Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ dự án Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật Thuế thu nhập cá nhân (dự thảo nghị định).
Theo bộ này, trong quá trình lấy ý kiến dự thảo nghị định, có ý kiến đề nghị quy định hướng dẫn thu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng như nội dung tại luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 giao Chính phủ quy định.
Cụ thể, theo khoản 10 điều 3 luật Thuế thu nhập cá nhân 2025: “Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng”.
Bộ Tài chính đánh giá, quy định này đảm bảo Chính phủ có cơ sở pháp lý quyết định việc thu thuế và các nội dung cụ thể như ngưỡng chịu thuế, điều chỉnh thuế suất khi các điều kiện về quản lý thị trường vàng đáp ứng yêu cầu của công tác thu và quản lý thu.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp với các bộ, ngành có liên quan xây dựng Đề án thành lập sàn giao dịch vàng để báo cáo Chính phủ. Sau khi đề án được thông qua, các bộ, ngành mới có căn cứ hoàn thiện các quy định có liên quan đến việc quản lý thị trường vàng.
Do vậy, tại dự thảo nghị định chưa quy định chi tiết về việc thu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng.
Trước đó, trong quá trình xây dựng dự thảo luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, Bộ Tài chính từng đưa ra đề xuất bổ sung quy định thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng vào diện chịu thuế, với mức thuế suất dự kiến là 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Cuối cùng nội dung này không chính thức được đưa vào luật nhưng cũng nhận về không ít góp ý.
Nhiều chuyên gia đồng tình cần đánh thuế với chuyển nhượng vàng miếng, song cho rằng thuế nên được thiết kế trên tinh thần hài hòa, điều tiết đúng đối tượng đầu cơ.
Chuyên gia thuế Nguyễn Ngọc Tú, giảng viên Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, nhấn mạnh: “Bộ Tài chính cần tính toán để khi đánh thuế phải phân biệt rõ ràng giữa đối tượng kinh doanh, đầu cơ vàng với người dân tích lũy tiết kiệm bằng vàng, bán đi để trang trải cuộc sống.
Ví dụ như trường hợp người dân có ít vàng tích trữ, bán đi để chữa bệnh, hoặc bố mẹ bán vàng để góp tiền mua nhà cho con; người dân được thừa kế vàng từ cha mẹ rồi bán vàng nhằm chi dùng cho mục đích khác, bản chất không phải kinh doanh vàng…”.
Bên cạnh vấn đề về thuế với chuyển nhượng vàng miếng, tại luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 đã bổ sung quy định về thuế thu nhập cá nhân với các khoản thu nhập khác.
Dự thảo nghị định quy định chi tiết các khoản thu nhập khác, bao gồm: thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”; thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon của cá nhân sở hữu chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các bon; thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá theo quy định của pháp luật, thuế được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất 5%.
Trong đó, thu nhập tính thuế là phần thu nhập vượt trên 20 triệu đồng mà người nộp thuế nhận được theo từng lần phát sinh.
Với thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá: thu nhập tính thuế là phần vượt trên 20 triệu đồng của giá chuyển nhượng (bao gồm cả xe gắn với biển số trúng đấu giá) trừ (-) đi giá trị còn lại của xe theo giá tính lệ phí trước bạ tại thời điểm chuyển nhượng.
Với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số: thuế thu nhập được xác định bằng giá chuyển nhượng nhân (x) với thuế suất 0,1%.
Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số bao gồm: tài sản ảo, tài sản mã hóa và các tài sản số khác theo quy định của pháp luật về công nghiệp công nghệ số.
Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế hoặc thời điểm người nộp thuế nhận được thu nhập.
Để thống nhất với hiệu lực thi hành của luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, dự thảo nghị định quy định đồng bộ hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2026.
Riêng các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (trừ quy định về tiền ăn giữa ca, tiền ăn trưa áp dụng từ ngày 1.7.2026).
Theo UBND phường Hiệp Bình, dự án nâng cấp, mở rộng hơn 6,3 km đường quốc lộ 13 (đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình, phường Hiệp Bình) cần thu hồi đất của 1.041 hộ dân và tổ chức với tổng diện tích khoảng 39,54 ha; trong đó diện tích thu hồi để thực hiện dự án là 17,53 ha.
Tính đến 6.5, cơ quan chức năng đã chi trả bồi thường cho 1.023 trường hợp với tổng số tiền hơn 6.193 tỉ đồng. Tuy nhiên, mới có 50 trường hợp bàn giao mặt bằng, 165 trường hợp khác đã đồng ý bàn giao mặt bằng và dự kiến hoàn tất trong tháng này.
Một trong những khó khăn lớn hiện nay là quỹ nhà, đất tái định cư chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Ban đầu, UBND TP.HCM phân bổ 174 nền đất và căn hộ để bố trí tái định cư, gồm 143 nền đất và 31 căn hộ. Nhưng khi triển khai thực tế, UBND phường Hiệp Bình xác định khoảng 250 trường hợp cần tái định cư bằng nền đất và 92 căn hộ. So với nhu cầu, dự án bồi thường còn thiếu 107 nền đất và 61 căn hộ.
Ngoài ra, nhiều hộ dân chưa đồng thuận khi cho rằng giá bồi thường đất nông nghiệp còn thấp so với giá thị trường và có chênh lệch với khu vực Bình Dương trước đây. Một số trường hợp sử dụng đất nông nghiệp lâu năm để ở và kinh doanh kiến nghị được hỗ trợ theo mức bằng 50% giá đất ở hoặc tương đương giá đất thương mại, dịch vụ.
UBND phường Hiệp Bình cho biết đã thành lập 10 tổ vận động, đến từng hộ dân tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai dự án. Đối với các trường hợp chưa thống nhất với phương án bồi thường, đặc biệt liên quan đến việc phân loại đất, địa phương đã báo cáo với đoàn công tác của TP.HCM và sẽ tiếp tục giải thích, vận động để người dân đồng thuận bàn giao mặt bằng.
Trong kế hoạch vừa ban hành, UBND TP.HCM nêu cụ thể 20 bước, yêu cầu hoàn tất toàn bộ công tác giải phóng mặt bằng trước ngày 31.7, làm điều kiện khởi công dự án vào đầu năm 2027.
Trước đó, báo cáo của Sở GTVT TP.HCM cũng nêu bên cạnh công tác bồi thường giải phóng mặt bằng chậm, dự án thành phần 2 thực hiện theo hợp đồng BOT cũng chậm so với yêu cầu. Dự án hiện vẫn trong giai đoạn nghiên cứu khả thi, chưa hoàn tất các thủ tục để lựa chọn nhà đầu tư. Việc triển khai gặp khó khăn do liên quan đến hệ thống hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch, trong đó có tuyến metro số 3, dẫn đến phải điều chỉnh thiết kế và phối hợp nhiều đơn vị.
Với tình hình triển khai thực tế, Sở Xây dựng đề xuất điều chỉnh tiến độ dự án mở rộng quốc lộ 13, khởi công đầu năm 2027 và hoàn thành cuối năm 2028.
Dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 13 có chiều dài hơn 6,3 km (từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình), tổng mức đầu tư gần 21.000 tỉ đồng, triển khai theo hình thức BOT.
Theo quy hoạch, tuyến đường sẽ được mở rộng lên 60 m, giữa tuyến sẽ xây dựng đường trên cao dài khoảng 3,55 km với 4 làn xe, cho phép phương tiện lưu thông với tốc độ tối đa 80 km/giờ. Bên dưới là hệ thống đường song hành rộng 8 - 10 làn xe, tốc độ tối đa 60 km/giờ, nâng tổng quy mô toàn tuyến lên khoảng 12 - 14 làn xe.
TS Phạm Viết Thuận cho rằng, để kích cầu tiêu dùng hiệu quả, cần tạo sự kết nối rõ ràng hơn giữa nhà sản xuất, người tiêu dùng và chính sách quản lý nhà nước. Hiện Việt Nam đã có nhiều chương trình như "Hàng Việt Nam chất lượng cao" nhưng vẫn còn thiếu các tiêu chí và định nghĩa cụ thể để phân biệt giữa hàng kém chất lượng và hàng đạt chuẩn. Điều này khiến cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng gặp khó khăn trong việc nhận diện và bảo vệ sản phẩm chính thống.
"Hiện nay, chúng ta chưa có một định nghĩa thật rõ ràng thế nào là hàng kém chất lượng. Doanh nghiệp cũng rất lúng túng trong việc công bố chất lượng sản phẩm sao cho đúng quy định pháp luật. Vì thế, cần sớm hình thành một hiệp hội bảo vệ nhà sản xuất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp minh bạch hóa sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và bảo vệ thương hiệu nội địa. Hàng Việt không chỉ nên được phân loại theo "chất lượng cao" mà cần có hệ thống phân hạng, tiêu chuẩn cụ thể để người tiêu dùng dễ nhận biết", ông Thuận nói.
Đơn cử, nhiều sản phẩm nông nghiệp truyền thốn hiện thiếu quy chuẩn rõ ràng về thành phần, tỷ lệ hay tiêu chí chất lượng, khiến doanh nghiệp dễ rơi vào rủi ro pháp lý dù chưa chắc có hành vi gian dối. "Muốn phát triển sản xuất nội địa thì phải giúp doanh nghiệp biết sản phẩm của họ đang ở tiêu chuẩn nào, công bố ra sao và làm thế nào để không vi phạm pháp luật", ông Thuận nhấn mạnh.
Bên cạnh việc bảo vệ nhà sản xuất, cần siết chặt quản lý hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử và mạng xã hội để bảo vệ người tiêu dùng. Nhiều sản phẩm hiện được bán online không có địa chỉ rõ ràng, chỉ để lại số điện thoại, khiến người mua khó khiếu nại hoặc truy xuất nguồn gốc khi xảy ra sự cố. "Nếu một sàn hoặc một tài khoản bán hàng không có địa chỉ rõ ràng thì cơ quan quản lý cần xử lý ngay. Muốn bán hàng phải minh bạch tên doanh nghiệp, địa chỉ và nguồn gốc sản phẩm. Do đó, các sản phẩm bán trên sàn thương mại điện tử nên được kết nối với dữ liệu đăng ký tại Sở Công thương để tăng khả năng truy xuất và bảo vệ người tiêu dùng. Trong thời đại số, việc áp dụng mã QR, truy xuất điện tử hay xác minh thông tin doanh nghiệp là hoàn toàn khả thi", ông Thuận đề xuất
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra doanh nghiệp hiện nay còn chồng chéo, gây áp lực lớn cho khu vực sản xuất. Doanh nghiệp cùng lúc phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra từ công an, thuế, quản lý thị trường, phòng cháy chữa cháy đến an toàn thực phẩm. Thay vì kiểm tra dàn trải, cơ quan quản lý nên tập trung xử lý dựa trên phản ánh cụ thể từ người tiêu dùng hoặc dữ liệu cảnh báo hàng giả, hàng gian lận. Đồng thời, cần xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh nhanh như đường dây nóng, nền tảng trực tuyến hoặc tiếp nhận hình ảnh qua mạng xã hội để kiểm soát thị trường hiệu quả hơn.
Ở góc độ tiêu dùng nội địa và du lịch, ông Thuận đánh giá Việt Nam đang có nhiều lợi thế lớn về văn hóa, ẩm thực và sản phẩm truyền thống. Nhiều bạn bè quốc tế đánh giá Việt Nam là điểm đến hấp dẫn nhờ môi trường sống, ẩm thực và trải nghiệm bản địa đa dạng.
Tuy nhiên, để hàng Việt phát triển mạnh hơn, cần minh bạch thông tin sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và quy trình sản xuất để vừa bảo vệ doanh nghiệp chân chính, vừa tạo niềm tin cho người tiêu dùng. "Muốn kích cầu tiêu dùng trong nước thì điều quan trọng nhất vẫn là xây dựng được niềm tin đối với hàng hóa nội địa", TS Thuận nhấn mạnh.
Theo Nghị định số 169/2026 do Chính phủ ban hành quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có hiệu lực từ ngày 1.7, người mang tiền mặt, vàng khi xuất nhập cảnh nhưng không khai báo sẽ bị xử phạt lên đến 50 triệu đồng. Cụ thể, người xuất cảnh, nhập cảnh nếu không khai hoặc khai sai số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt hoặc vàng mang theo vượt mức quy định sẽ bị xử phạt từ 1 triệu đồng - 50 triệu đồng tùy vào tang vật vi phạm có giá trị tương đương từ 5 triệu đồng đến trên 100 triệu đồng mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự... Như vậy, người Việt xuất nhập cảnh sẽ được phép mang bao nhiêu tiền mặt hay vàng, ngoại tệ?
Thông tư số 15/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định, cá nhân khi xuất cảnh bằng hộ chiếu mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt trên mức 5.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương hoặc 15 triệu đồng phải khai báo với hải quan. Điều này được hiểu rằng, khi mang tiền mặt hay ngoại tệ khi xuất nhập cảnh dưới mức quy định nói trên thì không cần khai báo.
Thông tư 15/2011 cũng nêu rõ: Mức ngoại tệ tiền mặt và đồng Việt Nam tiền mặt quy định phải khai báo hải quan cửa khẩu không áp dụng đối với cá nhân mang theo các loại phương tiện thanh toán, giấy tờ có giá bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng Việt Nam như séc du lịch, thẻ ngân hàng, sổ tiết kiệm, các loại chứng khoán và các loại giấy tờ có giá khác. Trường hợp cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định nêu trên hoặc vượt số mang vào đã khai báo hải quan cửa khẩu khi nhập cảnh lần gần nhất, phải xuất trình cho hải quan cửa khẩu các loại giấy tờ gồm Giấy xác nhận mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài (sau đây gọi là Giấy xác nhận) do tổ chức tín dụng được phép cấp phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối; hoặc văn bản chấp thuận cho cá nhân mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt ra nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước cấp.
Trường hợp cá nhân xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt vượt mức quy định trên, nhưng không vượt quá số lượng đã mang vào phải xuất trình cho Hải quan cửa khẩu Tờ khai nhập cảnh - xuất cảnh có xác nhận của hải quan cửa khẩu về số ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt đã mang vào khi nhập cảnh lần gần nhất, không cần phải có Giấy xác nhận của tổ chức tín dụng được phép.
Tương tự, Thông tư 11/2014 của Ngân hàng Nhà nước quy định việc mang vàng của cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh nêu rõ: Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu. Trường hợp cá nhân nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho hải quan để mang ra khi xuất cảnh hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài và phải chịu mọi chi phí liên quan phát sinh.
Riêng vàng trang sức, mỹ nghệ thì cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu mang theo với tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan. Điều này đồng nghĩa nếu mang theo vàng trang sức, mỹ nghệ dưới 300g thì không cần khai báo.
Trường hợp xuất cảnh, nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới, giấy thông hành nhập xuất cảnh, chứng minh thư biên giới thì không không được mang theo vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ, trừ trường hợp được đeo trên người vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ nhu cầu trang sức như các loại: nhẫn, dây, vòng, hoa tai, kim cài và các loại trang sức khác. Nếu tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan.
Nếu cá nhân cá nhân nước ngoài được phép định cư ở Việt Nam khi nhập cảnh mang theo vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ có tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan hải quan. Ngược lại, cá nhân Việt Nam được phép định cư ở nước ngoài khi xuất cảnh được mang theo vàng (vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ) theo quy định sau: Tổng khối lượng vàng từ 300g (ba trăm gam) trở lên đến dưới 1 kg (một kilôgam) phải khai báo với cơ quan hải quan; tổng khối lượng vàng từ 1 kg (một kilôgam) trở lên phải có Giấy phép mang vàng khi xuất cảnh định cư ở nước ngoài của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi cá nhân đó cư trú cấp, đồng thời phải khai báo với cơ quan hải quan.