Việc này có thể ảnh hưởng đến chi phí vận hành chung của các nhà bán hàng trên nền tảng, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến giá bán dành cho người tiêu dùng cũng như môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại điện tử.
Trên cơ sở các thông tin, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho biết đã tổ chức làm việc với một số người bán hàng trên nền tảng Shopee và TikTok Shop để tìm hiểu, ghi nhận những bất cập, khó khăn khi thực hiện điều chỉnh các loại phí mà Shopee, TikTok Shop đã hoặc dự kiến áp dụng.
Cùng đó, cơ quan này đã gửi văn bản yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu và tổ chức làm việc với đại diện một số nền tảng số trung gian bán lẻ. Trong đó, sàn thương mại điện tử Shopee phải làm rõ cơ sở xây dựng, lý do điều chỉnh, phương thức áp dụng cũng như tác động của các chính sách phí mới đối với người bán hàng và môi trường cạnh tranh.
Đặc biệt, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia lưu ý đối với việc Shopee dự kiến áp dụng loại phí mới thông qua chương trình duy trì hiển thị từ nạp tiền tự động trích từ doanh thu đơn hàng, dự kiến triển khai từ ngày 29-5.
Với chương trình này, Shopee dự kiến sẽ tự động trích một tỉ lệ nhất định từ doanh thu đơn hàng thành công của người bán để nạp vào tài khoản dịch vụ hiển thị trên nền tảng nhằm duy trì hoạt động quảng bá, hiển thị sản phẩm.
Mức duy trì hiển thị tiêu chuẩn được áp dụng ở mức 1% doanh thu đơn hàng thành công (chưa bao gồm thuế GTGT). Đồng thời người bán có thể thiết lập mức linh hoạt từ 1% đến 50% theo nhu cầu. Khoản tiền này được khấu trừ trực tiếp trước khi doanh thu được chuyển vào tài khoản của người bán.
Qua quá trình làm việc và rà soát thông tin, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho biết đã yêu cầu Shopee rà soát cơ sở áp dụng và các tác động có thể phát sinh của chương trình nêu trên đối với cộng đồng nhà bán hàng trên nền tảng.
Theo đó, ngày 27-5, Công ty TNHH Shopee đã có báo cáo gửi Ủy ban Cạnh tranh quốc gia về kết quả rà soát và chủ động đề xuất hoãn triển khai chính sách phí mới nêu trên, đồng thời cho biết sẽ gửi thông báo chính thức đến người bán hàng trong ngày 28-5.
Đối với việc điều chỉnh các loại phí hiện đang được các nền tảng số trung gian bán lẻ áp dụng đối với người bán hàng, bao gồm phí cố định, phí xử lý giao dịch, phí hạ tầng và các loại phí dịch vụ khác, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia sẽ tiếp tục tăng cường công tác theo dõi, giám sát việc xây dựng, điều chỉnh và áp dụng chính sách phí trên thị trường.
Đồng thời, cơ quan này yêu cầu Shopee, TikTok Shop và các doanh nghiệp liên quan tiếp tục cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu và giải trình về cơ sở xây dựng. Thông tin rõ về căn cứ điều chỉnh, phương thức áp dụng, cơ chế thu phí cũng như tính hợp lý, minh bạch. Cùng đó, đánh giá tác động của các chính sách phí này đối với hoạt động kinh doanh, đảm bảo môi trường cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cũng như nhiều vườn khác, chủ vườn cam sành này đành bỏ mặc vườn cam của mình chín rục.
Chỉ năm ngoái thôi, những trái cam trong khu vườn này đã cho gia đình ông bay bổng trong cảnh được mùa được giá, nhưng năm nay, vẫn những trái cam mọng nước ấy, lại đang héo hon trong cảnh giá thu mua chạm đáy ngay tại vườn.
Lang thang cùng lão nông nhỏ thó, khắc khổ, giữa những luống cam trĩu quả, tôi biết, người chủ vườn này không trồng sai, ông tin vào những gì đã từng đúng, nên giờ vẫn đang ngơ ngác trước những đổi thay thời thế chóng mặt đang xoay chuyển liên tục bên ngoài vườn cam của ông.
Và có lẽ, chính điều đó mới là vấn đề.
Câu chuyện những vườn cam đã từng rực rỡ rồi lại bỏ không, có thể nói là một lát cắt phản ảnh toàn bộ nền Nông nghiệp Việt Nam hôm nay - nơi mà người nông dân vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng kết quả ngày càng phụ thuộc vào may rủi.
Khi thị trường thay đổi theo từng vụ mùa và khí hậu, cũng như những câu chuyện mang tính đổi thay địa chính trị, mọi thứ không còn vận hành theo quy luật cũ, những quyết định dựa vào kinh nghiệm xưa cũ của cả hệ sinh thái nông nghiệp nói riêng cũng dần trở nên lạc nhịp.
Nông nghiệp Việt nói chung không thiếu đất, không thiếu người cũng như cả những quyết tâm, tất cả chỉ đang thiếu một cách nghĩ phù hợp với thời thế mới. Và vì thế, xét về bản chất, thì Nông nghiệp Việt vẫn đang phiêu lưu đến ngày mai bằng chính dữ liệu của quá khứ.
Trước đây, nông nghiệp Việt hầu như vận hành dựa vào kinh nghiệm không phải là sai. Ngược lại, đó từng là lựa chọn hợp lý và hiệu quả. Khi thị trường trong và ngoài nước còn tương đối ổn định, các chỉ số về sản lượng luôn đi theo quy mô dân số, nhu cầu, thì việc “đạt năng suất cao” gần như đảm bảo cho cả một hệ thống sẽ tích luỹ được thặng dư.
Người nông dân không cần dự báo gì xa xôi, họ chỉ cần dựa theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, học hỏi lẫn nhau rồi xắn tay gieo thêm những gì đã từng mang lại kết quả.
Kinh nghiệm, vì thế, trở thành một dạng “dữ liệu sống” - được tích lũy qua năm tháng, truyền từ thừa qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ là “trăm hay”, mà còn là trục niềm tin được mặc định. Khi một loại cây từng giúp cả làng thoát nghèo, thì việc tiếp tục trồng nó không chỉ là quyết định mang tính kế thừa, mà còn có thể gọi là truyền thống, không thể khác, không cần tính toán xa xôi.
Trong một thế giới ít biến động, tư duy ấy đã từng đúng. Và chính vì cũng đã từng đúng trong thời gian đủ dài, người nông dân nói riêng có lý do để tin vào nó -thậm chí gắn chặt đời mình vào niềm tin đó - như một cách để “phòng thân” giữa cuộc sống nhiều rủi ro.
Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, những gì từng đúng trong Nông nghiệp cũng đang dần đổi thay. Thị trường nông sản hôm nay không còn vận hành theo nhịp năm, mà theo nhịp tháng, thậm chí từng tuần. Một loại nông sản có thể “sốt giá” trong một mùa, nhưng ngay sau đó lại nhanh chóng rơi vào tình trạng “giải cứu” vì rất nhiều lý do. Và trong câu chuyện thay đổi này, khoảng trễ giữa sản xuất và thông tin, luôn là vấn đề mấu chốt.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang làm xáo trộn những quy luật quen thuộc. Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nước mặn xâm nhập sâu hơn, hạn hán, mưa lũ trái mùa kéo dài hơn, đất đai cũng đâu “dễ thở” như trước. Vì thế, những kinh nghiệm từng tích lũy qua nhiều thế hệ của người nông dân dần trở nên kém chính xác trong một môi trường ngày càng bất định.
Ở quy mô lớn hơn, nông nghiệp giờ đây không chỉ là câu chuyện trồng trọt, mà còn là một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Giá trị không còn nằm chủ yếu ở sản lượng, mà ở khả năng chế biến theo chuẩn, xây dựng thương hiệu và liên tục mở rộng cũng như tiếp cận thị trường mới. Khi phần lớn lợi nhuận nằm ở cuối chuỗi, việc chỉ tập trung vào sản xuất khiến người nông dân luôn ở vị thế yếu. Và khi người làm nông ở vị thế thấp như vậy, thì nền Nông nghiệp nước nhà sẽ khó bay cao.
Đơn cử như ở Israel, một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên đất và nước như Việt Nam, nhưng nền nông nghiệp của họ được tổ chức theo một hệ thống có thể dự báo và kiểm soát. Chính Phủ cũng như người làm nông nước họ không chờ thời tiết thuận lợi, mà thiết kế giải pháp để thích nghi, không trồng theo thói quen, mà ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Khi không có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, quyết định sản xuất thường phải dựa vào những gì họ nghe được: từ thương lái, từ đồng nghiệp, thậm chí từ cả thế giới mạng. Đó có thể là kiểu thông tin “năm nay mít được giá” rất mơ hồ nhưng dễ lan nhanh. Trong khoảng trống thông tin như vậy, nguồn tin không chính thống nghiễm nhiên trở thành dữ liệu.
Phần lớn nông dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, khó liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh chung. Khi đến mùa thu hoạch, họ không quyết định được giá bán, mà chờ người khác đến định giá. Không có hợp đồng dài hạn, không có kênh tiêu thụ thật sự ổn định, cho nên mỗi vụ mùa đều chuyên chở cả những “hên xui”. Hãy nhân rộng vấn đề hiện tại lên, bức tranh toàn cảnh của một nền Nông nghiệp đầy phập phồng sẽ hiện ra.
Người nông dân sẵn sàng thử giống mới, học cách làm mới, thậm chí vay vốn để đầu tư. Nhưng trong một hệ thống thiếu thông tin, thiếu liên kết và thiếu bảo đảm, mỗi thay đổi đều đi kèm rủi ro lớn.
Cho nên, câu chuyện thực tế đằng sau hàng loạt sự kiện “giải cứu” qua nhiều năm, ta có thể thấy rằng. Người nông dân không thiếu ý chí thay đổi - họ đang thiếu một hệ thống giúp họ thay đổi.
Ở cấp quản lý, điều cần thiết không chỉ là chính sách, mà là một hệ thống vận hành đồng bộ đính kèm: hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích chia sẻ dữ liệu và liên kết sản xuất; cơ chế tín dụng linh hoạt, cho phép vay vốn dựa trên phương án sản xuất thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; các chương trình đào tạo thực chất để “xóa mù công nghệ”, giúp người nông dân hiểu và sử dụng được công cụ mới. Quan trọng không kém là vai trò kết nối thị trường - từ hỗ trợ xây dựng thương hiệu đến mở rộng kênh tiêu thụ - để người sản xuất không còn đứng một mình ở đầu chuỗi.
Tôi rời khu vườn cam mà lòng cũng nặng trĩu. Rồi khu vườn cam này sẽ lại được trồng. Người nông dân như ông chủ vườn vẫn sẽ xuống giống, vẫn sẽ chăm sóc, vẫn đặt hy vọng vào một mùa vụ mới.
Nhưng nếu cách quyết định không thay đổi, thì kết cục có thể cũng sẽ không sáng sủa gì cho cam. Bởi cuối cùng, thứ quyết định tương lai của cả khu vườn không phải là cây cam, mà là lý do chính xác người ta phải trồng thứ gì trên nó.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Nhớ lại những năm 1997, bà ngô Tường Vy - CEO Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất nhập khẩu Trái cây Chánh Thu (Chánh Thu Group) - cho biết lúc đó công ty khởi đầu chỉ là một vựa thu mua nhỏ tại Bến Tre. Ban đầu, công ty đưa các lô chôm chôm, nhãn sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch, giá trị mỗi lô chỉ vài trăm triệu đồng.
Và bước ngoặt đến với công ty bà Thu là khi xuất khẩu chuyển dần sang chính ngạch, gắn liền các nghị định thư giữa hai nước. "Quy mô xuất khẩu tăng lên hàng chục lần, thậm chí gần 50 lần so với giai đoạn đầu", bà Vy nói.
Chánh Thu hiện tăng trưởng hàng năm 30-40%, mặt hàng chủ lực là sầu riêng tươi và mít, xoài đông lạnh. Năm nay, công ty đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 40%, với thuận lợi là Trung Quốc vừa mở cửa thêm cho chanh, bưởi.
Nghị định thư với hai mặt hàng này vừa được Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam cùng Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) ký hôm 15/4 tại Bắc Kinh, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
"Mỗi nghị định thư được ký kết đều mở ra cơ hội lớn. Trong đó, bưởi là sản phẩm được đánh giá có tiềm năng cao tại Trung Quốc, khi đã nhận được sự quan tâm từ các hệ thống phân phối lớn ngay từ sớm", bà Vy nhận định.
Hiện 16 loại nông sản của Việt Nam đã được xuất khẩu chính ngạch, mang về doanh thu hàng tỷ USD mỗi năm. Vào 2025, người Trung Quốc chi 5,5 tỷ USD để mua rau quả Việt. Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả, mục tiêu xuất khẩu rau quả sang nước này vượt 6 tỷ USD năm nay có thể đạt được, nếu các mặt hàng chủ lực như sầu riêng, chuối, xoài tiếp tục duy trì đà tăng trưởng.
"Việc bưởi và chanh vừa ký nghị định thư xuất khẩu chính ngạch được xem là bước mở cửa quan trọng, giúp đa dạng hóa danh mục sản phẩm và tạo thêm dư địa tăng trưởng trong thời gian tới", ông Bình nói thêm.
Không chỉ rau quả, nhiều sản phẩm khác cũng hút hàng. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết Trung Quốc đại lục & Hong Kong là thị trường lớn nhất quý I, kim ngạch 764 triệu USD, tăng 45% so với cùng kỳ.
"Đây không chỉ là mức tăng cao nhất trong các thị trường chủ lực, mà còn là yếu tố quyết định giúp toàn ngành duy trì tăng trưởng dương", bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký VASEP, nêu. Theo bà, Trung Quốc tiếp tục là động lực chính giai đoạn tới.
Nhận định chung tại hội thảo đầu năm, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, cho rằng xuất khẩu sang Trung Quốc năm nay vẫn có cơ hội tăng trưởng ở mức hai con số, khoảng trên 14%, nếu hai nước tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa của nhau.
Triển vọng này phần nào bù đắp nguy cơ suy giảm ở các thị trường khác do biến động thương mại toàn cầu và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 15-16%. Năm ngoái, kim ngạch sang Trung Quốc đạt 70,4 tỷ USD, tăng 14,85% so với 2024.
Thập kỷ qua, kim ngạch xuất khẩu đã tăng hơn 4 lần. Đến 2025, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, kim ngạch song phương đạt 256,5 tỷ USD, gấp gần 4 lần năm 2015 (66,17 tỷ USD). Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN.
Theo Bộ Công Thương, thương mại còn nhiều dư địa tăng trưởng, nhờ các thỏa thuận song phương, cũng như FTA gồm Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).
Không chỉ tích cực về thương mại, hợp tác đầu tư cũng mở rộng với tốc độ nhanh không kém. Trong 5 năm qua, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc tăng 3 lần (1,86 tỷ USD năm 2020 lên 5,69 tỷ USD năm 2025). Nước này thành nhà đầu tư lớn thứ hai trong năm ngoái, chiếm 14,8% vốn FDI vào Việt Nam.
Các doanh nghiệp trong ngành logistics cũng thể hiện rõ sự sôi động. Tháng 11/2024, "ông lớn" logistics toàn cầu Maersk đưa vào vận hành kho ngoại quan đầu tiên tại miền Bắc, nhằm tăng năng lực logistics tích hợp hành lang sản xuất thương mại Hà Nội - Hải Phòng, khu vực trọng điểm của doanh nghiệp điện tử và hàng tiêu dùng đến từ Trung Quốc.
"Chúng tôi đang đẩy mạnh năng lực logistics xuyên biên giới thông qua đầu tư vào hạ tầng, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng sản xuất trong khu vực Mekong", ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong, A.P. Moller - Maersk, cho biết.
Các nhà đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam phần lớn trong lĩnh vực sản xuất, chế biến - chế tạo và ngày càng có hàm lượng công nghệ cao. Đến nay, nhiều doanh nghiệp điện tử như Foxconn, Pegatron, Goertek, Compal hay Luxshare-ICT đã đầu tư hàng tỷ USD. Riêng Luxshare-ICT đã đầu tư hơn 1,8 tỷ USD và nhắm đến quy mô doanh số không dưới 10 tỷ USD ở Việt Nam.
Phân tích xu hướng này, các chuyên gia nhận định doanh nghiệp hoạt động tại châu Á ngày càng đẩy mạnh tái cấu trúc mạng lưới sản xuất và logistics sang các mô hình chuỗi cung ứng đa quốc gia và kết nối chặt chẽ trên toàn khu vực.
Với xu hướng này, Việt Nam nổi lên như một trong những điểm đến chiến lược nhất trong cả chuỗi giá trị khu vực lẫn toàn cầu, vượt xa vai trò đơn thuần là bổ trợ trong mô hình China+1, theo Maersk.
Lợi thế địa lý gần Trung Quốc đang thúc đẩy mô hình sản xuất song phương (dual-country production) tại Việt Nam. Đồng thời, thị trường Mekong, bao gồm Việt Nam, cũng nổi lên như trung tâm tiêu dùng mới cho hàng hóa nước này.
"Trong làn sóng chuyển dịch, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mang tính chiến lược hơn", Maersk nhận định. Công ty cũng cho rằng sự bổ trợ giữa hai nền kinh tế đang thúc đẩy phát triển các hệ sinh thái chuỗi cung ứng xuyên biên giới.
Phát biểu ở hội thảo ngày 15/4, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Sơn Đông tại Việt Nam, xác nhận Việt Nam ngày càng thu hút quan tâm của doanh nghiệp sản xuất Trung Quốc, bởi điều kiện thuận lợi để kết nối, vươn ra ASEAN và toàn cầu.
Chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt dần tìm thấy cơ hội đầu tư bên cạnh giao thương. Tính đến 2024, đầu tư trực tiếp của Việt Nam sang Trung Quốc đại lục và Hong Kong đạt 95,6 triệu USD, với 76 dự án còn hiệu lực, theo Cục Thống kê.
Đơn cử, Trung Nguyên Legend cho biết đã có 15 nhà nhập khẩu, 300 nhà phân phối thứ cấp, 30.000 điểm bán trên kênh offline (bao gồm các đại siêu thị), hàng vạn cửa hàng trên kênh online như JD, Amazon, Taobao, Tmall, Century Mart... và trên 15 triệu người dùng cà phê G7 thường xuyên tại Trung Quốc.
"Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam, không chỉ ở vai trò cung ứng nguyên liệu, mà khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị từ sản phẩm chế biến, thương hiệu đến không gian trải nghiệm", tập đoàn này nhận định. Trung Nguyên Legend xúc tiến phát triển gần 130 quán trong năm 2026, mở đầu cho kế hoạch dài hạn 1.000 quán tại Trung Quốc.
Còn nhiều triển vọng hợp tác thương mại, đầu tư Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn tới. Tại cuộc hội kiến Thủ tướng Lý Cường chiều 15/4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc xác lập tầm cao mới cho hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch, tăng cường hợp tác thương mại cân bằng, bền vững hơn; thúc đẩy liên kết kinh tế, tạo đột phá về kết nối hạ tầng chiến lược, dành ưu tiên cao nhất cho hợp tác đường sắt, đẩy mạnh kết nối với Trung Á và châu Âu.
Lãnh đạo hai nước cũng thống nhất tạo điều kiện để Việt Nam tham gia chuỗi hoạt động "Chia sẻ thị trường lớn - Xuất khẩu Trung Quốc", mở cửa cho hàng nông thủy sản và chăn nuôi Việt Nam, thúc đẩy hợp tác đầu tư chất lượng cao, hợp tác khoa học công nghệ, tài chính, nông nghiệp, môi trường...
Trong tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc được công bố hôm 17/4, sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cũng khẳng định hai nước tiếp tục làm sâu sắc quan hệ, thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác.
Trong đó, về kinh tế, Việt - Trung nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường. Hai bên cũng thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực tài chính, các lĩnh vực công nghệ và năng lượng như AI, bán dẫn, 5G, dữ liệu lớn và liên kết lưới điện qua biên giới...
Trung Quốc hoan nghênh Việt Nam tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu tại nước này. Đồng thời, Trung Quốc cam kết tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường tỷ dân này.
Với Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Thanh Bình, Trung Quốc vẫn là thị trường "bao la". Khi láng giềng phát tín hiệu tăng mua, ông cho rằng cần nắm bắt cơ hội, tiếp cận bài bản và khôn ngoan hơn, thay vì chỉ chạy theo sản lượng.
"Doanh nghiệp phải đầu tư đúng mức để nâng giá trị gia tăng, đồng thời xây dựng chuỗi sản xuất khép kín, từ chọn giống, canh tác đến đóng gói, logistics theo hướng chuyên nghiệp", ông khuyến nghị.
CEO Chánh Thu Ngô Tường Vy đồng quan điểm, thừa nhận thị trường Trung Quốc khắt khe dần. Các yêu cầu về chất lượng, kiểm dịch, truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ. "Trung Quốc không còn là thị trường dễ tính. Muốn tồn tại và phát triển phải đi từ chất lượng và thích nghi với thị hiếu tiêu dùng", bà nói.
Tin Gốc: Vnexpress

Báo cáo từ Vietnam Report vừa công bố mới đây đã cho thấy từ chi phí logistics "ăn mòn" lợi nhuận đến các vụ kiện phòng vệ thương mại đang buộc doanh nghiệp vật liệu xây dựng phải thay đổi tư duy quản trị.
Ngành vật liệu xuất khẩu đang đối mặt với một thực trạng đầy trớ trêu khi hàng hóa làm ra nhiều nhưng không thể vận chuyển hoặc vận chuyển với chi phí không tưởng. Theo số liệu, xuất khẩu xi măng và clinker đạt hơn 37,3 triệu tấn (tương đương 1,3 tỉ USD, tăng 25,6% về khối lượng).
Trong khi nhóm sản phẩm gỗ và nội thất cũng đạt kim ngạch hàng tỉ USD. Tuy nhiên, niềm vui tăng trưởng không trọn vẹn khi "mưa tên lửa" địa chính trị tại Trung Đông đang làm đứt gãy các tuyến hàng hải huyết mạch.
Đặc biệt tại khu vực eo biển Hormuz, việc các hãng tàu phải đi vòng và áp thêm phụ phí chiến tranh đã đẩy chi phí logistics lên mức phi lý. Đối với các mặt hàng có khối lượng lớn nhưng giá trị đơn vị thấp như xi măng, đá xây dựng hay bê tông, đây là một "đòn chí mạng".
Theo phân tích của các chuyên gia, trước đây giá một tấn xi măng tại cảng Việt Nam khoảng 41 - 42 USD, nhưng nếu giá cước vận tải sang Trung Đông đội lên mức 60 USD/tấn, thì chi phí vận chuyển đã cao hơn cả giá trị thực của hàng hóa. Đối với mặt hàng đá xây dựng, tiền cước thậm chí có thể cao gấp hàng chục lần giá trị sản phẩm, khiến chuỗi cung ứng có nguy cơ bị dừng lại ngay lập tức do không còn hiệu quả kinh tế.
Không chỉ khó ở khâu vận chuyển, hàng vật liệu xây dựng Việt Nam còn vấp phải các rào cản pháp lý khắt khe. Điển hình là vụ việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá sơ bộ đối với thép cốt bê tông Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 122% đến hơn 130%. Con số này cao hơn gấp nhiều lần so với các quốc gia khác cùng bị điều tra như Ai Cập (34% - gần 53%) hay Bulgaria khoảng 52,8%.
Sự gia tăng đột biến của lượng thép xuất khẩu sang Mỹ (từ 43 tấn năm 2022 lên 56.400 tấn năm 2024) đã khiến các cơ quan quản lý sở tại siết chặt các biện pháp phòng vệ để bảo vệ sản xuất nội địa. Đây là bài học đắt giá về việc mở rộng quy mô quá nhanh mà thiếu các chiến lược phòng vệ và đa dạng hóa thị trường bền vững.
Phương pháp ứng phó: chuyển đổi số và xanh hóa là bắt buộc
Trước những "cơn sóng" dữ mà thị trường toàn cầu đang phải đón nhận, các doanh nghiệp vật liệu xây dựng đang buộc phải tái định hình chiến lược. Trong đó, xu hướng nổi bật là chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên quy mô sang mô hình dựa trên hiệu quả và công nghệ.
Khảo sát cho thấy một con số ấn tượng khi 100% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đang triển khai chuyển đổi số. Trong đó, 22,4% đã hoàn thành và bước sang giai đoạn tối ưu hóa, tích hợp công nghệ toàn diện vào vận hành.
Việc 88,9% doanh nghiệp dự kiến tăng đầu tư vào công nghệ trong năm 2026 cho thấy chuyển đổi số đã trở thành nền tảng sống còn để quản trị chi phí và dữ liệu.
Một giải pháp hữu hiệu, bền vững hơn nữa là theo đuổi và tuân thủ tiêu chuẩn ESG, xem đây như là "tấm vé thông hành". Phát triển bền vững không còn là khẩu hiệu xa vời. Bởi có tới 92,3% doanh nghiệp xác định ESG (môi trường - xã hội - quản trị) là ưu tiên chiến lược.
Với một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và tài nguyên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và vượt qua các rào cản kỹ thuật tại các thị trường khó tính.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP.HCM (SACA) nhận định ngành vật liệu xây dựng Việt Nam đang đứng trước một cuộc sát hạch gắt gao. Những doanh nghiệp có khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng, chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại và mạnh dạn đầu tư vào công nghệ xanh sẽ là những cái tên trụ vững qua "cơn bão" địa chính trị và kinh tế toàn cầu hiện nay.

