Hoạt động với chủ đề “Giữ xanh biển Đà Nẵng” do Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng tổ chức, nhằm hưởng ứng mùa du lịch biển 2026, đồng thời kêu gọi cộng đồng chung tay bảo vệ môi trường biển.
Từ sáng sớm, các lực lượng tình nguyện viên gồm đoàn viên thanh niên, cán bộ, sinh viên… đã có mặt tại bãi biển Hà Khê (phường Thanh Khê, TP Đà Nẵng), chia thành nhiều nhóm thu gom rác dọc khu vực bãi cát. Nhiều loại rác thải nhựa, túi ni lông, vỏ chai… được thu gom, góp phần làm sạch bãi biển.
Chương trình còn tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường biển. Người tham dự được nghe chuyên đề “Biển đang lên tiếng – Bạn có đang lắng nghe?”, qua đó hiểu rõ hơn những tác động của rác thải nhựa đối với hệ sinh thái và đời sống con người.
Bên cạnh đó, mô hình “đổi rác lấy quà” thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Rác thải sau khi thu gom được đổi lấy các sản phẩm thân thiện môi trường như túi vải, cây xanh… góp phần hình thành thói quen của người dân và du khách trong việc bảo vệ môi trường.
Ông Trần Đại Nghĩa – Phó trưởng Ban quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng – cho biết ngày hội không chỉ góp phần làm sạch môi trường biển, mà còn lan tỏa thông điệp mỗi người là một “đại sứ môi trường”, cùng chung tay xây dựng hình ảnh biển Đà Nẵng xanh – sạch – đẹp, an toàn và thân thiện trong mắt du khách.
“Đà Nẵng có lợi thế với đường bờ biển đẹp, là điểm đến hấp dẫn của du khách. Tuy nhiên môi trường biển đang chịu nhiều tác động từ rác thải, đặc biệt tại tuyến ven biển Nguyễn Tất Thành, đòi hỏi mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển”, ông Nghĩa nói.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Gia Đình
Loại quả mọc hoang ở Việt Nam, sang nước ngoài hóa “dược liệu vàng” giá 2 triệu/kg

Từ lâu trong y học cổ truyền, bồ kết không chỉ là một loại cây mọc hoang quen thuộc mà còn được xem như một dược liệu có nhiều giá trị chữa bệnh. Nhờ đặc tính tự nhiên và hoạt chất sinh học phong phú, loại quả này đã được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian cũng như y học cổ truyền phương Đông.
Bồ kết có vị cay, mặn, tính hơi ấm và được cho là có độc nhẹ. Dược liệu này đi vào kinh Phế và Đại tràng, có tác dụng thông khiếu, tiêu đờm, sát trùng và hỗ trợ gây hắt hơi để khai thông đường hô hấp.
Trong dân gian, bồ kết còn được gọi với nhiều tên khác như bồ kếp, chùm kết, tạo giác hay tạo giáp. Quả bồ kết khi dùng làm thuốc thường được phơi hoặc sấy khô, bỏ hạt, có thể dùng sống hoặc chế biến bằng cách đốt thành than rồi tán bột.
Ngoài quả, hạt và gai bồ kết cũng được sử dụng trong một số bài thuốc. Đặc biệt, phần gai của cây chứa hoạt chất kháng khuẩn, có khả năng ức chế một số loại vi khuẩn như tụ cầu vàng theo kinh nghiệm dân gian.
Một số nghiên cứu hiện đại cho thấy bồ kết chứa các hợp chất như flavonoid và saponaretin. Đây là những hoạt chất có khả năng kháng khuẩn, hỗ trợ chống viêm, kích thích mọc tóc và cải thiện tình trạng rụng tóc. Ngoài ra, chúng còn được ghi nhận có tác dụng giảm đau nhẹ và hỗ trợ chăm sóc da đầu.
Trong thực tế, bồ kết đã được sử dụng từ lâu trong đời sống hằng ngày và một số bài thuốc dân gian:
Hỗ trợ tiêu hóa: Một số tài liệu y học cổ truyền ghi nhận bồ kết có thể giúp kích thích hoạt động của đường ruột, hỗ trợ giảm tình trạng táo bón hoặc tắc nghẽn tiêu hóa.
Chăm sóc da và tóc: Đây là công dụng phổ biến nhất. Nước bồ kết giúp làm sạch da đầu, giảm gàu, giảm rụng tóc và giúp tóc bóng mượt, chắc khỏe hơn.
Hỗ trợ điều trị các vấn đề da liễu: Dân gian thường dùng nước bồ kết để rửa các vùng da bị ngứa, lở nhẹ hoặc nhiễm nấm nhằm hỗ trợ sát khuẩn.
Hỗ trợ thông mũi, giảm cảm giác nghẹt mũi: Một số cách dùng truyền thống cho rằng bồ kết có thể giúp làm thông thoáng đường hô hấp khi dùng đúng cách.
Ứng dụng trong một số bài thuốc dân gian: Bồ kết từng được dùng trong các bài thuốc chữa quai bị, trúng gió, co giật, ho có đờm… tuy nhiên các phương pháp này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm dân gian và cần thận trọng khi áp dụng.
Từng mọc hoang phổ biến ở nhiều vùng quê Việt Nam và ít được chú ý, loại quả này lại có giá trị rất cao tại Trung Quốc, nơi nó được sử dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền và chăm sóc sức khỏe.
Tại Việt Nam, quả khô chỉ có giá khoảng 170.000 đồng/kg. Tuy nhiên ở Trung Quốc, có thời điểm giá lên tới khoảng 600 Nhân Dân Tệ /kg (khoảng 2,1 triệu đồng/kg), trở thành một loại dược liệu được săn tìm.
Một số bác sĩ y học cổ truyền tại Trung Quốc cũng cho rằng các hoạt chất tự nhiên trong quả có thể hỗ trợ kháng khuẩn, cải thiện một số vấn đề ngoài da và giảm khó chịu ở chân như đau, sưng hay nấm.
Từ một loại quả mọc hoang ở Việt Nam, giá trị của nó đã được nâng lên đáng kể khi bước vào thị trường dược liệu Trung Quốc, trở thành nguyên liệu được sử dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe hằng ngày.
Dù có nhiều công dụng được ghi nhận trong y học cổ truyền, bồ kết cũng chứa hoạt chất có thể gây kích ứng nếu dùng sai cách hoặc quá liều. Vì vậy, người dùng cần thận trọng, đặc biệt khi sử dụng theo đường uống hoặc dùng cho trẻ nhỏ.
Từ một loại cây quen thuộc trong tự nhiên, bồ kết đã trở thành một dược liệu dân gian quan trọng, gắn liền với đời sống người Việt qua nhiều thế hệ, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Tết năm nay, căn nhà của cụ Phạm Văn Phất ở thôn Đa Phạn, xã Vạn Lộc (xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc cũ) đông đủ con cháu. Trong những tiếng cười và chúc tụng, cụ vẫn nói mong ước lớn nhất của cả cuộc đời vẫn là tìm được gia đình ruột thịt. "Tôi mong trước khi nhắm mắt xuôi tay, biết được mình còn ai thân thích để thắp nén hương cho tổ tiên", cụ Phất nói.
Năm 1945, cậu bé Phạm Văn Phất, 15 tuổi, theo cha - một thợ sửa đồng hồ - rời làng Tùng Sáu (huyện Hải Hậu, Nam Định cũ, nay là xã Hải Thịnh, Ninh Bình) vào Thanh Hóa mưu sinh. Trong ký ức, đó là những chuyến đi dài bằng đường biển, ghé qua các làng chài, ở lại một thời gian rồi lại tiếp tục rong ruổi.
Hai cha con dừng chân tại làng Đa Phạn, ở nhờ một gia đình người địa phương. Sau vài lần đưa con về quê rồi quay lại, đến lần thứ ba vào Thanh Hóa, người cha quyết định gửi con trai lại cho gia đình chủ nhà nuôi dưỡng rồi một mình lên thuyền về quê. Đó là lần cuối hai cha con gặp nhau.
"Tôi đứng trên đê nhìn theo thuyền cha khuất dần về phía biển. Tôi nghĩ ông sẽ sớm quay lại nhưng từ đó bặt vô âm tín", cụ Phất kể.
Những ngày sau đó, cậu thiếu niên 15 tuổi vẫn đi ra bến thuyền, chờ đợi trong vô vọng. Không có tin tức, không một lời nhắn gửi. Giữa những năm tháng biến động của lịch sử đất nước, cậu thiếu niên 15 tuổi khi ấy tự suy đoán cha có thể gặp nạn trên biển hoặc hỏng thuyền. Phất ở lại vùng đất Hậu Lộc, được gia đình chủ nhận nuôi và đổi sang họ Phạm.
Hơn 80 năm qua, hành trình tìm lại cội nguồn của cụ Phất là một chuỗi những hy vọng, có lúc nhen nhóm nhưng rồi lụi tàn theo thời gian. Điều khiến ký ức về quê hương không bị phai mờ là bởi khi xa quê, cụ đã đủ lớn để ghi nhớ tên đất, tên làng.
Trong trí nhớ, quê nhà là làng Tùng Sáu với con đê chạy dài tít tắp, xen kẽ là cồn cát nhấp nhô, những căn nhà thưa thớt dưới rặng phi lao. Cuối làng có một chiếc cống ngăn mặn. Cụ còn nhớ lớp học chữ quốc ngữ của một ông đồ nho và căn nhà nhỏ mái tranh nơi gia đình sinh sống.
Năm 30 tuổi, khi đã lập gia đình và dù hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn, cụ từng một mình lần tìm về quê theo trí nhớ. Cụ đi bộ qua nhiều làng mạc ven biển vùng Hải Hậu, hỏi thăm nhiều người, nhưng đáp lại chỉ là những cái lắc đầu. "Tôi trở về nhà, dù rất buồn nhưng vẫn có niềm tin một ngày nào đó sẽ tìm được nguồn cội", cụ kể.
Cụ Phất cho biết quê vợ ở Nghĩa Hưng (Nam Định cũ), cách làng Tùng Sáu khoảng 20 km. Mỗi lần về quê ngoại, cụ lại mượn xe đạp đi hỏi thăm các cụ cao niên và tìm kiếm tại các nghĩa trang địa phương. Cụ nhớ cha tên Riệp (hoặc Diệp), có bốn chị gái là Nghiệp, Nối, Bay và Máy.
Năm 2006, trong một lần trở lại Hải Hậu, cụ Phất dừng chân trước nhà thờ cổ cách đê Cồn Tròn không xa. Nhìn thấy một chiếc cống lớn, cụ nhận định đây là nơi mình từng xuống thuyền cùng cha năm xưa.
"Lúc đó, bố tôi đứng trên triền đê rất lâu nhìn về làng rồi bất chợt khóc như một đứa trẻ", ông Phạm Văn Châu, con trai cụ, kể lại, "Đó là khoảnh khắc cụ tin rằng "mình đã chạm vào quê hương".
Dù vậy, gia đình vẫn không tìm thêm được dấu vết nào của người thân.
Những năm gần đây, do sức khỏe yếu, cụ Phất không thể tự đi xa. Việc tìm kiếm được con cháu tiếp nối thông qua mạng xã hội, thăm hỏi các nhà thờ và tra soát các khu nghĩa trang. Tuy nhiên, việc tìm kiếm gặp nhiều trở ngại. Theo đại diện chính quyền địa phương, sau năm 1954, nhiều gia đình ở vùng Hải Hậu đã di cư, khiến dấu vết về một gia đình thợ sửa đồng hồ từ gần một thế kỷ trước hầu như không còn.
Ở tuổi 96, điều cụ Phất trăn trở không phải là những vất vả đã trải qua, mà là câu hỏi chưa có lời đáp: người thân trong gia đình giờ có còn ai hay không.
Con cháu cụ cho biết vẫn chưa từ bỏ hy vọng. Họ tiếp tục tìm kiếm thông tin, mong một ngày nào đó có người nhận ra những chi tiết tưởng chừng nhỏ bé trong câu chuyện. "Chỉ cần một manh mối nhỏ, gia đình cũng sẽ tìm đến cùng", ông Phạm Văn Châu nói.
Tin Gốc: Vnexpress

"Bây giờ tôi mà quay về thì dang dở", Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4 (chị em ruột bảo lãnh nhau). Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi, 24 tuổi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA cho phép trừ thời gian hồ sơ chờ phê duyệt) đủ điều kiện định cư.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất.
Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng dần phai. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như "người mất chân". Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng không còn như trước. Cứ khoảng 6 tháng, họ lại bay về Việt Nam. Việc không ở Mỹ liên tục, ông bà không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Về phần Phương Nhi, sau khi bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam cô học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Sau giờ làm, cô chỉ xem phim, đọc truyện.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam hơn 20 năm qua không dám kết hôn vì sợ ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ định cư.
Nhớ Việt Nam, Phương Nhi muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Chờ đợi khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
"Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn", luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình chuẩn bị hồ sơ định cư Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. "Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà", ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Ông José Latour tin rằng Mỹ quy trình xử lý hồ sơ bảo lãnh gia đình của Mỹ sẽ hiệu quả hơn trong vài năm tới.
Tin Gốc: Vnexpress

