Trong căn phòng khoảng 10 m2 tại trụ sở Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long (cũ), tỉnh Vĩnh Long, Nghĩa ngồi lặng trước tiếng khóc thét của bé gái 6 tuổi đang ôm chặt cổ bố. Đó là buổi chiều một ngày mưa giữa năm 2025.
Theo bản án ly hôn đã có hiệu lực, hôm đó anh phải giao đứa trẻ cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.
Người cha tên Nam, 50 tuổi, mặc áo mưa chạy xe máy chở con đến đúng giờ hẹn. Ông ướt sũng vì chiếc áo mưa duy nhất đã mặc cho con gái. Một tay bế con, tay còn lại cầm hai túi nylon đựng sữa, đồ ăn và mấy món đồ chơi quen thuộc.
“Tôi đến giao con theo quyết định của chấp hành viên”, ông nói, giọng nghẹn lại.
Rồi như sợ con thiếu thốn điều gì, người đàn ông liên tục dặn dò. Ông cũng nói nếu sau này chứng minh được vợ cũ chăm sóc con không tốt, mình sẽ khởi kiện để giành quyền nuôi lại.
Đến lúc đó, bé gái mới biết mình sắp phải rời bố.
Đứa trẻ khóc nấc, hai tay bám chặt áo bố, không chịu buông. Người mẹ đứng cạnh cố dỗ dành nhưng cô bé càng hoảng loạn hơn. Trong căn phòng nhỏ, tiếng khóc trẻ con, tiếng người lớn thở dài và tiếng mưa đập ngoài hiên trộn vào nhau tạo thành bầu không khí nặng đến nghẹt thở.
“Nhiều lúc mình cũng thấy tim chùng xuống”, Nghĩa kể.
Người đứng giữa pháp luật và tình thân
Hồ sơ thể hiện, ông Nam kết hôn năm 2017 với người phụ nữ lớn hơn mình 6 tuổi. Người vợ có hai con riêng đã trưởng thành, cuộc sống ổn định.
Sau khi cưới, họ sinh một bé gái rồi sống cùng bố mẹ chồng ở thành phố Vĩnh Long cũ.
Năm năm chung sống, hai người phát sinh nhiều mâu thuẫn. Trong đơn ly hôn, người chồng cho rằng vợ “không biết chăm con, không quán xuyến được gia đình”. Theo lời kể của chấp hành viên, ông Nam nói bản thân nhiều lần cố thay đổi tình hình nhưng bất lực.
Ra tòa cuối năm 2024, cả hai đều xin quyền nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Thu nhập của họ thực tế không chênh lệch nhiều, khoảng 9 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, người vợ làm công nhân, có bảng lương và thu nhập thể hiện qua tài khoản ngân hàng; còn người chồng làm thợ xây, nhận tiền công theo ngày nên khó chứng minh điều kiện kinh tế.
Con gái chưa đủ 7 tuổi nên tòa quyết định giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Người bố không kháng cáo.
Dù chấp nhận phán quyết, ông Nam vẫn tiếp tục chăm sóc con suốt nhiều tháng sau đó. Đến khi người vợ làm đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự mới vào cuộc.
“Nhiều người nghĩ thi hành án là kê biên tài sản, cưỡng chế nhà đất. Nhưng giao con sau ly hôn mới là dạng khiến chấp hành viên áp lực nhất”, Nghĩa nói.
Bởi với tài sản, cưỡng chế xong là kết thúc. Còn với một đứa trẻ, phía sau quyết định giao nhận là cả một mối quan hệ gia đình bị xé đôi.
‘Pháp luật giao con cho mẹ rồi’
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Nghĩa đến nhà người bố để tống đạt quyết định thi hành án. Anh giải thích rõ: sau 10 ngày kể từ khi nhận quyết định, người cha phải giao con theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu cố tình không chấp hành có thể bị xử lý theo quy định.
Điều khiến Nghĩa lo nhất là nguy cơ cưỡng chế. “Nhìn hai bố con quấn quýt như vậy, tôi đã chuẩn bị cả phương án xấu nhất”, anh kể.
Nhưng khoảng một tuần sau, ông Nam chủ động gọi điện. Câu hỏi duy nhất của người đàn ông là: “Nếu sau này vợ tôi cản không cho thăm con thì sao?”
Nghĩa giải thích, pháp luật vẫn bảo đảm quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu người mẹ ngăn cản hoặc chăm sóc con không phù hợp, người bố hoàn toàn có quyền khởi kiện để yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.
Chiều mưa hôm đó, sau gần một giờ giằng co và dỗ dành, người cha cuối cùng cũng buông tay. Ông cúi xuống nói với con “pháp luật giao con về ở với mẹ rồi”, rồi dặn thêm: “Sau này lớn lên, nếu thích thì lại về ở với bố”.
Nói xong, ông quay lưng bước nhanh ra ngoài.
Qua ô cửa kính mờ nước mưa, Nghĩa thấy người đàn ông liên tục lấy tay quệt nước mắt rồi phóng xe đi mất.
Trong phòng, bé gái vẫn khóc và không chịu theo mẹ. Người phụ nữ phải dỗ dành rằng sẽ “chở về gặp bố” thì đứa trẻ mới chịu bước ra cửa.
Những vụ thi hành án nhiều nước mắt
Hơn 11 năm làm nghề, Nghĩa nói anh đã chứng kiến không ít cuộc giao con sau ly hôn trong nước mắt. Có người mẹ ôm chặt con cố thủ trong nhà. Có người cha bế con bỏ đi nơi khác để né thi hành án. Cũng có trường hợp đứa trẻ hoảng loạn, la hét khi bị buộc phải rời người thân đang trực tiếp chăm sóc mình.
“Nhiều vụ, chấp hành viên gần như trở thành người hòa giải tâm lý bất đắc dĩ”, anh nói.
Theo Nghĩa, điều khó nhất không phải viện dẫn quy định pháp luật, mà là làm sao để các bên hiểu rằng sau ly hôn, đứa trẻ vẫn cần cả cha lẫn mẹ.
Pháp luật có thể xác định ai là người trực tiếp nuôi con, nhưng rất khó đo đếm đầy đủ sự gắn bó tình cảm giữa con trẻ với mỗi bên cha mẹ.
Khi nào cha hoặc mẹ được quyền nuôi con sau ly hôn?
Từ năm 2015 đến nay, tòa án các cấp đã giải quyết khoảng 2,4 triệu vụ việc hôn nhân và gia đình, trong đó ly hôn chiếm khoảng 80%. Các tranh chấp liên quan quyền nuôi con, cấp dưỡng và chia tài sản sau ly hôn đều có xu hướng gia tăng.
Theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, sau ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Nếu hai bên không thỏa thuận được, tòa án sẽ quyết định giao con cho một người trực tiếp nuôi căn cứ quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Với trẻ từ đủ 7 tuổi trở lên, tòa phải xem xét nguyện vọng của con.
Luật cũng quy định, con dưới 36 tháng tuổi thường được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc hai bên có thỏa thuận khác phù hợp lợi ích của trẻ.
Sau khi bản án có hiệu lực, người cha hoặc mẹ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu chứng minh được bên còn lại: không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng; hạn chế thời gian dành cho con; môi trường sống không phù hợp; hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ.
Theo chấp hành viên Lê Nguyễn Trọng Nghĩa, khi xem xét yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, tòa án thường đánh giá tổng thể các yếu tố như thu nhập, chỗ ở, nghề nghiệp, thời gian chăm sóc, đạo đức, lối sống và lợi ích tốt nhất cho đứa trẻ.
Ngày 13/5, TAND TPHCM tuyên phạt bị cáo Ma Cai (50 tuổi) 6 năm tù và Li Chuang (48 tuổi, quốc tịch Trung Quốc) 5 năm tù về các tội Cưỡng đoạt tài sản và Bắt, giữ người trái pháp luật.
Liên quan đến vụ án, các đồng phạm còn lại bị tuyên phạt mức án từ 2 đến 4 năm tù.
Theo nhận định của HĐXX, hành vi của các bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền tự do thân thể và tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và an toàn xã hội tại Việt Nam. Tuy nhiên, tòa cũng xem xét một số tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, một số bị cáo có nhân thân tốt.
Trước đó, trong phần luận tội, đại diện Viện KSND đánh giá đây là vụ án có tổ chức, mang tính chất côn đồ, manh động, có yếu tố xuyên quốc gia. Các bị cáo đã lợi dụng tiền điện tử để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản với giá trị đặc biệt lớn nên cần xử lý nghiêm nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Theo hồ sơ vụ án, Ma Cai nhận lời một người đàn ông Trung Quốc (chưa rõ lai lịch) sang Việt Nam tìm ông Ye Sun J. (38 tuổi, quốc tịch Trung Quốc) để đòi nợ. Để thực hiện kế hoạch, Ma Cai thuê Li Chuang tham gia.
Nhằm thuận tiện trong việc giao tiếp, Li Chuang thuê Lê Thị Bích Xuyên (36 tuổi, ngụ Cần Thơ) làm phiên dịch, với lời hứa trả công 500.000 nhân dân tệ (khoảng 1,7 tỷ đồng) sau khi hoàn thành công việc.
Ngày 9/2/2025, Ma Cai cùng Xuyên di chuyển từ Lào về TPHCM. Tại đây, Xuyên lôi kéo Huỳnh Văn Toàn (31 tuổi) và Nguyễn Thanh Vũ (32 tuổi) tham gia. Những người này có nhiệm vụ tìm kiếm nạn nhân tại khu vực quận 7, cung cấp thông tin cần thiết và được trả công hàng chục triệu đồng cho mỗi lần thực hiện.
Sau nhiều ngày lên kế hoạch và theo dõi, tối 28/2/2025, khi nhận được tin ông J. đang ăn uống tại khu vực quận 7, cả nhóm quyết định ra tay. Li Chuang điều khiển xe máy chở Ma Cai đến hiện trường để cảnh giới, các đối tượng còn lại đi ô tô theo sau.
Khi nạn nhân vừa mở cửa xe bước xuống, cả nhóm lập tức xông vào khống chế. Ông J. bám cửa xe chống cự, tri hô thì bị một đối tượng dí dao đe dọa, ép lên xe đưa đi.
Sau đó, nhóm này đánh đập, dùng búa, đinh và dao uy hiếp, đe dọa giết nạn nhân nhằm buộc ông chuyển 10 triệu USDT (tiền điện tử, quy đổi gần tương đương USD). Do không thể đáp ứng, nạn nhân xin giảm xuống còn 5 triệu USDT, tương đương hơn 125 tỷ đồng.
Bị ép buộc, ông J. phải gọi điện cho bạn bè vay mượn và chuyển trước 600.000 USDT (hơn 10 tỷ đồng) cho nhóm của Ma Cai. Tuy nhiên, ngay sau khi nhận tiền, các bị cáo đã bị lực lượng chức năng bắt giữ.
Ngày 21/5, Công an phường Xuân Hòa triệu tập nhóm nữ sinh đánh nạn nhân, tiếp tục củng cố hồ sơ để xử lý.
Theo xác minh ban đầu, nữ sinh 16 tuổi, học lớp 10 Trường Trường Cao đẳng nghề Việt Xô số 1, xảy ra mâu thuẫn với hai bạn cùng trường.
Ngày 19/5, trong giờ ra chơi, nữ sinh bị hai bạn này rủ thêm một số học sinh khác quây đánh hội đồng.
Tại nhà vệ sinh nữ tầng 8 của trường, nạn nhân bị nhóm nữ sinh đánh liên tiếp. Trong lúc hành hung, nhóm này còn dùng điện thoại quay video gửi cho bạn bè và phát tán lên mạng xã hội.
Sau vụ việc, nữ sinh bị thương và hoảng loạn tinh thần, được đưa đến Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt Phúc Yên điều trị, sau đó chuyển tới Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để tiếp tục theo dõi, điều trị.
Quá trình làm việc với công an, các học sinh liên quan đã thừa nhận hành vi đánh bạn và việc quay, đăng video lên mạng xã hội.
Nhiều người tỏ ra bức xúc nhưng cũng có người lại đổ cho các cô gái: "Ai bảo ăn mặc kiểu đấy, người ta chụp phải chịu". Tôi rất bất bình với kiểu suy nghĩ đổ lỗi cho nạn nhân như thế này.
Một số người lại nói "thấy đẹp người ta mới chụp, chụp về xem thôi chứ có làm gì đâu, pháp luật có cấm đâu".
Thực tế, tôi thấy nhiều nước quy định rất gắt gao về việc chụp trộm ảnh người khác, không quan trọng người bị chụp ăn mặc, hình thể ra sao, hay ảnh bị chụp nhằm mục đích gì.
Xin được hỏi 3 câu:
- Luật nước ta có đề cập gì đến việc chụp trộm ảnh người khác khi không được cho phép?
- Nếu vợ, con gái tôi là người bị chụp trộm trong những bức ảnh như thế, tôi có thể tố cáo kẻ chụp trộm vì hành vi gì, đến cơ quan nào?
- Tôi có thể xin lệnh cấm người này đến gần các nạn nhân (như ở nước ngoài áp dụng) được không? Tôi xin cảm ơn.
Luật sư tư vấn:
Theo Điều 32 Bộ luật Dân sự, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:
a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;
b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Cũng theo Điều 32, trường hợp có vi phạm, người có hình ảnh được quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hình ảnh cá nhân được pháp luật bảo vệ.
Việc chụp trộm và sử dụng hình ảnh cá nhân của người khác khi chưa được phép là vi phạm pháp luật, có thể bị xử phạt hành chính.
Với trường hợp người thân bị chụp trộm ở nơi công cộng như câu hỏi ở trên, bạn Đỗ Phú có quyền yêu cầu người đó xóa ảnh. Nếu họ không hợp tác, bạn có quyền báo công an phường, xã nơi xảy ra sự việc, về hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền bí mật đời tư, để được xử lý, giải quyết theo quy định.
Về việc cấm người đã có hành vi chụp trộm hình ảnh người khác tiếp xúc gần các nạn nhân thì pháp luật Việt Nam hiện nay không quy định. Do vậy, bạn không thể xin lệnh cấm người vi phạm đến gần người từng bị chụp.
Tuy nhiên, trường hợp người vi phạm tiếp tục vi phạm thì sẽ bị áp dụng các chế tài nghiêm khắc hơn theo quy định của pháp luật (xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự...).