Tôi bước sang tuổi 40 trong một trạng thái mà nhiều người có thể gọi là ổn định. Công việc đều, thu nhập đủ, có nguồn thu cho thuê, gia đình không có biến động lớn. Nếu nhìn từ bên ngoài, tôi không có lý do gì để dừng lại.
Nhưng chỉ có tôi mới cảm nhận rõ một điều là mình đang chậm lại. Không phải là thất bại, cũng không phải một cú sốc nào rõ rệt. Tôi vẫn đi làm, vẫn hoàn thành công việc, vẫn đạt những mục tiêu quen thuộc.
Nhưng cảm giác hứng thú gần như biến mất. Những thứ trước đây từng khiến tôi có động lực, giờ chỉ còn là trách nhiệm. Tôi bắt đầu sống theo quán tính, và điều đó khiến tôi thấy bất an hơn cả áp lực.
Có một câu hỏi cứ lặp lại trong đầu tôi thời điểm đó: Nếu cứ tiếp tục như vậy, 5 hay 10 năm nữa, mình sẽ trở thành phiên bản nào của chính mình?
Tôi không tìm được câu trả lời khi vẫn đang quay trong guồng công việc. Vì thế, ở tuổi từ 40 đến 42, tôi quyết định cho mình một khoảng nghỉ. Không phải nghỉ hẳn, cũng không buông bỏ tất cả, mà là một bước lùi có chủ đích để không tiếp tục đi trong trạng thái mơ hồ.
Đó là lần đầu tiên sau nhiều năm, công việc không còn là trung tâm của mọi quyết định. Tôi bắt đầu dành thời gian cho những thứ trước đây luôn bị xếp sau. Tôi đi nhiều hơn. Tôi gặp gỡ bạn bè một cách thoải mái, không cần gắn với lợi ích nào. Tôi cho phép mình có những khoảng thời gian không làm gì cả, điều mà trước đây gần như không tồn tại.
Và tôi bắt đầu tập thể thao đều đặn, ba đến bốn buổi mỗi tuần. Tôi bắt đầu trồng cây cảnh, nuôi cá, đọc sách, viết lách, đi du lịch thường xuyên
Ban đầu, cảm giác không dễ chịu. Tôi quen với việc luôn phải bận rộn, luôn phải tạo ra kết quả. Khi nhịp độ chậm lại, tôi có cảm giác như mình đang tụt lại phía sau. Nhưng càng đi qua giai đoạn đó, tôi càng nhận ra dừng lại không phải là thụt lùi. Có những lúc, đó là cách duy nhất để không đi sai đường quá xa.
Khoảng thời gian đó cho tôi một quãng thời gian để nhìn lại, thứ mà trước đây tôi gần như không có.
Tôi nhận ra suốt nhiều năm, mình sống rất nhanh. Luôn đặt mục tiêu tiếp theo ngay khi vừa đạt được mục tiêu hiện tại. Luôn cố gắng làm nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Nhưng lại rất ít khi tự hỏi mình có thực sự muốn điều đó hay không.
Ở tuổi 20-30, cách sống đó giúp tôi tiến lên. Nhưng đến tuổi 40, nếu vẫn tiếp tục như vậy, cảm giác trống rỗng bắt đầu xuất hiện. Không phải vì thiếu thành tựu, mà vì thiếu hiểu biết với chính mình.
Hai năm chậm lại không mang đến cho tôi tất cả câu trả lời, nhưng nó giúp tôi đặt lại những câu hỏi đúng.
Khi quay lại công việc, tôi không còn là người trước đó nữa. Tôi không đặt mục tiêu duy nhất là kiếm tiền, cũng không cố làm nhiều nhất có thể. Tôi bắt đầu chọn cách làm việc phù hợp với trạng thái của mình hơn.
Khi còn năng lượng, tôi làm việc tập trung và hiệu quả. Khi mệt, tôi nghỉ mà không còn cảm thấy áy náy. Khi có thời gian rảnh, tôi đi chơi, tận hưởng hoặc đơn giản là ở yên trên sân thượng cho cá ăn, dọn bể, cắt tỉa cành. Những điều trước đây từng khiến tôi thấy không hiệu quả, giờ lại trở thành một phần cần thiết.
Việc tập thể thao vẫn được duy trì đều đặn. Không phải để đạt thành tích gì, mà để giữ cho cơ thể đủ khỏe và đầu óc đủ rõ ràng hoặc rủ bỏ stress của ngày đó. Sau một thời gian, tôi nhận ra năng lượng của mình không còn bùng nổ như trước, nhưng lại bền và ổn định hơn.
Đi qua giai đoạn đó, tôi hiểu rõ hơn về cái gọi là khủng hoảng tuổi trung niên. Thực ra, đó không hẳn là khủng hoảng. Đó là lúc con người bắt đầu nhìn lại và nhận ra những gì từng phù hợp trước đây có thể không còn phù hợp nữa.
Vấn đề không nằm ở việc chững lại, mà nằm ở cách mình phản ứng với nó.
Nhiều người tiếp tục chạy, dù không còn động lực. Nhiều người khác chọn dừng hẳn và thu mình lại. Cả hai đều dễ dẫn đến một trạng thái chung: Sống theo quán tính.
Trong khi đó, tuổi 40-60 vẫn là một quãng thời gian rất dài. Nếu không có sự điều chỉnh, rất dễ rơi vào việc làm cầm chừng, ngại thay đổi, tự hài lòng với những gì đang có. Và theo thời gian, cả thể chất lẫn tinh thần đều đi xuống.
Tôi không nghĩ ai cũng cần phải có một khoảng nghỉ như tôi. Nhưng tôi nghĩ ai bước vào tuổi 40 cũng sẽ có lúc phải đối diện với câu hỏi mình muốn sống phần đời còn lại như thế nào?
Với tôi, khoảng nghỉ đó không làm tôi mất đi điều gì quá lớn. Ngược lại, nó giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân, biết điều gì thực sự quan trọng, và học cách cân bằng giữa làm việc và sống.
Tôi không làm ít đi mà chỉ làm việc có chọn lọc hơn. Nếu nhìn lại, tôi không hối tiếc vì đã chững lại ở tuổi 40. Không phải vì đó là một quyết định hoàn hảo, mà vì đó là một quyết định cần thiết.
Ở thời điểm đó, tôi nhận ra mình không còn nhiều thời gian để thử sai một cách vô thức. Nhưng mình vẫn còn đủ thời gian để sống một cách có ý thức. Và đôi khi, để làm được điều đó, mình cần đủ dũng cảm để chậm lại và đủ mạnh mẽ để khởi động lại bản thân sau thời kỳ tạm ngủ đông.
Gần đây, thông tin về việc Hà Nội tiếp tục là địa phương có chi phí sinh hoạt đắt đỏ nhất cả nước trở thành chủ đề bàn tán xôn xao. Nhiều người than thở rằng với mức thu nhập trung bình, việc trụ lại Thủ đô là một cuộc chiến khốc liệt. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ một người đang trực tiếp "thắt lưng buộc bụng" giữa lòng Hà Nội, tôi tin rằng đắt hay rẻ, sống ổn hay không, phần lớn nằm ở sự tính toán và kỷ luật của chính mình.
Vợ chồng tôi có tổng thu nhập mỗi tháng là 40 triệu đồng - một con số không quá thấp ở mảnh đất này. Thế nhưng, trái với suy nghĩ của nhiều người, chúng tôi chọn lối sống tối giản đến mức tối đa. Tổng chi phí sinh hoạt mỗi tháng của hai vợ chồng chỉ rơi vào khoảng 12 triệu đồng, nghĩa là chúng tôi tiết kiệm được tới 28 triệu đồng mỗi tháng.
Mỗi tháng, tôi chỉ giới hạn chi tiêu trong đúng 3 triệu đồng cho việc đi chợ, tương đương không quá 100.000 đồng mỗi ngày cho hai người. Để làm được điều này, tôi từ bỏ thói quen đi siêu thị vì dễ bị cám dỗ bởi những mặt hàng giảm giá không cần thiết. Thay vào đó, tôi đi chợ đầu mối từ sớm hoặc ghé các sạp rau ven đường vào cuối buổi để mua được giá hời.
Nguyên tắc của tôi rất đơn giản: thịt, cá, rau chỉ mua vừa đủ dùng, tuyệt đối không tích trữ để tránh lãng phí. Tôi cũng luôn ưu tiên thực phẩm theo mùa vì chúng không chỉ tươi ngon mà còn rẻ nhất. Những bữa cơm nhà với đậu phụ, trứng, cá nhỏ kho hay rau muống luộc xuất hiện thường xuyên hơn là những món xa xỉ. Chúng tôi gần như nói "không" với việc đi cà phê hay ăn hàng quán bên ngoài trừ những dịp thực sự quan trọng (mỗi năm vài lần).
>> Tôi 'sợ' nghỉ hưu sớm dù có nhà, đất và 2,7 tỷ đồng tiết kiệm
Bên cạnh tiền ăn, các khoản chi khác cũng được tôi chia nhỏ và kiểm soát chặt chẽ. Chúng tôi thuê một căn hộ nhỏ với giá 4,5 triệu đồng. Tiền điện, nước, xăng xe và các chi phí phát sinh được gói gọn trong số tiền còn lại. Mỗi cuối ngày, tôi đều dành 5 phút để ghi chép lại mọi khoản chi dù là 2.000 đồng gửi xe. Việc nhìn thấy những con số cụ thể giúp chúng tôi biết mình đang ở đâu để kịp thời điều chỉnh cho ngày hôm sau, tránh tình trạng "vung tay quá trán".
Có người hỏi tôi: "Kiếm được 40 triệu mà sống khổ thế để làm gì?". Tôi chỉ cười. Chúng tôi không nghĩ mình sống khổ, mà là sống có mục đích. Khoản tiết kiệm gần 30 triệu mỗi tháng là tấm lá chắn an toàn cho gia đình tôi trước những rủi ro như ốm đau, bệnh tật, công việc gặp biến cố. Và quan trọng nhất, đó là viên gạch để chúng tôi xây dựng ước mơ về một ngôi nhà của riêng mình tại Thủ đô.
Sống ở Hà Nội đắt đỏ là sự thật, nhưng nếu biết cách thích nghi và giữ vững kỷ luật tài chính, tôi tin cuộc sống ổn định không phải là điều quá xa vời. Với tôi, sự an tâm khi nhìn vào sổ tiết kiệm mỗi tháng còn giá trị hơn nhiều so với những bữa tiệc tùng xa hoa chớp nhoáng. Mọi sự đánh đổi lúc này đều xứng đáng cho một tương lai bền vững hơn.
Mai Hoa TurinĐồng nghiệp Gen Z ăn trưa ổ bánh mì 15 K kèm ly trà sữa 70 K
Tôi năm nay 36 tuổi, làm việc văn phòng ở Hà Nội. Vợ chồng tôi tích góp gần 10 năm qua, cộng thêm chút tiền hai bên gia đình hỗ trợ, hiện có khoảng 3 tỷ đồng trong tay. Với nhiều người, đó là một khoản không nhỏ, nhưng với chúng tôi số tiền ấy lại rơi vào trạng thái rất lưng chừng: không nghèo, nhưng cũng chẳng đủ để mua một căn nhà ưng ý.
Bạn bè tôi ai cũng nói: "Cố thêm tí nữa, vay thêm mà mua nhà, không mua bây giờ vài năm nữa giá lại tăng". Tôi nghe riết thành quen. Dường như ở thành phố này, thuê nhà bị xem như một trạng thái tạm bợ, còn sở hữu nhà mới là dấu mốc của sự ổn định và trưởng thành.
Tôi cũng từng nghĩ như vậy. Suốt một năm qua, cuối tuần nào vợ chồng tôi cũng đi xem nhà. Từ chung cư trong nội đô đến các khu xa trung tâm hơn. Căn vừa ý thì giá quá cao. Căn vừa tiền thì hoặc quá xa, hoặc chất lượng sống khiến mình chùn bước. Có lần hai vợ chồng tôi bước ra khỏi một căn hộ khoảng 70 m2, giá gần 6 tỷ đồng, vợ tôi thở dài: "Nhà thì đẹp thật, nhưng chắc phải bán cả tuổi trẻ để trả nợ".
Tôi tính, nếu mua một căn nhà khoảng 5-6 tỷ, sau khi bỏ toàn bộ tiền tiết kiệm, chúng tôi vẫn phải vay thêm vài tỷ nữa. Khoản trả góp hàng tháng có thể ngốn quá nửa thu nhập gia đình trong suốt 15-20 năm. Có hôm, tôi nói đùa với vợ: "Nếu vay mua nhà lúc này, chắc từ nay đến lúc con vào đại học, nhà mình sẽ sống bằng niềm tin".
>> Tôi mua được đất ven Sài Gòn bắt đầu từ mỗi tháng tiết kiệm 270.000 đồng
Điều lạ là càng ngày, tôi càng thấy nhiều người thu nhập bình thường nhưng vẫn gánh khoản nợ kéo dài vài chục năm chỉ để đổi lấy một căn nhà. Tôi không chê trách điều đó. Ai cũng có lựa chọn riêng. Nhưng tôi tự hỏi: liệu căn nhà có đang phục vụ cuộc sống của họ, hay hay họ đang đem tương lai ra để phục vụ khoản vay mua nhà?
Thực ra, cuộc sống ở thuê hiện tại của gia đình tôi không tệ như nhiều người nghĩ. Chúng tôi đang thuê một căn hộ vừa phải, gần trường con, gần chỗ làm, chi phí nằm trong khả năng chi trả nên vẫn còn tiền để tiết kiệm, đi du lịch ngắn ngày, đưa bố mẹ đi khám bệnh, hay đơn giản là thỉnh thoảng cho con đi ăn ngoài mà không phải cân đo quá nhiều.
Ít nhất, tôi không phải thức dậy mỗi sáng với áp lực trả nợ ngân hàng kéo dài hàng chục năm; không phải lo lãi suất tăng; không phải tự biến bản thân thành cỗ máy kiếm tiền chỉ để giữ một căn nhà đứng tên mình, rồi khiến cuộc sống gia đình bị bóp nghẹt bởi nợ nần.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.