truyền thông Mỹ nêu khả năng nước này phát động tập kích trở lại và các quan chức Iran chỉ trích phía Mỹ đưa ra “những yêu cầu quá đáng”.
“Lực lượng vũ trang của chúng tôi đã tự tái thiết trong thời gian ngừng bắn theo cách mà nếu ông Trump có thêm hành động dại dột nữa và tái khởi động giao tranh, Mỹ chắc chắn sẽ phải hứng chịu hậu quả còn cay đắng và tàn khốc hơn so với ngày đầu xung đột”, ông Ghalibaf cho biết.
Người thứ hai trong danh sách là tư lệnh IRGC Ahmad Vahidi, 67 tuổi. Ông được tin là thuộc nhóm nhỏ có liên lạc trực tiếp với Lãnh tụ Tối cao Mojtaba Khamenei, theo Jon Gambrell, phụ trách tin tức về vùng Vịnh và Iran của AP.
Ông Vahidi đã góp phần định hình sự hậu thuẫn của Iran dành cho các nhóm vũ trang khắp khu vực, cũng như lãnh đạo lực lượng an ninh đối phó phong trào biểu tình năm 2022.
Được thăng chức làm tư lệnh IRGC ngay sau khi người tiền nhiệm bị hạ sát trong giai đoạn đầu xung đột, ông Vahidi đang lãnh đạo lực lượng quyền lực nhất Iran, sở hữu kho tên lửa hành trình cùng hạm đội tàu nhỏ đang đe dọa các tuyến hàng hải ở vịnh Ba Tư.
“Vahidi và các thành viên trong nhóm thân cận của ông có khả năng đã củng cố quyền kiểm soát đối với các phản ứng quân sự của Iran trong cuộc xung đột và chính sách đàm phán của nước này”, Viện Nghiên cứu Chiến tranh có trụ sở tại Washington cho biết.
Kenneth Katzman, nghiên cứu sinh cấp cao tại tổ chức nghiên cứu The Soufan Group ở New York kiêm chuyên gia về Iran, cho hay Vahidi có quan điểm về “sự kháng cự không hồi kết”. Tướng vệ binh này tin rằng “Mỹ cần phải bị thách thức ở mọi mặt trận”.
Là người đứng đầu cơ quan tư pháp Iran từ năm 2021, Gholam-Hossein Mohseni-Ejei, 69 tuổi,từ lâu gắn liền với bộ máy an ninh nội địa và các chiến dịch trấn áp phe bất đồng chính kiến của Iran. Ông từng giữ chức bộ trưởng tình báo trong cuộc bất ổn hậu bầu cử năm 2009, thời điểm diễn ra các cuộc biểu tình ở Iran.
Ông đã đối mặt với các lệnh trừng phạt từ Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) vì những cáo buộc vi phạm nhân quyền liên quan đến trấn áp biểu tình.
Hossein Taeb, giáo sĩ 63 tuổi, từng lãnh đạo tổ chức tình báo IRGC năm 2009-2022, cũng như từng dẫn dắt lực lượng dân quân Basij và các đơn vị phản gián nội bộ. Nhiệm kỳ của ông được đánh dấu bằng nỗ lực trấn áp trên diện rộng, bao gồm việc bắt giữ các công dân mang hai quốc tịch và những người thuộc phe đối lập.
Dù bị cách chức khỏi vị trí lãnh đạo tình báo sau các thất bại an ninh và cuộc tấn công mạng vào chương trình hạt nhân của Iran, ông Taeb vẫn giữ được sức ảnh hưởng lớn và được cho là có mối quan hệ thân thiết với Lãnh tụ Tối cao Mojtaba.
Cựu tổng tư lệnh IRGC giai đoạn 2007-2019 Mohammad Ali Jafari đã giám sát việc mở rộng mạnh mẽ mạng lưới dân quân khu vực của Iran và được ghi nhận là người đã phát triển chiến lược giúp phân tán cấu trúc chỉ huy quân sự của Iran, đảm bảo khả năng kháng cự trong các cuộc tấn công của đối phương.
Là người theo đường lối cứng rắn lâu năm, ông Jafari công khai ủng hộ việc Iran đối đầu với Israel và các lợi ích của phương Tây, đồng thời vẫn là nhà chiến lược quân sự có tầm ảnh hưởng, dù không nắm giữ chức vụ chính thức nào.
Mohammad Bagher Zolghadr, 72 tuổi, từng là phó tư lệnh IRGC và quan chức an ninh cấp cao Iran. Ông Zolghadr hiện đảm nhận vai trò thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Iran, cơ quan then chốt điều phối các chính sách quốc phòng, tình báo và đối ngoại.
Vai trò quan trọng của ông hiện tại là gắn kết các thể chế chính trị, quân sự và tư pháp của Iran thành một khối thống nhất khi đất nước có chiến tranh.
Hamidreza Azizi, chuyên gia về Iran tại Viện Trung Đông, cho biết Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn có một người đối thoại duy nhất ở Iran để đàm phán, nhưng “toàn bộ hệ thống giờ đã thay đổi”.
“Đây không phải là màn trình diễn của một người”, Azizi nhận định. “Iran giờ đây có những người Mỹ đã biết tên, nhưng cũng có cả những người họ không biết đến”.
Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio ngày 23/5 bày tỏ hy vọng có thể sớm công bố “tin tốt” về nỗ lực đàm phán với Iran, đề cập một thỏa thuận khung mà hai bên có khả năng đạt được để chấm dứt chiến sự.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Iran Esmaeil Baqaei sau đó xác nhận hai bên đang có “xu hướng xích lại gần nhau”, nhưng lưu ý rằng điều đó không nhất thiết đồng nghĩa Mỹ và Iran sẽ đạt được nhất trí về “các vấn đề quan trọng”.
Theo TASS, đêm ngày 24, rạng sáng ngày 25/5, quân đội Nga đã tiến hành một trong những cuộc tập kích bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) lớn nhất kể từ đầu năm 2026. Theo Bộ Quốc phòng Nga, chiến dịch sử dụng đồng thời tên lửa đạn đạo tầm trung Oreshnik, Iskander-M, tên lửa siêu thanh Kinzhal, Zircon, Kalibr, Kh-101 cùng hàng trăm UAV nhằm vào các “mục tiêu quân sự và công nghiệp quốc phòng” của Ukraine. Phía Ukraine cho biết Nga phóng khoảng 90 tên lửa và gần 600 UAV, trong đó có nhiều loại vũ khí mà hệ thống phòng không hiện tại rất khó đánh chặn.
Các vụ nổ liên tiếp xuất hiện tại thủ đô Kiev, Bila Tserkva, Starokostiantyniv và nhiều địa phương khác gây thiệt hại lớn đối với cơ sở hạ tầng dân sự và quân sự. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky xác nhận nhiều khu dân cư, trường học, cơ sở cấp nước và công trình dân sinh bị hư hại, khiến nhiều người thiệt mạng và bị thương. Trong khi đó, Nga khẳng định đây là đòn đáp trả trực tiếp sau vụ tấn công vào khu ký túc xá trường cao đẳng ở Starobilsk (Lugansk) ngày 22/5, nơi phía Nga cáo buộc Ukraine sử dụng UAV tấn công làm ít nhất 21 người thiệt mạng.
Vụ việc cho thấy cuộc chiến đang bước vào giai đoạn mà mỗi đòn đánh đều kéo theo phản ứng quân sự mạnh hơn từ phía đối phương. Điều nguy hiểm không chỉ nằm ở quy mô hỏa lực ngày càng lớn, mà còn ở tâm lý trả đũa đã trở thành một phần của chiến lược chiến tranh. Khi cả Moscow lẫn Kiev đều cho rằng mình hành động vì “tự vệ chính đáng”, nguy cơ leo thang gần như không còn giới hạn rõ ràng.
Cuộc chiến chuyển từ giằng co chiến tuyến sang hủy diệt hậu phương
Điểm đáng chú ý nhất của các diễn biến gần đây là chiến trường Nga - Ukraine đang thay đổi về bản chất. Nếu giai đoạn đầu của cuộc chiến chủ yếu xoay quanh việc giành kiểm soát lãnh thổ tại Donetsk, Lugansk, Zaporozhzhia hay Kherson, thì hiện nay, hai bên ngày càng tập trung vào việc tấn công sâu vào hậu phương chiến lược của nhau nhằm gây sức ép tâm lý, kinh tế và quân sự.
Nga cho rằng các cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ nước này bằng UAV và tên lửa tầm xa do phương Tây hỗ trợ đã vượt qua “lằn ranh đỏ”. Nhiều tháng qua, Ukraine liên tục thực hiện các vụ tập kích vào kho nhiên liệu, căn cứ quân sự, cơ sở dầu khí tại Belgorod, Kursk, Bryansk, Rostov và thậm chí vùng ngoại vi Moscow. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia quân sự Nga, mục tiêu của Kiev là làm suy yếu năng lực hậu cần và tạo áp lực tâm lý đối với công chúng Nga.
Ở chiều ngược lại, Nga đang sử dụng ưu thế về tên lửa chiến lược và năng lực sản xuất quân sự để mở rộng các chiến dịch không kích quy mô lớn. Điều đáng chú ý là Nga hiện không chỉ dựa vào các loại tên lửa hành trình truyền thống, mà còn gia tăng sử dụng vũ khí siêu thanh và tên lửa đạn đạo tầm trung có khả năng xuyên thủng hệ thống phòng không hiện đại.
Tên lửa Oreshnik được xem là ví dụ điển hình cho xu hướng này. Theo nhiều nguồn phân tích quân sự quốc tế, đây là loại tên lửa đạn đạo tầm trung thế hệ mới có tốc độ trên Mach 10, đủ khả năng mang đầu đạn hạt nhân hoặc đầu đạn thông thường. Việc Nga triển khai tên lửa Oreshnik gần Kiev mang ý nghĩa vượt xa giá trị quân sự đơn thuần. Nó không chỉ nhằm gây thiệt hại thực tế mà còn là thông điệp răn đe chiến lược gửi tới Ukraine và phương Tây.
Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW) nhận định Nga có thể đang tận dụng chiến trường Ukraine để kiểm nghiệm thực tế các hệ thống vũ khí mới, nhất là công nghệ đầu đạn phân hướng độc lập (MIRV) và khả năng xuyên phá phòng không đa tầng. Một số chuyên gia phương Tây cho rằng Nga đang cố gắng chứng minh rằng họ vẫn duy trì ưu thế công nghệ trong cuộc chiến tiêu hao kéo dài.
Tuy nhiên, điều khiến cộng đồng quốc tế lo ngại hơn cả là sự kết hợp giữa vũ khí siêu thanh với chiến thuật “bão hòa phòng không”. Nga hiện sử dụng hàng trăm UAV giá rẻ để tiêu hao radar và tên lửa đánh chặn trước khi tung đòn tấn công bằng tên lửa tốc độ cao. Chiến thuật này đang đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống Patriot và các tổ hợp phòng không do phương Tây cung cấp cho Ukraine.
Dù Ukraine tuyên bố đánh chặn được phần lớn mục tiêu, thực tế cho thấy thiệt hại vẫn gia tăng đáng kể. Điều này phản ánh giới hạn của phòng không Ukraine trong bối cảnh Nga liên tục mở rộng quy mô tập kích. Theo nhiều chuyên gia NATO, ngay cả các hệ thống phòng không hiện đại nhất cũng khó có thể chống đỡ hoàn toàn trước các cuộc tấn công kết hợp quy mô lớn kéo dài nhiều giờ liên tục.
Trong khi đó, Ukraine cũng đang thay đổi chiến lược quân sự. Thay vì đối đầu trực diện với ưu thế hỏa lực của Nga, Kiev tập trung phát triển chiến tranh bất đối xứng bằng UAV và các loại vũ khí tầm xa giá rẻ nhưng đạt hiệu quả cao.
Một số chuyên gia châu Âu nhận định chiến trường Ukraine hiện là nơi chứng kiến tốc độ đổi mới công nghệ quân sự nhanh nhất kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Sự phát triển của chiến tranh thông minh, nhất là UAV đang làm thay đổi toàn bộ logic tác chiến truyền thống. Những thiết bị có giá vài nghìn USD giờ đây có thể phá hủy mục tiêu trị giá hàng chục hoặc hàng trăm triệu USD. Điều này khiến cuộc chiến ngày càng khó kiểm soát hơn, bởi năng lực tấn công đã trở nên phân tán và linh hoạt hơn rất nhiều so với trước đây.
Ranh giới giữa răn đe chiến lược và nguy cơ leo thang
Một trong những yếu tố khiến giới quan sát quốc tế đặc biệt lo ngại là việc Nga thường xuyên sử dụng các loại vũ khí có khả năng mang đầu đạn hạt nhân. Dù Nga khẳng định chỉ triển khai đầu đạn thông thường, nhưng việc sử dụng Oreshnik, Kinzhal hay các hệ thống đạn đạo tầm trung vẫn bị xem là hình thức “tín hiệu hạt nhân” đối với phương Tây.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bất kỳ động thái nào liên quan đến vũ khí hạt nhân đều được coi là cực kỳ nhạy cảm, bởi nguy cơ hiểu nhầm chiến lược có thể dẫn đến leo thang ngoài ý muốn. Hiện khi các kênh đối thoại quân sự giữa Nga và NATO suy giảm nghiêm trọng, nguy cơ tính toán sai lầm càng trở nên đáng báo động.
Cao ủy Chính sách Đối ngoại Liên minh châu Âu Kaja Kallas cho rằng việc sử dụng Oreshnik là “hành động nguy hiểm”, bởi nó làm mờ ranh giới giữa chiến tranh thông thường và răn đe hạt nhân. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nhận định Nga đang cố gắng tạo sức ép tâm lý chiến lược trong bối cảnh cuộc chiến chưa đạt được đột phá trên thực địa.
Một số nhà phân tích Nga cho rằng Moscow buộc phải gia tăng sức ép quân sự nhằm ngăn phương Tây tiếp tục mở rộng hỗ trợ quân sự cho Ukraine. Theo quan điểm này, Nga muốn chứng minh rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm “đánh bại chiến lược” Moscow đều sẽ khiến chi phí an ninh của châu Âu tăng cao hơn nữa.
Tuy nhiên, chính logic đó lại làm cho vòng xoáy trả đũa trở nên nguy hiểm hơn. Khi mỗi bên đều coi hành động của mình là “phòng vệ cần thiết”, còn đối phương là bên leo thang trước, khả năng kiểm soát khủng hoảng sẽ suy giảm nghiêm trọng.
Điều đáng lưu ý là xung đột hiện nay không chỉ còn mang tính quân sự. Đây còn là cuộc chiến về “ý chí chính trị” và sức chịu đựng xã hội. Nga muốn chứng minh rằng nước này có khả năng duy trì chiến tranh dài hạn bất chấp trừng phạt và áp lực quốc tế. Ukraine cũng muốn cho thấy họ không bị khuất phục trước các cuộc tập kích quy mô lớn. Khi không bên nào sẵn sàng nhượng bộ, chiến tranh sẽ có xu hướng kéo dài theo logic tiêu hao. Và trong những cuộc chiến kiểu này, dân thường luôn là đối tượng chịu hậu quả nặng nề nhất.
Cái giá nhân đạo và nguy cơ bất ổn toàn cầu
Dù Nga hay Ukraine đều tuyên bố chỉ nhắm vào mục tiêu quân sự, thực tế chiến trường cho thấy thương vong dân sự đang ngày càng gia tăng. Các thành phố lớn như Kiev, Kharkov, Odessa, Belgorod hay Donetsk liên tục phải sống trong tình trạng báo động không kích kéo dài.
Hàng triệu người dân đang phải thích nghi với một cuộc sống bất an thường trực. Theo phía Ukraine, các đợt tập kích mới nhất từ Nga đã gây hư hại cho một số khu dân cư, trường học, cơ sở y tế và hệ thống cấp nước. Trong khi đó, phía Nga tiếp tục nhấn mạnh thương vong dân sự tại Starobilsk như bằng chứng cho thấy hậu phương của họ cũng đang trở thành mục tiêu.
Các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) nhiều lần cảnh báo cả hai bên cần tuân thủ nghiêm ngặt luật nhân đạo quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh công nghệ cao và chiến tranh đô thị hiện đại, việc phân biệt tuyệt đối giữa mục tiêu quân sự và dân sự ngày càng khó khăn hơn.
Điều đáng lo ngại hơn là cuộc chiến đang tạo ra hiệu ứng bất ổn dây chuyền đối với kinh tế và an ninh toàn cầu. Thị trường năng lượng châu Âu tiếp tục biến động mạnh mỗi khi xuất hiện các cuộc tấn công vào cơ sở dầu khí hoặc hạ tầng vận tải chiến lược. Chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ sự gián đoạn xuất khẩu ngũ cốc qua Biển Đen.
NATO và Liên minh châu Âu cũng đang đối mặt với bài toán chiến lược khó khăn. Một mặt, phương Tây muốn tiếp tục hỗ trợ Ukraine nhằm ngăn Nga đạt được lợi thế quyết định. Mặt khác, các nước châu Âu ngày càng lo ngại nguy cơ xung đột lan rộng hoặc vượt khỏi tầm kiểm soát. Nhiều chuyên gia cảnh báo mối nguy lớn nhất hiện nay không phải là một quyết định cố ý dẫn tới “chiến tranh hạt nhân”, mà là chuỗi sai lầm chiến lược tích tụ qua thời gian. Chỉ cần một vụ phóng nhầm, một tên lửa rơi vào lãnh thổ NATO hoặc một hành động bị hiểu sai, khủng hoảng có thể leo thang ngoài dự tính.
Lịch sử Chiến tranh Lạnh từng nhiều lần chứng kiến thế giới đứng sát bờ vực bởi những sự cố tương tự. Vì vậy, giới quan sát quốc tế đang thúc giục các bên khôi phục các kênh liên lạc quân sự nhằm tránh hiểu nhầm chiến lược. Trong bối cảnh hiện nay, triển vọng hòa đàm vẫn còn rất mong manh. Nga và Ukraine đều tin rằng họ chưa tới giới hạn chịu đựng cuối cùng. Nhưng càng kéo dài chiến tranh, cái giá mà cả hai nước và thế giới phải trả sẽ càng lớn hơn.
Cuộc xung đột Nga - Ukraine giờ đây không còn đơn thuần là tranh chấp lãnh thổ. Nó đã trở thành phép thử đối với cấu trúc an ninh toàn cầu, khả năng kiểm soát leo thang của các cường quốc và giới hạn của chiến tranh công nghệ hiện đại. Điều nguy hiểm nhất nằm ở chỗ: khi các bên dần quen với nhịp độ leo thang hiện nay, những giới hạn từng được xem là không thể vượt qua có thể sẽ tiếp tục bị đẩy lùi. Và trong những cuộc chiến như vậy, hòa bình thường là thứ đến muộn nhất.
“Thủ tướng Đức Friedrich Merz cho rằng việc Iran sở hữu vũ khí hạt nhân là không có vấn đề gì. Ông ta không biết mình đang nói cái gì đâu… Chẳng trách nước Đức lại đang bết bát đến vậy, cả về kinh tế lẫn những mặt khác", Tổng thống Trump viết trên mạng xã hội X ngày 29.4.
Ông Trump cho biết Mỹ đang "nghiên cứu và xem xét khả năng giảm quân số tại Đức và sẽ đưa ra quyết định trong thời gian ngắn sắp tới", The Guardian đưa tin.
Phát ngôn của ông Trump được đưa ra sau khi Thủ tướng Merz hồi đầu tuần nói rằng Mỹ “rõ ràng là không có chiến lược” trong xung đột với Iran.
"Vấn đề của những cuộc xung đột như vậy luôn là việc bạn không chỉ phải bước vào, mà còn phải biết cách thoát ra. Chúng ta đã chứng kiến bài học đau đớn đó suốt 20 năm ở Afghanistan. Chúng ta cũng đã thấy điều đó ở Iraq", ông Merz nói trong buổi mít tinh tại một trường học ở Đức hôm 27.4.
Nhà lãnh đạo Đức cho rằng cuộc chiến ở Trung Đông đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế Iran. Ông cũng nói thêm Mỹ đã bị giới lãnh đạo Iran “làm bẽ mặt” khi tham gia đàm phán nhưng không mang lại kết quả.
"Rõ ràng người Iran rất giỏi đàm phán, hay đúng hơn là rất giỏi trong việc không đàm phán, khi để người Mỹ đến Islamabad (Pakistan) rồi lại rời đi mà không đạt được kết quả gì. Cả một quốc gia đang bị giới lãnh đạo Iran, đặc biệt là những người được gọi là Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC), làm bẽ mặt. Vì vậy, tôi hy vọng điều này sẽ kết thúc càng sớm càng tốt", ông Merz nói hôm 27.4.
Ông Trump từng nhiều lần dọa giảm hiện diện quân đội Mỹ tại Đức, đồng thời để ngỏ khả năng rời liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Theo phân tích của các nhà tâm lý học từ Đại học Arizona và Đại học Missouri - Kansas City (cùng ở Mỹ), trung bình mỗi người hiện nay nói ít hơn khoảng 338 từ mỗi ngày qua từng năm - một xu hướng suy giảm đáng kể trong giao tiếp trực tiếp.
Nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ 22 công trình khác nhau với hơn 2.200 người tham gia tại Mỹ cùng một số nước châu Âu, Úc và Mexico trong giai đoạn từ năm 2005 - 2019 để ước tính mức độ giao tiếp hằng ngày của con người, theo trang IFLScience ngày 16-4.
Kết quả cho thấy vào năm 2005, một người trung bình nói khoảng 16.000 từ mỗi ngày, từ những cuộc trò chuyện với gia đình, đồng nghiệp cho đến những câu xã giao đơn giản.
Tuy nhiên sau đó số lượng này liên tục giảm, trung bình giảm 338 từ mỗi ngày qua từng năm. Đến năm 2019, con số chỉ còn khoảng 12.700 từ mỗi ngày, tương đương mức giảm gần 28%.
Dù mỗi ngày chỉ giảm vài trăm từ, song tổng cộng lại mỗi người đã nói ít hơn 120.000 từ trong giao tiếp mỗi năm so với năm trước đó.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đây không chỉ là những con số mà phản ánh những cuộc trò chuyện thực sự, cả lớn lẫn nhỏ, đã biến mất khỏi đời sống thường nhật.
Xu hướng này đặc biệt rõ rệt ở giới trẻ. Những người dưới 25 tuổi giảm trung bình khoảng 452 từ mỗi ngày mỗi năm, cao hơn đáng kể so với mức giảm 314 từ ở nhóm từ 25 tuổi trở lên. Điều này cho thấy sự thay đổi trong cách giao tiếp của thế hệ trẻ, vốn gắn liền với công nghệ số.
Nguyên nhân chính được cho là sự phát triển của điện thoại thông minh, mạng xã hội và các dịch vụ tự động.
Thay vì gọi điện đặt đồ ăn, nhiều người chỉ cần vài thao tác trên ứng dụng. Thay vì hỏi đường, họ dùng bản đồ số. Từ đó những tương tác nhỏ tưởng chừng không đáng kể lại đang dần biến mất.
Tuy vậy nhóm nghiên cứu cũng lưu ý nghiên cứu chủ yếu dựa trên dữ liệu từ các xã hội phương Tây, nơi có mức độ cá nhân hóa cao và công nghệ phát triển mạnh. Do đó xu hướng này có thể không hoàn toàn giống ở các nền văn hóa khác.
Điều đáng lo ngại là tác động tiềm ẩn đến sức khỏe tinh thần và sự kết nối xã hội. Con người vốn là sinh vật có tính xã hội cao, và những cuộc trò chuyện trực tiếp mang lại giá trị cảm xúc mà tin nhắn hay mạng xã hội khó thay thế.
Theo các nhà nghiên cứu, giao tiếp bằng lời nói kích hoạt những quá trình tâm lý và xã hội đặc biệt, góp phần cải thiện cảm giác gắn kết và hạnh phúc.
Nghiên cứu nhấn mạnh rằng, chỉ cần tăng thêm vài trăm từ giao tiếp mỗi ngày cũng có thể giúp giảm cảm giác cô đơn.
Trong bối cảnh xã hội ngày càng "im lặng", việc chủ động trò chuyện, dù là những câu hỏi đơn giản như "hôm nay bạn thế nào?", có thể trở thành chìa khóa để duy trì sự kết nối giữa con người với nhau.
Nghiên cứu công bố trên tạp chí Perspectives on Psychological Science.