Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành quy định phương pháp định giá rừng và hướng dẫn xây dựng khung giá rừng thuộc sở hữu toàn dân; đồng thời quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon của rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có hoạt động liên quan đến định giá rừng và dịch vụ các-bon rừng; đồng thời khuyến khích áp dụng đối với rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.
Theo Thông tư, việc định giá rừng phải bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Lâm nghiệp và Luật Giá, phù hợp với từng trạng thái, loại rừng, đồng thời căn cứ vào hiện trạng rừng, nhu cầu quản lý của địa phương và kết quả định giá để xây dựng khung giá rừng theo đơn vị hành chính cấp xã, tổng hợp cho toàn tỉnh. Dữ liệu phục vụ định giá phải được cập nhật, đầy đủ, chính xác và khách quan.
Đối với rừng tự nhiên, giá trị rừng được xác định trên cơ sở tổng hợp ba yếu tố gồm: giá trị lâm sản, giá trị quyền sử dụng rừng và giá trị môi trường rừng. Đối với rừng trồng, giá trị rừng bao gồm tổng chi phí đầu tư tạo rừng, thu nhập dự kiến trong thời gian quản lý, sử dụng và giá trị môi trường rừng. Thông tư cũng quy định cụ thể phương pháp xác định giá rừng trong các trường hợp cho thuê rừng, bồi thường thiệt hại, thu hồi rừng, góp vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn và làm căn cứ tính thuế, phí, lệ phí liên quan đến rừng.
Đáng chú ý, Thông tư bổ sung quy định về phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng theo hai phương pháp là phương pháp chi phí và phương pháp so sánh, làm cơ sở xác định mức chi trả khi đàm phán hợp đồng hoặc đưa tín chỉ các-bon rừng lên sàn giao dịch. Trường hợp có thể áp dụng cả hai phương pháp thì lựa chọn mức chi trả cao hơn; nếu không đủ điều kiện áp dụng phương pháp so sánh thì sử dụng kết quả xác định theo phương pháp chi phí.
Tin Gốc: Người Đưa Tin




