Tuy không phải là yếu tố quyết định trực tiếp, nhưng một số nghiên cứu cho thấy thời điểm sử dụng caffeine có thể ảnh hưởng đến các quá trình trong cơ thể hoặc hành vi có lợi cho việc kiểm soát cân nặng, theo Health (Mỹ).
Các hợp chất trong cà phê có thể góp phần vào quá trình giảm hoặc duy trì cân nặng theo một số cách như.
Giảm mỡ cơ thể: Uống cà phê với lượng vừa phải (1-7 tách mỗi tuần) có thể giúp giảm tổng lượng mỡ trong cơ thể, đặc biệt là mỡ vùng thân và mỡ nội tạng (VAT) có hại cho sức khỏe.
Giảm cảm giác thèm ăn: Cà phê có thể giúp một số người duy trì cân nặng và lượng mỡ cơ thể thấp hơn nhờ tác động lên cảm giác thèm ăn. Cụ thể, uống cà phê trước bữa ăn được cho là có thể giúp giảm cảm giác đói.
Tăng tiêu hao năng lượng: Cà phê giúp cơ thể đốt cháy nhiều calo hơn nhờ làm tăng nhẹ tốc độ chuyển hóa khi nghỉ ngơi – tức lượng calo cơ thể tiêu hao ngay cả khi không vận động. Caffeine cũng có thể thúc đẩy quá trình oxy hóa chất béo (phân giải mỡ trong cơ thể).
Tuy nhiên, chỉ uống cà phê thôi là chưa đủ để giảm cân. Một chế độ ăn giàu vitamin, khoáng chất, protein, chất xơ và kiểm soát tổng lượng calo nạp vào vẫn là yếu tố quan trọng nhất để giảm cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh.
Dùng cà phê có caffeine khoảng 60 phút trước khi tập có thể hỗ trợ cải thiện hiệu suất và mức năng lượng. Điều này giúp buổi tập hiệu quả hơn, từ đó hỗ trợ kiểm soát cân nặng.
Tuy nhiên, cần tránh uống cà phê vào buổi tối quá gần giờ đi ngủ vì có thể làm rối loạn giấc ngủ, kể cả trong ngắn hạn. Thiếu ngủ có thể ảnh hưởng đến chuyển hóa và khiến việc đốt calo, giảm cân trở nên khó khăn hơn.
Bản thân cà phê là thức uống ít calo, không chứa chất béo, không có carbohydrate (tinh bột) và chỉ có lượng protein rất nhỏ. Tuy nhiên, khi bạn bắt đầu thêm đường hoặc chất tạo ngọt, lợi ích hỗ trợ giảm cân của cà phê có thể bị mất đi.
Một nghiên cứu năm 2023 cho thấy, dù uống cà phê nhìn chung có liên quan đến xu hướng giảm cân, nhưng việc thường xuyên thêm một thìa cà phê đường vào tách cà phê lại có thể làm tăng nguy cơ tăng cân.
Thay vào đó, các chuyên gia khuyên nên thêm các loại gia vị ấm, thơm như quế, sữa thực vật hoặc một ít sữa tươi nếu bạn không quen uống cà phê đen.
Ổi là loại trái cây nhiệt đới, vị ngọt, giòn dễ ăn, mang lại nhiều lợi ích sức khỏe. Không chỉ hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường miễn dịch, ổi còn tốt cho đường huyết và mỡ máu - hai yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh tim mạch, tiểu đường.
Ăn ổi thường xuyên có thể giúp ổn định đường huyết lúc đói. Hiệu quả này chủ yếu nhờ hàm lượng chất xơ dồi dào, giúp làm chậm quá trình hấp thu đường vào máu.
Nhờ vậy, ổi góp phần hạn chế các đợt tăng đường huyết đột ngột sau ăn, hỗ trợ cải thiện độ nhạy insulin theo thời gian. Ổi có chỉ số đường huyết tương đối thấp, nên ít gây biến động đường huyết so với nhiều loại trái cây ngọt khác. Đây là lựa chọn có lợi cho người tiền đái tháo đường hoặc mắc tiểu đường type 2.
Cải thiện cholesterol và mỡ máu
Không chỉ tác động đến đường huyết, ổi còn góp phần cải thiện lipid máu. Chất xơ hòa tan trong ổi đóng vai trò liên kết và loại bỏ bớt chất béo dư thừa khỏi cơ thể. Đồng thời, các chất chống oxy hóa giúp giảm viêm, stress oxy hóa - yếu tố góp phần gây rối loạn mỡ máu.
Ở một số người, ăn ổi có thể giúp tăng nhẹ HDL (cholesterol tốt), từ đó cải thiện cân bằng lipid và giảm nguy cơ xơ vữa động mạch.
Có lợi với sức khỏe tim mạch
Ổi chứa kali - khoáng chất quan trọng giúp điều hòa huyết áp. Khi kết hợp với chế độ ăn giàu chất xơ, tiêu thụ ổi thường xuyên có thể giảm cả chỉ số huyết áp tâm thu và tâm trương.
Vitamin C và các hợp chất thực vật trong ổi giúp bảo vệ thành mạch, giảm tổn thương do gốc tự do đồng thời cải thiện chức năng mạch máu. Những yếu tố này góp phần giảm nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim về lâu dài.
Tốt cho chuyển hóa
Lợi ích của ổi đến từ thành phần dinh dưỡng đa dạng và cân bằng. Trước hết, hàm lượng chất xơ cao giúp làm chậm quá trình hấp thu đường trong ruột, đồng thời hỗ trợ giảm cholesterol trong máu. Các chất chống oxy hóa như flavonoid và vitamin C có tác dụng giảm viêm, stress oxy hóa - những yếu tố liên quan đến rối loạn chuyển hóa.
Cách ăn ổi để đạt hiệu quả tối ưu
Các nghiên cứu cho thấy lợi ích rõ rệt hơn khi ăn khoảng một quả ổi cỡ vừa mỗi ngày. Thời điểm phù hợp có thể là giữa buổi sáng, buổi chiều hoặc trước bữa ăn để hỗ trợ kiểm soát cảm giác thèm ăn và ổn định đường huyết.
Ổi có thể được ăn trực tiếp, thêm vào salad hoặc xay sinh tố tùy khẩu vị. Để tăng hiệu quả dinh dưỡng, có thể kết hợp ổi với nguồn đạm hoặc chất béo lành mạnh như sữa chua hoặc các loại hạt. Quan trọng hơn, việc duy trì thói quen ăn đều đặn mỗi ngày mang lại lợi ích rõ ràng hơn so với việc chỉ sử dụng ngắt quãng.
Theo báo cáo mới nhất về tình hình bệnh truyền nhiễm tại TP.HCM trong tuần 14 (từ ngày 30-3 đến 5-4) của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP (HCDC), số ca mắc tay chân miệng trên địa bàn tiếp tục tăng báo động.
Cụ thể trong tuần 14 ghi nhận 1.347 ca bệnh tay chân miệng, tăng 64% so với trung bình 4 tuần trước (821 ca).
Tích lũy từ đầu năm đến tuần 14 ghi nhận 10.496 ca, tăng 182,4% so với cùng kỳ năm 2025 (3.717 ca) và cao hơn ngưỡng cảnh báo (trung bình 5 năm + 2 độ lệch chuẩn).
Có đến 120/168 phường, xã, đặc khu có số mắc tăng so với trung bình 4 tuần trước, trong đó có 43/168 phường xã có số ca mắc tăng báo động.
Về ổ dịch tay chân miệng, ghi nhận 29 ổ dịch tại trường học và 17 ổ dịch cộng đồng trong tuần. Tích lũy từ đầu năm đến tuần 14 là 438 ổ dịch, trong đó có 244 ổ dịch trường học (61 ổ đang theo dõi, 183 ổ đã kết thúc) và 194 ổ dịch cộng đồng (29 ổ đang theo dõi, 165 ổ đã kết thúc theo dõi).
Trong tuần ghi nhận 425 ca tay chân miệng từ các tỉnh khác đến khám, điều trị tại TP.HCM (chiếm 24% trên tổng số 1.772 ca điều trị). Trong các ca bệnh nặng từ độ 2B trở lên, có 16/26 ca là bệnh nhân chuyển đến từ tỉnh khác (chiếm 61,5%).
Trong tuần không ghi nhận ca tử vong tay chân miệng. Tuy nhiên tích lũy từ đầu năm đến nay ghi nhận 4 ca tử vong, tăng 4 ca so với cùng kỳ năm 2025 (0 ca).
Theo HCDC, TP.HCM là địa phương tiếp nhận và điều trị số lượng lớn bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm từ các tỉnh khác, đặc biệt là các trường hợp nặng. Điều này tạo áp lực đáng kể lên hệ thống điều trị của TP, nhất là bệnh viện tuyến cuối.
Trước tình hình bệnh tay chân miệng tăng nhanh, HCDC cho biết tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn trực tiếp cho các phường, xã, đặc khu về việc triển khai các hoạt động giám sát, điều tra dịch tễ, xác định và xử lý ổ dịch tay chân miệng tại cộng đồng và trường học.
Đồng thời tiếp tục điều tra lấy mẫu xét nghiệm tác nhân tại các cơ sở điều trị và các ổ dịch cộng đồng trên địa bàn.
Song song đó đẩy mạnh truyền thông các biện pháp phòng chống tay chân miệng, đặc biệt tại các trường mầm non công lập và tư thục, các nhóm trẻ, các khu dân cư đông trẻ em.
Dưới góc nhìn y học, vấn đề không nằm ở việc tắm ngay hay không, mà phụ thuộc trạng thái cơ thể lúc đó, nhiệt độ nước và cách tắm. Đổ mồ hôi sau quan hệ, trong đa số trường hợp, chỉ là phản ứng sinh lý bình thường.
Quan hệ tình dục cũng là một dạng hoạt động thể lực với nhịp tim tăng, mạch máu giãn ra để tỏa nhiệt và tuyến mồ hôi hoạt động mạnh hơn. Một nghiên cứu cho thấy hoạt động này tiêu hao trung bình khoảng 85 kcal, mức gắng sức từ nhẹ đến trung bình. Vì vậy, đổ mồ hôi sau quan hệ phần lớn chỉ phản ánh cơ thể vừa "vận động có hiệu quả".
Ngoài ra, mồ hôi có thể tăng nếu phòng nóng, thiếu thông thoáng hoặc do yếu tố tâm lý như hồi hộp. Nếu không kèm đau ngực, khó thở, chóng mặt nhiều hay kiệt sức, thì đây hiếm khi là dấu hiệu đáng lo.
Với người khỏe mạnh, tắm sau đó thường không gây hại. Nếu cơ thể nóng, dính mồ hôi, muốn làm sạch cơ thể, tắm nhẹ nhàng là hợp lý. Điều cần tránh là tắm khi cơ thể vẫn còn đang "cao trào" - tim đập nhanh, thở gấp, đầu hơi lâng lâng - đặc biệt tắm với nước quá nóng hoặc trong không gian bí. Vấn đề không phải là "tắm liền", mà là tắm khi cơ thể chưa kịp hạ nhiệt lại còn chịu thêm kích thích nhiệt mạnh.
Một số người tắm xong sẽ có cảm giác choáng vì sau vận động, mạch máu ngoài da đang giãn để tỏa nhiệt. Nếu tiếp tục tắm nước nóng, mạch máu có thể giãn thêm gây tụt huyết áp nhẹ dẫn đến chóng mặt hoặc mệt. Tình trạng này dễ gặp ở người huyết áp thấp, thiếu nước hoặc thể lực kém.
Cách an toàn và dễ chịu nhất là nghỉ vài phút, thở lại cho đều, uống vài ngụm nước nếu thấy khát, rồi tắm bằng nước ấm vừa hoặc mát nhẹ. Không cần chờ quá lâu, nhưng cũng không nên tắm nước nóng ngay. Khi vệ sinh, chỉ cần rửa nhẹ nhàng, đặc biệt vùng sinh dục ngoài. Tránh chà xát mạnh hoặc dùng quá nhiều sản phẩm vì da và niêm mạc lúc này nhạy cảm hơn.
Nếu ra mồ hôi kèm đau ngực, khó thở, chóng mặt nhiều, buồn nôn, ngất hoặc mệt kéo dài, cần đi khám. Hoạt động tình dục tương đương mức gắng sức nhẹ - trung bình, nên xuất hiện triệu chứng tim mạch là dấu hiệu cần được đánh giá.
Ngoài ra, nếu đổ mồ hôi quá mức cả khi nghỉ ngơi hoặc ảnh hưởng sinh hoạt, có thể liên quan tình trạng tăng tiết mồ hôi và cần kiểm tra.