Ngày 1/6, Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Tây Ninh (phường Thanh Điền), tổ chức lễ công bố quyết định đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước đối với các phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng.
Đến dự có Đại tá Trần Văn Luận, Phó Giám đốc Công an tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh và đại diện TAND tỉnh.
Tại buổi lễ, Thượng tá Nguyễn Thị Hồng Vân – Phó Giám thị Trại tạm giam số 1 công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước. Trong đợt này, Trại tạm giam số 1 có 29 phạm nhân đủ điều kiện được đặc xá, trở về địa phương tái hòa nhập cộng đồng.
Đại tá Trần Văn Luận chúc mừng các phạm nhân được đặc xá, đồng thời mong muốn mỗi người xem đây là dấu mốc quan trọng để bắt đầu cuộc sống mới, quyết tâm hoàn lương, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Cùng ngày, Trại giam Long Hòa (Cục C10, Bộ Công an) tổ chức lễ công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước cho 169 phạm nhân chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện.
Đây là những phạm nhân có quá trình học tập, lao động, cải tạo tích cực, chấp hành tốt các nội quy cơ sở giam giữ, đủ điều kiện và tiêu chuẩn được xét đặc xá.
Đại tá Võ Nhựt Hải – Giám thị Trại giam Long Hòa chúc mừng các phạm nhân được hưởng chính sách đặc xá năm 2026. Ông khẳng định, đặc xá không chỉ là sự tha thứ mà còn là sự ghi nhận, cơ hội mà Đảng, Nhà nước trao cho những ai thực sự biết ăn năn, hối cải, quyết tâm làm lại từ đầu.
Giám thị Trại giam Long Hòa đề nghị, sau khi trở về địa phương, các phạm nhân tiếp tục phấn đấu hướng thiện, tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Cùng ngày, Trại giam Cây Cầy (xã Tân Biên, tỉnh Tây Ninh) tổ chức lễ công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2026. Đến dự có Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tỉnh Tây Ninh Võ Văn Ngầu và đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh.
Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo Trại giam Cây Cầy công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước năm 2026 đối với 92 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đây.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại tá Phạm Văn Thúy, Giám thị Trại giam Cây Cầy cho biết, đặc xá là chính sách nhân đạo đặc biệt của Đảng và Nhà nước, thể hiện sự nhân văn, khoan hồng đối với những người phạm tội thật sự ăn năn, hối cải, tích cực học tập, lao động, cải tạo và có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Tin Gốc: Dân Trí
Pháp Luật
Bóc gỡ đường dây tội phạm xuyên biên giới: Phá án với quyết tâm và trách nhiệm

Trao đổi với Tuổi Trẻ, thượng tá Nguyễn Trung Hòa - Phó trưởng Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM - cho biết một trong những chìa khóa giúp cơ quan chức năng bóc gỡ đường dây đưa người sang Campuchia và lật mặt nhóm "hiệp sĩ" tự xưng cứu người là quyết tâm và tinh thần trách nhiệm của người chiến sĩ Công an nhân dân.
* Xin ông cho biết ngay sau khi tiếp nhận tin trình báo của mẹ bị hại bị lừa sang Campuchia bằng thủ đoạn "việc nhẹ lương cao", Công an TP.HCM đã đánh giá tính chất vụ việc như thế nào và có những chỉ đạo ra sao để giải quyết nguồn tin?
- Ngay sau khi mẹ của bị hại đến cơ quan công an trình báo, ban giám đốc Công an TP.HCM đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự tiếp nhận và nhanh chóng xác minh nguồn tin.
Qua xác minh nguồn tin, nhận thấy có dấu hiệu nghi vấn tội phạm, Phòng Cảnh sát hình sự đã xin ý kiến ban giám đốc Công an TP và xác lập chuyên án để đấu tranh.
Trong quá trình thực hiện chuyên án, ban chuyên án đã làm rõ, qua đó bắt, xử lý nhiều đối tượng có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; mua bán người; tổ chức, môi giới cho người khác xuất, nhập cảnh trái phép...
* Vụ án này liên quan nhiều nghi can, đặc biệt có những người nổi tiếng trên mạng, điều này có gây ra khó khăn gì cho ban chuyên án trong quá trình điều tra không?
- Trong quá trình đấu tranh, ban chuyên án đã gặp không ít khó khăn. Thứ nhất, nhóm "hiệp sĩ" do Nguyễn Thanh Hải cầm đầu đã tạo dựng cho mình vỏ bọc là những người nghĩa hiệp, chuyên đứng ra "giải cứu" nạn nhân, giúp người dân, từ đó tạo được lòng tin trong người dân.
Thứ hai, trong vụ án này các đối tượng hoạt động xuyên quốc gia, ở nhiều nước, đồng thời sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi ở cả trong nước và nước ngoài, gây khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ.
Một trở ngại khác là sau khi được "giải cứu", nhiều nạn nhân vẫn còn tâm lý e dè, ngại làm việc với công an. Nguyên nhân là do bản thân họ khi sang Campuchia là xuất cảnh trái phép, đồng thời trong thời gian ở Campuchia từng làm việc cho các tổ chức lừa đảo, nên khi làm việc với cơ quan điều tra thì sợ bị xử lý nên việc khai báo đôi lúc chưa thật sự trung thực.
Bên cạnh đó khi lừa đảo, mua bán người hoặc đưa người xuất nhập cảnh trái phép, các đối tượng sử dụng nhiều tài khoản ngân hàng không chính chủ, liên tục chuyển tiền qua nhiều lớp trung gian, sử dụng ngoại tệ và tiền số USDT, khiến công tác truy vết dòng tiền và thu hồi tài sản gặp rất nhiều khó khăn.
* Như ông vừa chia sẻ, ban chuyên án đã đối mặt với vô vàn khó khăn, trở ngại. Vậy điều gì đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ quyết tâm phá án đến cùng?
- Để đấu tranh thành công chuyên án, mỗi cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát hình sự đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm phòng ngừa và đấu tranh với mọi loại tội phạm. Riêng với chuyên án này, ban chuyên án xác định đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nên từng cán bộ, chiến sĩ đều dốc toàn lực, quyết tâm phá án đến cùng.
* Trong quá trình chỉ đạo phá án, đâu là kỷ niệm khiến ông nhớ nhất?
- Chuyên án này để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Điều tôi nhớ nhất là ở giai đoạn đầu đấu tranh với Nguyễn Thanh Hải, Hải liên tục khăng khăng cho rằng mình chỉ giúp dân, "giải cứu" nạn nhân, chứ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào.
Tuy nhiên bằng quá trình điều tra tỉ mỉ, ban chuyên án đã từng bước làm rõ bản chất vụ việc. Trước những chứng cứ không thể chối cãi, cuối cùng Hải đã phải khuất phục.
* Qua vụ án này, ông muốn gửi cảnh báo gì đến người dân trước những thủ đoạn lừa đảo, mua bán người ngày càng tinh vi?
- Phòng Cảnh sát hình sự khuyến cáo người dân tuyệt đối không xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tuyệt đối không tin theo những lời dụ dỗ, mời chào sang nước ngoài làm việc với hứa hẹn "việc nhẹ, lương cao", "không cần trình độ", "xuất ngoại thu nhập lớn".
Bên cạnh đó người dân cần đặc biệt thận trọng với các thông tin lan truyền trên mạng xã hội, nhất là những lời kêu gọi "giúp đỡ", "giải cứu", hoặc các mối quan hệ quen biết qua không gian mạng có dấu hiệu bất thường. Đây là những thủ đoạn mà các kẻ xấu thường lợi dụng để tiếp cận, tạo lòng tin rồi lừa đảo, mua bán người.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nhiều vụ bạo lực gia đình gần đây gây bức xúc dư luận khi người chồng đánh vợ tàn bạo giữa ban ngày.
Đây không phải là chuyện mới vì đã có rất nhiều vụ tương tự xảy ra. Có nhiều vụ nạn nhân im lặng chịu đựng. Nhiều vụ đã thành án nhưng những anh chồng vẫn "thoát án" vì chính nạn nhân bãi nại.
Và bạo lực tái diễn từ sự im lặng, xuê xoa cho nhau. Làm gì để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình? Tuổi Trẻ giới thiệu ý kiến của bạn đọc về vấn đề này.
Thẩm phán Lê Thiết Hùng (Quảng Trị):
Đã có không ít vụ bạo lực gia đình hành vi rõ ràng, hậu quả có thật nhưng cuối cùng chỉ dừng lại ở mức xử phạt hành chính hoặc hòa giải, bởi nạn nhân không yêu cầu hoặc rút đơn yêu cầu khởi tố.
Thực trạng này đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm: sự im lặng, cam chịu hoặc rút lui của nạn nhân có vô tình trở thành "lá chắn" cho hành vi bạo lực tiếp diễn?
Trong một số trường hợp nhất định, việc xử lý hình sự phụ thuộc vào yêu cầu của bị hại. Quy định này nhằm tôn trọng quyền tự định đoạt của cá nhân. Tuy nhiên sự lựa chọn của nạn nhân không phải lúc nào cũng xuất phát từ ý chí của họ.
Nhiều phụ nữ phụ thuộc kinh tế, chịu áp lực từ con cái, gia đình hai bên hoặc tâm lý "giữ gìn tổ ấm". Nỗi sợ bị trả thù, bị kỳ thị hoặc mất đi chỗ dựa khiến họ chọn cách im lặng, thậm chí rút đơn sau khi đã tố cáo.
Không ít người tin rằng "nhịn một lần cho yên chuyện" nhưng sự nhượng bộ này hiếm khi chấm dứt bạo lực. Trái lại, nó có thể khiến hành vi bạo hành lặp lại với mức độ nghiêm trọng hơn.
Bạo lực gia đình thường diễn ra theo chu kỳ: căng thẳng - bùng phát - hối lỗi rồi lại tái diễn. Sự im lặng của nạn nhân, dù xuất phát từ thiện chí hay bất lực, có thể vô tình củng cố chu kỳ đó.
Không ít vụ án cố ý gây thương tích được khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử. Nhưng đến giai đoạn phúc thẩm, bị hại lại rút đơn yêu cầu khởi tố.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tòa án buộc phải đình chỉ vụ án. Dù ở thời điểm đó hành vi vi phạm đã được làm rõ qua chứng cứ, lời khai, kết luận giám định; các cơ quan tiến hành tố tụng đã dành nhiều thời gian, công sức để giải quyết vụ án.
Nhưng chỉ với việc rút đơn, toàn bộ quá trình xử lý hình sự phải dừng lại. Tòa án, dù nhận thấy tính chất nguy hiểm của hành vi, cũng không thể tiếp tục xét xử.
Việc rút đơn ở giai đoạn này thường không đơn thuần là sự thay đổi ý chí tự nguyện. Nhiều trường hợp bị chi phối bởi sức ép gia đình, mong muốn hàn gắn, sự phụ thuộc kinh tế hoặc lo lắng cho con cái. Hành vi bạo lực đáng lẽ phải bị xử lý nghiêm minh lại không đi đến cùng. Điều này vô hình trung tạo ra một "khoảng lặng pháp lý".
Người gây bạo lực có thể nhận thức rằng hậu quả pháp lý không nghiêm khắc nếu nạn nhân rút lui. Sự răn đe của pháp luật vì thế bị suy giảm.
Bạo lực gia đình không chỉ là vấn đề của riêng một cá nhân hay một gia đình. Mỗi hành vi đánh đập, chửi bới hay hành hạ không chỉ gây tổn thương trực tiếp cho nạn nhân mà còn để lại hệ lụy lâu dài cho những người xung quanh, đặc biệt là trẻ em.
Những đứa trẻ lớn lên trong môi trường có bạo lực dễ bị ảnh hưởng tâm lý, mất cảm giác an toàn, thậm chí hình thành nhận thức sai lệch về cách giải quyết mâu thuẫn.
Ở góc độ xã hội, việc dung thứ hoặc bỏ qua bạo lực gia đình góp phần duy trì một vòng luẩn quẩn: người bị hại hôm nay có thể trở thành người gây bạo lực trong tương lai. Cần nhìn nhận rằng bạo lực không chỉ là vấn đề thương tích mà còn là sự xâm phạm nhân phẩm, danh dự và quyền được an toàn của con người.
Những hành vi tưởng như nhẹ nhưng lặp đi lặp lại có thể gây tổn thương tâm lý sâu sắc và dễ leo thang thành hậu quả nghiêm trọng.
Một rào cản khác trong phòng, chống bạo lực gia đình là tâm lý "chuyện nhà người ta". Sự thờ ơ của cộng đồng vô hình trung tạo điều kiện để hành vi bạo lực tiếp diễn. Nếu có sự can thiệp kịp thời từ hàng xóm, tổ dân phố hoặc các tổ chức địa phương, hậu quả có thể đã được hạn chế.
Ngược lại, sự im lặng kéo dài khiến nạn nhân ngày càng bị cô lập, mất niềm tin vào khả năng được bảo vệ.
Luật sư Nguyễn Thị Thu Tâm (Đoàn luật sư TP.HCM):
Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, tùy thuộc vào mức độ, tính chất, hậu quả của hành vi, người có hành vi bạo lực gia đình (chồng đánh vợ hoặc ngược lại) có thể bị phạt tiền, buộc xin lỗi công khai hoặc nặng hơn là bị phạt tù theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Theo điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), hành vi đánh vợ của người chồng có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về "tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác".
Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11-30% hoặc dưới 11% thuộc một trong các trường hợp quy định thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Đó là dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; dùng a xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; có tính chất côn đồ...
Trường hợp gây tổn thương cơ thể từ 31-60% thì bị phạt tù từ 2-6 năm. Nếu phạm tội như gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên thì bị phạt tù từ 5-10 năm...
Với trường hợp xem xét xử lý hình sự là trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Nếu hành vi đánh vợ của người chồng nhưng bị hại (người vợ) không có yêu cầu thì cơ qun chức năng không khởi tố vụ án hình sự.
Nếu việc chồng đánh vợ diễn ra thường xuyên khiến nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần... người chồng có thể bị xem xét xử lý về "tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình" theo điều 185 Bộ luật Hình sự.
Tội này không thuộc trường hợp chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của bị hại.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Pháp Luật
Cựu phó chủ tịch phường thuê 2 nữ nhân viên cùng 'bay lắc', bị đề nghị hơn 6 năm tù

Sau hơn một ngày thẩm vấn, trưa nay (21-4), đại diện viện kiểm sát đã công bố bản luận tội, cáo buộc ông Phạm Quang Thiện, 48 tuổi, cựu phó chủ tịch UBND phường Phú Lãm (quận Hà Đông cũ) phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với hành vi khởi xướng rủ bạn "bay lắc".
Cựu phó chủ tịch phường Phú Lãm bị Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù.
Ba người bị cáo buộc tham gia "tiệc" ma túy cùng cựu phó chủ tịch phường gồm: Lại Quốc Việt (trú xã Hương Sơn, Hà Nội) bị đề nghị 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù; hai nữ nhân viên của quán karaoke là Nguyễn Thúy Quỳnh (23 tuổi, ở phường Vĩnh Hưng, Hà Nội) bị đề nghị từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù và Hà Thị Hiền (23 tuổi, ở xã Hậu Lộc, Thanh Hóa) bị đề nghị 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù.
Cả ba người trên bị Viện kiểm sát cáo buộc tội tổ chức sử dụng ma túy cùng với bị cáo Phạm Quang Thiện.
Công bố bản luận tội tại tòa, đại diện viện kiểm sát đánh giá những người bị đưa ra xét xử trong vụ án này nhận thức rõ tác hại của ma túy, biết hành vi mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật xử lý nghiêm, song vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của họ bị đánh giá "thể hiện sự coi thường pháp luật".
Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn và gây bức xúc trong dư luận, do đó cần áp dụng mức án nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa chung, bản luận tội nêu.
Theo cơ quan công tố, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ do thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, một số người có thành tích công tác, gia đình có công với cách mạng, hoàn cảnh khó khăn hoặc là người dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, chủ quán karaoke Hoàng Kim là Đặng Thị Hồng Linh và Đặng Thế Chung bị xác định có tình tiết tăng nặng khi lôi kéo người dưới 18 tuổi tham gia phạm tội.
Do đó, viện kiểm sát đề nghị tòa tuyên phạt Linh và Chung mỗi người 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và 9 năm đến 9 năm 6 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tổng hợp hình phạt, Linh và Chung bị đề nghị từ 16 năm 6 tháng đến 17 năm 6 tháng tù.
Theo cáo buộc, Chung là người đứng ra thuê cơ sở để kinh doanh quán karaoke. Thời gian đầu quán kinh doanh phục vụ khách hát như bình thường.
Tuy nhiên sau đó nhận thấy có một số khách đến quán tổ chức "bay lắc" nên Chung cùng chị gái bàn bạc, thống nhất kinh doanh quán nhằm phục vụ khách sử dụng ma túy. Chung mua ma túy từ các nguồn không rõ lai lịch, giao Linh cất giấu và bán lại cho khách để hưởng lợi, cáo trạng nêu.
Theo đó, Linh và Chung tổ chức quán Hoàng Kim thành hai khu riêng biệt gồm karaoke và nhà nghỉ, chia thành nhiều phòng kín, lắp đặt sẵn hệ thống âm thanh, ánh sáng cùng các dụng cụ phục vụ việc sử dụng ma túy. Giá dịch vụ được tính theo giờ tại phòng karaoke hoặc theo gói 12 tiếng tại khu nhà nghỉ.
Chủ quán tuyển nhiều nhân viên ăn ở tại chỗ, chia thành hai nhóm nữ phục vụ, thậm chí tham gia sử dụng ma túy cùng khách, còn nhân viên nam chuẩn bị dụng cụ và cảnh giới bên ngoài. Hoạt động được chia ca ngày - đêm, trong đó ca đêm được tăng cường nhân sự do phần lớn khách đến “bay lắc” vào thời điểm này.
Linh và Chung bị cáo buộc thay nhau quản lý, điều hành toàn bộ đường dây khép kín tổ chức sử dụng, mua bán ma túy tại quán.
Thời điểm công an đột kích quán karaoke Hoàng Kim, phát hiện chủ quán, nhân viên và khách tại 2 phòng khu vip và 3 phòng khu nhà nghỉ đang tổ chức "bay lắc", có các hoạt động mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Ông Phạm Quang Thiện (cựu phó chủ tịch phường Phú Lãm) bị bắt quả tang tổ chức sử dụng ma túy tại phòng quán Hoàng Kim.
Cơ quan tố tụng xác định ông Thiện là người khởi xướng, rủ Lại Quốc Việt thuê phòng sử dụng ma túy. Hai người thống nhất Việt trả tiền phòng và tiền mua ma túy trước, Thiện sẽ hoàn lại sau.
Việt đã liên hệ chủ quán Hoàng Kim đặt phòng, mua ma túy và gọi hai nhân viên nữ là Nguyễn Thúy Quỳnh và Hà Thị Hiền vào phục vụ, tổ chức "bay lắc".
Tại đây, nhân viên mang ma túy vào tận phòng, nhóm của Thiện cùng sử dụng, nhân viên nữ trực tiếp “xào ke”, chia nhỏ và mời khách. Khi hết, Việt tiếp tục gọi Linh cung cấp thêm, ma túy được đưa lên ngay sau đó. "Bữa tiệc bay lắc” chỉ dừng lại khi công an ập vào kiểm tra, bắt quả tang.
Trong phần xét hỏi, luật sư thẩm vấn Lại Quốc Việt về sự mâu thuẫn trong lời khai. Theo biên bản hỏi cung, Việt khai đã cùng Phạm Quang Thiện sử dụng ma túy tại quán Hoàng Kim và trước đó khoảng hai năm cũng từng đến đây. Tuy nhiên, tại phiên tòa, Việt lại khai rằng chỉ đến quán một lần duy nhất.
Tại tòa, Việt cho rằng do không nhớ chính xác nên đã khai chưa đúng tại cơ quan điều tra, đồng thời khẳng định khi bị bắt quả tang sử dụng ma túy là lần đầu đến quán Hoàng Kim. Bị cáo cũng phủ nhận việc có thỏa thuận trước về chi phí với Thiện, cho biết hai người chỉ quen biết xã hội, không có quan hệ cấp trên - cấp dưới.
Tại tòa, ông Thiện xác nhận không có thỏa thuận trước về việc thanh toán, người trả tiền mua ma túy là bị cáo Việt. Cựu phó chủ tịch phường khai khi bị bắt là lần đầu tiên đến quán và cho rằng giữa hai người không có sự chỉ đạo hay phụ thuộc.
Quá trình điều tra, Phạm Quang Thiện khai do uống say nên không nhớ ai là người khởi xướng về việc tổ chức "bay lắc". Cựu phó chủ tịch phường khẳng định hai bên chưa thỏa thuận về việc đóng góp tiền nhưng do Việt trả tiền trước nên nếu cần, ông sẽ chia đôi chi phí tiền phòng, tiền ma túy, tiền nhân viên.
Còn Việt khẳng định ông Thiện là người khởi xướng rủ "bay lắc", việc gọi ma túy và nhân viên phục vụ đều được sự đồng ý của Thiện.
Cơ quan điều tra xác định Phạm Quang Thiện và Lại Quốc Việt cùng nhau sử dụng ma túy có sự bàn bạc, thống nhất từ trước, trong đó Thiện là người khởi xướng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
