Đó là câu chuyện của ông Chu, 58 tuổi ở Trung Quốc. Ông Chu thường xuyên ăn tỏi vì tin rằng đây là cách “diệt khuẩn, giảm mỡ máu và dưỡng dạ dày”. Tuy nhiên, khoảng 3 tháng gần đây, ông xuất hiện tình trạng đầy bụng, trào ngược axit và nóng rát vùng ngực.
Sau khi nghe nam bệnh nhân chia sẻ thói quen ăn uống, bác sĩ cho rằng vấn đề không nằm ở việc ăn tỏi mà ở cách ăn. Theo bác sĩ, tỏi có nhiều chất dinh dưỡng nhưng nếu ăn sai cách, đặc biệt là ăn sống khi bụng đói trong thời gian dài, niêm mạc dạ dày có thể bị kích thích.
Khi tép tỏi bị cắt hoặc giã nát sẽ sinh ra allicin có khả năng giảm viêm. Các hợp chất chứa lưu huỳnh trong tỏi có đặc tính kháng khuẩn, chống oxy hóa, có thể hỗ trợ hệ vi sinh đường tiêu hóa. Với người có hệ tiêu hóa khỏe mạnh, dùng lượng nhỏ tỏi trong bữa ăn có thể giảm cảm giác đầy bụng sau ăn và hỗ trợ tiêu hóa ở mức độ nhất định.
Theo Bảng thành phần thực phẩm Trung Quốc, 100g tỏi tươi chứa khoảng 126 calo, 1,1g chất xơ và khoảng 7mg vitamin C. Điều này cho thấy tỏi chủ yếu là gia vị hoặc thực phẩm hỗ trợ chức năng, không phải nguồn dinh dưỡng đủ để “nuôi” hay phục hồi dạ dày.
Theo Webmd, các bác sĩ tiêu hóa cho biết allicin có tính kích thích tương đối mạnh. Nếu ăn tỏi sống khi bụng đói, ăn quá nhanh hoặc quá nhiều, lớp niêm mạc dạ dày dễ bị kích ứng, gây nóng rát, đau vùng thượng vị hoặc trào ngược axit.
Nguy cơ này cao hơn ở những người đang mắc viêm dạ dày, loét dạ dày hoặc trào ngược dạ dày – thực quản. Trong thực tế lâm sàng, nhiều trường hợp đau dạ dày kéo dài có liên quan đến việc lạm dụng thực phẩm kích thích nhưng lại nghĩ rằng đó là thực phẩm “dưỡng dạ dày”.
Ngoài ra, ăn tỏi cùng rượu bia hoặc thực phẩm cay nóng có thể khiến tình trạng kích ứng nghiêm trọng hơn do nhiều yếu tố tác động đồng thời lên hệ tiêu hóa.
Theo các chuyên gia, nếu bạn muốn ăn tỏi thường xuyên, nên dùng cùng các thực phẩm khác. Thức ăn trong dạ dày có thể tạo lớp đệm giảm kích thích lên niêm mạc. Lượng sử dụng cũng nên được kiểm soát ở mức khoảng 1 tép nhỏ mỗi ngày, tương đương 3-5g. Nếu trong món ăn đã có nhiều tỏi, không cần bổ sung thêm tỏi sống.
Một lưu ý khác là nên băm hoặc cắt nhỏ tỏi rồi để khoảng 10 phút trước khi ăn hoặc chế biến để hoạt chất allicin hình thành ổn định hơn.
Bên cạnh đó, mặc dù tỏi thường được coi là an toàn và lành mạnh đối với hầu hết mọi người, thì vẫn có một số người nên tránh ăn tỏi, cụ thể:
Người mắc chứng rối loạn chảy máu
Một trong những lý do chính khiến những người bị rối loạn chảy máu nên tránh tỏi là vì nó có đặc tính làm loãng máu. Tỏi chứa một hợp chất gọi là allicin có thể ngăn ngừa máu đông. Mặc dù điều này có lợi cho hầu hết mọi người vì nó làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và các vấn đề tim mạch khác nhưng có thể nguy hiểm đối với những người bị rối loạn chảy máu.
Những người đang dùng thuốc làm loãng máu
Tương tự như vậy, những người đang dùng thuốc làm loãng máu như warfarin, aspirin hoặc heparin nên tránh ăn tỏi. Những loại thuốc này thường được dùng để điều trị và ngăn ngừa cục máu đông ở những người mắc bệnh tim mạch hoặc một số tình trạng bệnh lý khác. Tỏi có thể tương tác với những loại thuốc này và làm tăng tác dụng làm loãng máu.
Người đang dùng thuốc làm loãng máu cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi thêm tỏi vào chế độ ăn hoặc dùng thực phẩm bổ sung tỏi.
Người có vấn đề về tiêu hóa
Tỏi được biết đến là có mùi và vị mạnh có thể gây ra các vấn đề về đường tiêu hóa như đầy hơi, chướng bụng và tiêu chảy ở một số người. Đối với những người đã có vấn đề về đường tiêu hóa, việc tiêu thụ tỏi có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng và gây khó chịu.
Những người mắc các vấn đề về đường tiêu hóa như hội chứng ruột kích thích (IBS), bệnh Crohn, viêm loét đại tràng và các rối loạn tiêu hóa khác nên tránh ăn tỏi. Thay vào đó, có thể thử các loại thảo mộc và gia vị khác ít có khả năng gây khó chịu cho đường tiêu hóa hơn như gừng, nghệ và thìa là.
Ngoài ra, nếu bị bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), có thể cân nhắc việc hạn chế ăn tỏi. GERD là tình trạng phổ biến xảy ra khi acid dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các triệu chứng như ợ nóng và buồn nôn.
Người bị dị ứng với tỏi
Dị ứng tỏi rất hiếm gặp nhưng có thể xảy ra ở một số người nhạy cảm với cây tỏi. Các triệu chứng dị ứng tỏi có thể từ nhẹ đến nặng và bao gồm phát ban da, ngứa, nổi mề đay, sưng mặt, môi, lưỡi hoặc cổ họng và khó thở.
Nếu biết mình bị dị ứng với tỏi phải tránh tất cả các dạng thảo mộc, bao gồm tỏi sống, tỏi nấu chín, thực phẩm bổ sung tỏi và dầu tỏi.
Người đang dùng một số loại thuốc nhất định
Có một số loại thuốc có thể tương tác với tỏi và gây ra tác dụng phụ như thuốc làm giảm lượng đường trong máu như insulin và thuốc hạ đường huyết dạng uống. Tỏi có thể làm tăng tác dụng của những loại thuốc này, dẫn đến các tác dụng phụ nguy hiểm như hạ đường huyết.
Nếu bạn đang dùng bất kỳ loại thuốc nào trong số này, điều cần thiết là phải trao đổi với bác sĩ trước khi dùng tỏi hoặc thực phẩm bổ sung tỏi.
Người chuẩn bị phẫu thuật
Một trong những tác dụng phụ nghiêm trọng nhất của việc ăn quá nhiều tỏi là tăng nguy cơ chảy máu, đặc biệt người đang dùng thuốc làm loãng máu hoặc sắp phẫu thuật. Điều này là do tỏi có đặc tính chống huyết khối, nghĩa là nó có thể ngăn ngừa sự hình thành cục máu đông. Tuy chảy máu do tỏi gây ra không phổ biến, một báo cáo đã nêu chi tiết một trường hợp trong đó một người bị chảy máu nhiều hơn sau khi họ thường xuyên ăn 12 g tỏi mỗi ngày trước khi phẫu thuật.
Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, dự buổi lễ.
Phát biểu tại buổi lễ, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định những cống hiến của Cục Tuyên huấn và ngành Tuyên huấn quân đội 80 năm qua đã trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong tình hình mới, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa yêu cầu Cục Tuyên huấn và ngành Tuyên huấn quân đội cần thấu suốt và kiên định nền tảng tư tưởng, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận.
Đặc biệt là chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về "2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa" và phương châm "5 vững". Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác tư tưởng, văn hóa. Mỗi cán bộ, nhân viên, chiến sĩ phải thấy được niềm vinh dự, tự hào là lực lượng nòng cốt, tiên phong.
Và biến điều đó thành động lực, nhiệt huyết, đam mê công tác, làm cho công tác tư tưởng, văn hóa thực sự là "linh hồn, mạch sống", không ngừng phát huy hiệu quả trong toàn quân.
Thường xuyên nghiên cứu, tham mưu đổi mới toàn diện công tác tư tưởng, văn hóa trong quân đội; nắm chắc tình hình, kịp thời định hướng, bảo đảm cho công tác tư tưởng luôn "đi trước, mở đường" nhằm thống nhất nhận thức, hành động đúng đắn cho bộ đội.
Chủ động tham mưu, chỉ đạo và trực tiếp tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" quân đội; ngăn ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.
Đồng thời xây dựng Đảng bộ Cục Tuyên huấn và các tổ chức Đảng ngành Tuyên huấn "Mẫu mực, tiêu biểu", nội bộ đoàn kết, thống nhất.
Phát huy truyền thống vẻ vang "Kiên định, chủ động, nhạy bén, sáng tạo, đoàn kết, quyết thắng", Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa mong cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Cục Tuyên huấn và ngành Tuyên huấn quân đội luôn "Hiểu sâu đường lối, đổi mới cách làm, đam mê - nhiệt huyết, quyết tâm cao độ", góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Chùa Thập Tháp, còn gọi Thập Tháp Di Đà Tự, tọa lạc tại phường An Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai (trước thuộc Bình Định). Đây là một trong những tổ đình cổ kính, tiêu biểu của Thiền phái Lâm Tế ở miền Trung, lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa đặc sắc của vùng đất từng là kinh đô vương quốc Champa.
Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều, người khai lập dòng Lâm Tế tại Đàng Trong sáng lập năm 1668 và được xếp hạng di tích quốc gia ngày 9/1/1990. Trải qua hơn 350 năm, chùa không chỉ là biểu tượng tôn giáo mà còn như “bảo tàng sống” về kiến trúc, điêu khắc cổ.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tô Lan, nghiên cứu viên cao cấp Viện Triết học, trong dòng chảy lịch sử văn hóa Việt Nam, di sản Hán Nôm, đặc biệt là thư tịch Phật giáo giữ vai trò như “ký ức vật chất” lưu giữ tri thức và đời sống tinh thần qua nhiều thế kỷ.
Đáng chú ý, chùa Thập Tháp ở Gia Lai là một trung tâm lưu trữ quan trọng với khối lượng lớn tư liệu Phật giáo Hán văn, có giá trị không chỉ trong nước mà còn ở khu vực Đông Á.
Điểm nhấn của di sản này là bộ Đại tạng kinh Gia Hưng (Gia Hưng Tạng) đang lưu giữ tại chùa, gồm khoảng 1.377 tập thuộc 479 bộ, tương đương gần 4.826 quyển, bao quát đầy đủ các hệ kinh, luật, luận và ngữ lục. Đây là một trong những bộ tạng kinh Hán văn còn khá đầy đủ ở Việt Nam trong bối cảnh nhiều thư tịch Phật giáo đã thất tán qua biến động lịch sử.
Tiến sĩ Nguyễn Tô Lan cho biết bộ kinh Phật Gia Hưng Tạng được truyền lại hơn 300 năm trước, đến nay vẫn tương đối hoàn chỉnh.
“Tất cả những bộ kinh Phật khác được truyền nhập vào Việt Nam chỉ còn những mảnh rời rạc trong các thư viện. Bộ kinh Phật Gia Hưng Tạng có thể coi là trọn vẹn duy nhất ở Việt Nam. Vì vậy, xét về giá trị tư liệu, đây là di sản độc nhất vô nhị”, Tiến sĩ Lan nói.
Trên bình diện thế giới, Gia Hưng Tạng còn tương đối toàn vẹn so với các mảnh rời rạc đang lưu giữ ở nhiều quốc gia khác. Đáng chú ý, đến nay chưa xác định được bộ kinh này có tổng cộng bao nhiêu quyển.
“Khoảng 10 năm trước, một chiến dịch quốc tế được triển khai nhằm số hóa các phần còn lại để phục dựng bộ đại tạng kinh hoàn chỉnh”, Tiến sĩ Lan nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện, Phó trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai cũng nhấn mạnh, Gia Hưng Tạng ở chùa Thập Tháp là một thư tịch Phật giáo đặc biệt quý giá ở Việt Nam còn nguyên vẹn. Bộ kinh có cấu trúc đầy đủ và lịch sử lưu truyền qua nhiều thế kỷ, có ý nghĩa đặc biệt đối với Phật giáo Việt Nam.
Bộ kinh Phật này minh chứng cụ thể tỉnh Bình Định trước đây là một trung tâm Phật giáo quan trọng của miền Trung trong thế kỷ XVII-XVIII. Bộ kinh cũng phản ánh đầy đủ quá trình giao lưu văn hóa, văn học giữa Phật giáo của tỉnh Bình Định, Việt Nam và không gian Phật giáo của Đông Nam Á.
Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Huyện cho rằng cần số hóa và đẩy mạnh nghiên cứu sâu về bộ kinh, đồng thời triển khai các chương trình, hành động cụ thể gắn với phát triển kinh tế, du lịch và văn hóa để phát huy giá trị di sản.
Nằm cheo leo trên dãy Andes của Peru ở độ cao khoảng 5.100m so với mực nước biển, La Rinconada được xem là khu định cư cao nhất thế giới. Khoảng 50.000 người đang sinh sống tại đây giữa băng tuyết, không khí loãng và điều kiện hạ tầng thiếu thốn, với hy vọng tìm được vàng để đổi đời.
Phía sau những mỏ vàng nằm sâu trong núi là cuộc sống được nhiều người mô tả như "địa ngục trên mây", nơi cư dân phải đối mặt với thiếu oxy, ô nhiễm hóa chất, bệnh tật và tuổi thọ ngắn ngủi.
La Rinconada nằm ở vùng Puno, phía Đông Nam Peru, dưới chân sông băng La Bella Durmiente và cách biên giới Bolivia khoảng 650km. Từ xa, thị trấn hiện lên như một cụm nhà tạm bằng tôn và gỗ bám trên sườn núi phủ tuyết trắng.
Con đường dẫn vào La Rinconada là tuyến độc đạo kéo dài qua những triền núi phủ đầy băng giá, đá vụn và bùn đất. Một chuyến đi thường mất nhiều ngày do địa hình hiểm trở và thời tiết khắc nghiệt.
Trong khi đó, không khí loãng kéo dài khiến nhiều cư dân mắc chứng bệnh núi mãn tính, tình trạng gây đau đầu, chóng mặt, khó thở và các vấn đề tim mạch nghiêm trọng.
Các nhà khoa học ước tính khoảng 25% dân số tại đây có thể mắc căn bệnh này. Tuy nhiên, cơ sở y tế ở La Rinconada vô cùng hạn chế. Với những trường hợp nặng, bệnh nhân thường phải được chuyển xuống vùng thấp hơn để điều trị.
Nhiệt độ tại đây thường xuyên xuống dưới 0 độ C. Đất đá lẫn băng tuyết và rác thải khai khoáng phủ kín các con đường lầy lội. Dẫu vậy, cuộc sống vẫn tiếp diễn giữa vùng đất được xem là một trong những nơi khắc nghiệt nhất mà con người sinh sống.
La Rinconada ban đầu chỉ là một trại khai thác vàng tạm thời, hình thành cách đây hơn 40 năm. Tuy nhiên, khi ngày càng nhiều người đổ về tìm vận may, nơi này dần phát triển thành khu dân cư đông đúc gần như không có quy hoạch hạ tầng.
Khu vực này không có hệ thống xử lý nước thải, cống rãnh hay dịch vụ vệ sinh hoàn chỉnh. Điện chỉ mới được lắp đặt từ đầu những năm 2000, trong khi lương thực phải vận chuyển từ vùng thấp hơn.
Người dân chủ yếu sử dụng nước mưa hoặc nước từ băng tan để sinh hoạt. Tuy nhiên, các nguồn nước này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi hoạt động khai thác vàng kéo dài nhiều năm.
Một số người từng đặt chân tới La Rinconada mô tả nơi đây giống "một bãi rác khổng lồ" nằm giữa vùng núi tuyết. Rác thải sinh hoạt và chất thải khai khoáng bị đổ hoặc đốt ngay bên ngoài khu dân cư.
Những căn nhà bằng tôn và gỗ mọc san sát trên sườn núi, xen lẫn các cửa hàng nhỏ, quán ăn tạm bợ và những con đường đất hẹp ngoằn ngoèo. Dù điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu thốn dịch vụ công cộng, La Rinconada vẫn tiếp tục mở rộng từng ngày.
Từ năm 2001-2009, giá vàng toàn cầu tăng, kéo theo làn sóng người đổ về La Rinconada tìm cơ hội đổi đời. Dân số thị trấn tăng nhanh lên hơn 50.000 người chỉ trong thời gian ngắn.
Kinh tế địa phương gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác vàng. Bao quanh thị trấn là hàng loạt mỏ vàng nhỏ hoạt động tự phát, nhiều nơi bị cho là khai thác trái phép.
Các thợ mỏ tại đây làm việc theo hệ thống gọi là "cachorreo". Theo cơ chế này, họ làm việc liên tục khoảng 30 ngày mà không nhận lương. Đổi lại, vào ngày cuối cùng, họ được phép mang khỏi mỏ lượng quặng nhiều nhất có thể tự vác được. Nếu quặng chứa vàng, toàn bộ số vàng sẽ thuộc về họ. Nếu không tìm thấy vàng, coi như cả tháng lao động trắng tay.
Cơ hội đổi đời khiến hàng nghìn người chấp nhận đánh đổi sức khỏe để bám trụ tại vùng núi cao khắc nghiệt này. Mỗi ngày, các thợ mỏ phải đi bộ khoảng 30 phút để tới những đường hầm tối, thiếu ánh sáng và chứa đầy khí độc như thủy ngân, xyanua.
Phần lớn hoạt động khai thác được thực hiện thủ công. Thủy ngân được sử dụng phổ biến để tách vàng khỏi đá, khiến đất, nước và không khí tại La Rinconada ô nhiễm nặng.
Các hóa chất độc hại xâm nhập vào cơ thể người dân qua nguồn nước và không khí, làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh thần kinh, tim, gan, phổi và các vấn đề về trí nhớ. Nhiều cư dân bị đổi màu da hoặc ngộ độc thủy ngân sau thời gian dài sinh sống tại đây. Một số báo cáo cho rằng tuổi thọ trung bình của công nhân mỏ ở La Rinconada chỉ khoảng 30-35 năm, bằng gần một nửa mức trung bình của Peru.
Ngoài vấn đề ô nhiễm và an ninh, La Rinconada còn đối mặt với tác động từ biến đổi khí hậu khi các sông băng quanh khu vực đang dần tan chảy.
Dù điều kiện sống khắc nghiệt, La Rinconada vẫn tiếp tục thu hút người lao động nghèo từ nhiều nơi ở Peru. Với họ, vàng vẫn là cơ hội hiếm hoi để thay đổi cuộc sống, dù phải đánh đổi bằng sức khỏe và tuổi thọ giữa vùng núi cao lạnh giá quanh năm.