Chậm chạp đẩy xe rác cao quá đầu người trên đường Hải Phòng, bà Ông Thị Mỹ Linh, 48 tuổi, công nhân Đội môi trường Thanh Khê, cho biết mỗi ca làm việc bắt đầu từ 5h đến chiều muộn, nhưng “thu gom hoài vẫn không xuể”. Nhiều điểm người dân xả rác bừa bãi, nếu thu gom chậm sẽ bị dân phản ánh lên mạng xã hội và kênh góp ý của thành phố.
Gần 20 năm làm nghề, mỗi ngày bà phải thu gom và đẩy khoảng 11 thùng rác loại 660 kg, cao điểm lên đến 15 thùng. Tổng khối lượng xử lý mỗi ngày lên đến 8 tấn rác sinh hoạt kèm phế liệu xây dựng, giường nệm cũ vô chủ. Vào dịp lễ Tết, lượng rác nhiều hơn, thêm áp lực cho công nhân môi trường.
“Mình làm cực thì mong tăng lương, nhưng công ty không có nguồn thu thì lấy đâu ra bù vào để tăng cho mình”, bà Linh nói. Sau hai thập kỷ cống hiến, tổng thu nhập mỗi tháng của bà chỉ hơn 6 triệu đồng, bao gồm 225.000 đồng một ngày công và 25.000 đồng tiền ăn ca.
Những công nhân vệ sinh cỡ tuổi và mức lương như bà Linh chiếm số đông trong công ty. Theo ông Phạm Thanh Phúc, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Môi trường đô thị Đà Nẵng, đơn vị đang đối mặt với cuộc khủng hoảng già hóa lao động khi số người trên 45 tuổi chiếm hơn 50%. Công việc độc hại nhưng tiền lương quá thấp khiến công ty không thể tuyển mới để bù đắp số người thôi việc.
Theo quy định, công nhân chỉ làm 26 công một tháng, nhưng do thiếu người trầm trọng nên họ phải gánh từ 28 đến 29 công. Rác thu gom không kịp dẫn đến tình trạng ùn ứ tại một số khu vực.
“Gốc rễ của việc không đảm bảo được quyền lợi cho công nhân là do những bất cập trong cơ chế đặt hàng và định mức kinh phí”, ông Phúc phân tích. Nhiều phường vẫn áp dụng đơn giá đặt hàng cũ dựa trên mức lương cơ sở 1,49 triệu đồng từ những năm trước, gây thua lỗ cho doanh nghiệp.
Hiện mức thu phí rác sinh hoạt tại TP Đà Nẵng cũ từ 15.000 đồng (nhà tập thể, chung cư, nhà trọ); 25.000 đồng với hộ dân sống trong kiệt, hẻm; 30.000 đồng với hộ mặt tiền đường phố. Mức đóng này duy trì từ năm 2017 đến nay.
Nhận định mức phí rác tại Đà Nẵng quá thấp, ông Ngô Lê Quảng, Giám đốc Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội – Chi nhánh Miền Trung, cho biết đơn vị đang chịu trách nhiệm thu gom khoảng 150 tấn rác một ngày cho 40.000 hộ dân tại ba phường Hải Vân, Liên Chiểu và Hòa Khánh với lộ trình trải dài 180-200 km đường kiệt, hẻm.
“Đơn giá thấp như thế thì không thể nào đòi hỏi chất lượng môi trường tốt hơn được”, ông Quảng nói. Dù doanh nghiệp đã bù lỗ để đảm bảo thu nhập thực tế cho công nhân đạt 10-15 triệu đồng một tháng, đơn vị vẫn bất lực trước bài toán nhân sự dài hạn.
Ông Quảng kiến nghị TP Đà Nẵng khẩn trương ban hành giá dịch vụ thu gom rác dựa trên định mức kỹ thuật mới để nâng cao thu nhập cho người lao động. Đồng thời, thành phố cần trích xuất camera đường phố để xử phạt nghiêm hành vi lén lút đổ bậy phế liệu xây dựng, rác cồng kềnh vào ban đêm.
Tại cuộc họp chấn chỉnh công tác thu gom và xử lý rác thải tại TP Đà Nẵng cũ ngày 22/5, ông Trần Nam Hưng, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, khẳng định đấu thầu là giải pháp lâu dài để chuẩn hóa chất lượng vệ sinh đô thị. Xã phường có hai tháng để hoàn thành hồ sơ, dứt điểm chọn nhà thầu và ký hợp đồng vào đầu tháng 8.
Để giữ chân công nhân môi trường, thành phố quyết định nâng cao thu nhập cho họ ngay trong hai tháng chuyển tiếp bằng cách cho phép đơn vị môi trường áp dụng đơn giá nhân công hiện hành để ký hợp đồng ngay, xóa bỏ mức chi trả lỗi thời.
Phó chủ tịch thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương sửa đổi các quy định phân cấp, chấm dứt tình trạng tự ý cắt giảm tiêu chí quét dọn do thiếu kinh phí tại các địa phương. “Thành phố phải dứt khoát thống nhất một loại đơn giá. Thiếu đâu cơ quan chức năng bù đó, không để chắp vá về kỹ thuật và chất lượng vệ sinh”, ông Hưng nhấn mạnh.
Với công nhân như bà Linh, mong mỏi lớn nhất là được tăng lương, người dân có ý thức giữ gìn vệ sinh, xả rác đúng nơi quy định để bà hàng ngày không phải trở đi trở lại nhiều lần tuyến đường Hải Phòng và Hoàng Hoa Thám thu gom rác.
Ngày 16.6, Sở Y tế TP.HCM cho biết đến ngày 15.6, nền tảng sức khỏe cộng đồng của ngành y tế thành phố đã cập nhật dữ liệu sức khỏe của hơn 2,3 triệu người dân (2.311.179 người).
Trong số này, có gần 2,2 triệu (2.180.245) hồ sơ là dữ liệu khám sức khỏe học sinh năm học 2025 - 2026 và 130.934 hồ sơ là dữ liệu người dân được khám sức khỏe từ ngày 1.1.2026 đến nay.
PGS-TS Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết đây là những dữ liệu nền tảng đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng trong lộ trình xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử cho mỗi người dân. Dữ liệu này tạo cơ sở quản lý sức khỏe liên tục theo vòng đời, hỗ trợ dự phòng, phát hiện sớm bệnh tật và nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe toàn dân trong tiến trình chuyển đổi số ngành y tế.
Hiện Sở Y tế TP.HCM đang phối hợp với Trung tâm Chuyển đổi số TP.HCM đẩy nhanh việc hoàn thiện hồ sơ sức khỏe điện tử và tích hợp trên ứng dụng công dân số. Trước mắt, toàn bộ kết quả khám sức khỏe định kỳ sẽ được cập nhật vào hồ sơ sức khỏe điện tử, hình thành dữ liệu sức khỏe ban đầu cho mỗi người dân.
Trong giai đoạn tiếp theo, khi kho dữ liệu ngành y tế chính thức vận hành vào cuối năm 2026, việc kết nối và liên thông giữa hồ sơ sức khỏe điện tử với hồ sơ bệnh án điện tử tại các cơ sở khám chữa bệnh sẽ được triển khai đồng bộ. Qua đó từng bước hình thành bức tranh toàn diện về tình trạng sức khỏe của mỗi người trong suốt cuộc đời.
"Việc xây dựng và liên thông dữ liệu không chỉ giúp người dân dễ dàng theo dõi, quản lý thông tin sức khỏe trên môi trường số mà còn tạo nền tảng để các cơ sở y tế khai thác, cập nhật và sử dụng dữ liệu liên tục. Đây là cơ sở để đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe chủ động, phát hiện sớm bệnh tật, nâng cao hiệu quả điều trị, tăng cường y tế dự phòng và thúc đẩy quản trị y tế dựa trên dữ liệu", Giám đốc Sở Y tế TP.HCM chia sẻ.
Về chương trình khám sức khỏe toàn dân, ngành y tế ghi nhận nhiều địa phương triển khai tích cực. Đến nay, các địa phương có số lượng người dân được khám sức khỏe cao gồm: xã An Nhơn Tây (9.419 người), xã Bà Điểm (7.653 người), phường Tân Tạo (3.548 người), xã Hiệp Phước (2.633 người), xã Thạnh An (2.452 người), xã Tân Nhựt (2.447 người), phường Tăng Nhơn Phú (2.333 người), xã Hưng Long (2.283 người) và xã Bắc Tân Uyên (2.189 người).
Theo Sở Y tế, kết quả này cho thấy sự vào cuộc tích cực của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện chương trình. Nhiều nơi đã chủ động xây dựng kế hoạch, rà soát đối tượng, đẩy mạnh truyền thông, vận động người dân tham gia khám sức khỏe; đồng thời linh hoạt bố trí địa điểm và phối hợp với trạm y tế, trung tâm y tế khu vực cùng các bệnh viện phụ trách địa bàn để triển khai hiệu quả.
Tuy nhiên, Sở Y tế cũng cho biết vẫn còn một số địa phương đã tổ chức khám sức khỏe nhưng chưa cập nhật đầy đủ số liệu lên phần mềm quản lý. Thực tế đối chiếu cho thấy số lượng người dân đã được khám tại một số nơi cao hơn số liệu ghi nhận trên hệ thống.
Việc chậm cập nhật dữ liệu không chỉ ảnh hưởng đến công tác theo dõi tiến độ chương trình mà còn tác động đến quá trình xây dựng hồ sơ sức khỏe điện tử của người dân.
Sở Y tế đề nghị UBND các phường, xã, đặc khu khẩn trương rà soát, đối chiếu số liệu thực tế với dữ liệu trên hệ thống; cập nhật đầy đủ, chính xác và kịp thời kết quả khám sức khỏe theo quy định. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện danh sách đối tượng, tăng cường truyền thông, vận động người dân tham gia khám sức khỏe và phối hợp chặt chẽ với các cơ sở khám chữa bệnh được phân công phụ trách địa bàn nhằm đẩy nhanh tiến độ, bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu được giao.
Tôi nhớ một buổi sáng cách đây không lâu ở một thành phố, có quán cà phê với tấm biển lớn treo phía trên: "Cà phê siêu sạch - nguyên chất 100%". Đi thêm vài trăm mét, hiện tượng tương tự lặp lại: quán nào cũng dán dòng chữ ấy, có nơi còn để to hơn cả tên thương hiệu.
Buổi chiều đi ngang qua nhiều cơ sở đào tạo tên gắn liền với chữ "quốc tế".
Hai hiện tượng không liên quan, nhưng phản ánh cùng một logic quen thuộc: nếu niềm tin chất lượng thực tế vẫn còn bị nhiều người ngoài nghi, thì ngôn từ dường như được huy động để lấp đầy khoảng trống.
Trong đời sống thường nhật, người tiêu dùng vẫn thường mang nỗi nghi ngại: ly cà phê mình uống có thật sự nguyên chất? Có bị pha tạp chất, hóa chất bảo quản hay không? Những vụ việc cà phê giả, cà phê "bẩn" bị phát hiện thời gian qua càng làm tăng thêm sự bất an ấy.
Chính vì vậy, "siêu sạch" không còn là một tính từ mô tả mà trở thành lời cam kết hay hứa hẹn. Ngay cả quán cà phê vỉa hè giá chỉ 15.000 đồng cũng treo biển "siêu sạch".
Vì nếu không nói ra điều này, khách hàng khó mà tin tưởng. Khách hàng không chỉ mua một ly cà phê; họ mua cảm giác yên tâm.
Câu chuyện nhiều "đại học quốc tế" cũng vận hành theo cùng một cơ chế. Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chuyển mình, hai chữ "quốc tế" trở thành tín hiệu mạnh mẽ, gợi lên hình ảnh chương trình tiên tiến, giảng viên chất lượng cao và bằng cấp có giá trị toàn cầu. Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng khớp với tên gọi. Nhiều chương trình vẫn còn hạn chế về đội ngũ giảng viên quốc tế, môi trường học thuật và sự công nhận quốc tế thực sự.
Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã siết chặt quy định về đặt tên cơ sở giáo dục đại học, không cho phép tùy tiện sử dụng các từ mang tính "vị thế đặc biệt" như "quốc tế", "quốc gia", "Việt Nam"… trừ khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định này cho thấy hiện tượng lạm dụng tên gọi không còn là chuyện cá biệt, mà đã trở thành vấn đề cần quản lý để tránh gây nhầm lẫn và bảo vệ người học.
Vậy điều gì khiến nhiều người đặc biệt "ưa chuộng" những từ mang tính nâng cấp như "siêu" hay "quốc tế"?
Câu trả lời có lẽ nằm ở một tâm lý dễ hiểu: chất lượng thực tế còn khiêm tốn, nhưng khát vọng vươn tầm lại rất lớn. Trong thời gian dài, một số loại hàng hóa kém ổn định về chất lượng. Giáo dục trong nước cũng thường bị so sánh bất lợi với các nền giáo dục tiên tiến.
Những so sánh ấy có thể không công bằng, nhưng để lại dấu ấn: cảm giác chưa đủ, kèm theo mong muốn được công nhận mạnh mẽ.
Phải chăng khoảng cách giữa thực tế và kỳ vọng còn lớn, nên ngôn từ trở thành giải pháp nhanh nhất để "nâng cấp" hình ảnh?
"Siêu sạch" không chỉ là sạch mà còn vượt trội so với "chưa sạch". "Quốc tế" không chỉ là mở rộng mà còn là cách khẳng định mình đã bước ra khỏi khuôn khổ "bình thường nội địa".
Đó là một dạng tự vệ tâm lý: khẳng định giá trị ngay cả khi điều đó chưa hoàn toàn trở thành hiện thực.
Ở chiều tích cực, khát vọng ấy có thể là động lực quan trọng. Khi người tiêu dùng đòi hỏi cà phê sạch hơn, nhiều doanh nghiệp, từ các thương hiệu lớn đến các cơ sở nhỏ, đã đầu tư nghiêm túc hơn vào nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và truy xuất nguồn gốc.
Tương tự, áp lực từ phụ huynh tìm kiếm giáo dục chất lượng cao đã thúc đẩy nhiều trường cải thiện chương trình, hợp tác quốc tế và hướng tới các tiêu chuẩn kiểm định quốc tế. Khát vọng, vì thế không chỉ nằm trên tấm biển quảng cáo, mà có thể kéo thực tế đi lên.
Tuy nhiên nếu khát vọng chỉ dừng lại ở ngôn từ, chính những từ ngữ ấy sẽ dần mất giá trị. Khi quán nào cũng "siêu sạch", người tiêu dùng bắt đầu nghi ngờ tất cả.
Khi trường nào cũng mang tên "quốc tế", sinh viên và phụ huynh sẽ tự hỏi: đâu mới là quốc tế thực sự? Khi niềm tin bị bào mòn, thiệt hại không chỉ thuộc về một thương hiệu hay một trường học, mà còn thuộc về cả hệ sinh thái kinh tế - giáo dục.
Ly cà phê vỉa hè đến tấm biển trường đại học cho thấy tràn đầy khát vọng, nhưng ngôn từ đôi khi lại đi nhanh hơn thực lực hiện có.
Có lẽ, điều cốt lõi là nâng chất lượng thực chất đến mức những cụm từ như "siêu sạch" hay "quốc tế" trở nên không còn cần thiết.
Khi cà phê thật sự sạch, người ta nhận ra qua vị đắng thanh và hậu ngọt tự nhiên, chứ không phải qua tấm biển trước quán. Khi một trường đại học đạt chuẩn, sinh viên sẽ cảm nhận qua chương trình học, đội ngũ giảng viên và con đường nghề nghiệp mở ra trên khu vực hoặc toàn cầu, chứ không cần phải đọc tên trường mới biết.
Đến lúc đó, niềm tin không còn treo trên bảng hiệu mà nằm trong trải nghiệm. Và khát vọng cũng không cần phải nói to lên nữa, bởi nó đã hiện diện trong chính chất lượng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP ngày 15.5.2026 điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng.
9 nhóm đối tượng áp dụng:
Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.
Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố...
Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng...
Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.
Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương.
Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.
Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào...
Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.
Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại điều 23 của luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.
Ngoài ra, các đối tượng được nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 1.1.1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 1.1.1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg), sau khi thực hiện điều chỉnh có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3,8 triệu/tháng.
Chính phủ quy định, từ ngày 1.7, điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6 với 9 nhóm đối tượng trên.
Đồng thời, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh, có mức hưởng thấp hơn 3,8 triệu đồng/tháng thì được điều chỉnh như sau:
Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3,5 triệu đồng/người/tháng.
Tăng lên bằng 3,8 triệu đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng cao hơn 3,5 triệu đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3,8 triệu đồng/người/tháng.
Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh nêu trên là căn cứ để tính điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng ở những lần điều chỉnh tiếp theo.