Chiều 6/7, sau thời gian nghị án, Tòa án Quân sự Trung ương tiếp tục phiên tòa phúc thẩm với phần tuyên án với các bị cáo liên quan đến sai phạm tại dự án sân bay Nha Trang (cũ, tỉnh Khánh Hòa), liên quan đến Tập đoàn Phúc Sơn và một số cựu cán bộ thuộc Bộ Quốc phòng, UBND tỉnh Khánh Hòa.
Trong vụ án, có 5 bị cáo kháng cáo, gồm: Nguyễn Văn Hậu – cựu Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sơn; Nguyễn Thị Hằng – Phó tổng giám đốc Tập đoàn Phúc Sơn (chị gái Hậu); Hoàng Viết Quang – cựu Thiếu tướng, cựu Phó cục trưởng Cục Tác chiến – Bộ Quốc phòng; Nguyễn Duy Cường – cựu Thiếu tướng, cựu Hiệu trưởng Trường Sĩ quan không quân; Trần Hữu Định – Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Á (bạn thân của Hậu).
Mở đầu phần làm việc, HĐXX cho biết, trong 3 ngày nghỉ nghị án vừa qua, bị cáo Hậu đã đạt được thỏa thuận trên với 61 bị hại, là những người mua đất tại dự án. Theo đó, trong các ngày 4 – 6/7, thỏa thuận đền bù 793 tỷ đồng với 61 người mua đất dự án sai phạm ở sân bay Nha Trang.
Do đó, VKS đề nghị ghi nhận số tiền này để khấu trừ vào nghĩa vụ bồi thường của Hậu. Do phát sinh tình tiết mới, tòa tiếp tục kéo dài thời gian nghị án đến 17h cùng ngày.
Chiều muộn cùng ngày, sau nghị án, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, HĐXX tuyên Nguyễn Văn Hậu – cựu Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sơn mức án 11 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (y án sơ thẩm 11 năm tù).
Trước đó, tại vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu của Tập đoàn Phúc Sơn, Hậu “Pháo” bị tuyên mức án 30 năm về loạt các tội Đưa hối lộ, Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng. Tổng hợp 2 bản án, Hậu chịu 30 năm tù.
Cùng tội danh, Nguyễn Thị Hằng bị tuyên 5 năm 6 tháng tù và Trần Hữu Định bị tuyên 6 năm 6 tháng tù. Trước đó, hai người bị tuyên lần lượt 7 năm 6 tháng và 8 năm 6 tháng.
Hai cựu Thiếu tướng Hoàng Viết Quang và Nguyễn Duy Cường bị tuyên 2 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm các quy định về quản lý đất đai (án sơ thẩm 2 năm 6 tháng tù).
Tại phần xét hỏi, Nguyễn Văn Hậu thừa nhận bản án sơ thẩm xác định đúng người, đúng tội. Về số tiền thiệt hại trong vụ án, bị cáo xác nhận theo bản án sơ thẩm là hơn 7.000 tỷ đồng, trong đó có hơn 1.000 tỷ đồng được để ngoài sổ sách.
Theo lời khai của bị cáo, số tiền này do bị cáo quyết định việc xử lý và chỉ đạo toàn bộ hoạt động ký kết các hợp đồng kinh tế. Cụ thể, sử dụng khoảng 3.786 tỷ đồng để đầu tư vào các dự án mà Tập đoàn Phúc Sơn đã ký với khách hàng.
Số tiền còn lại khoảng 3.250 tỷ đồng được bị cáo sử dụng để đầu tư vào một số dự án khác của Tập đoàn Phúc Sơn do một số dự án chưa được bàn giao cho nhà đầu tư thi công. Về hậu quả vụ án, bị cáo Hậu cho biết những người bị ảnh hưởng lên tới hàng trăm khách hàng.
Hậu cho biết, trước đây dự kiến cần 9 tháng để khắc phục hậu quả nhưng hiện có thể hoàn tất việc bồi thường cho hàng trăm bị hại trong vòng 3 tháng nhờ sự hỗ trợ của bạn bè, đối tác.
Bị cáo khẳng định sẽ thanh lý các dự án để bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, đồng thời cho biết nhiều tài sản đang bị phong tỏa do liên quan vụ án khác khiến việc xử lý gặp khó khăn. Hậu cũng cho rằng bản thân không hưởng lợi từ các dự án và mong các nhà đầu tư tiếp tục đồng hành để giải quyết quyền lợi.
Tại tòa hàng trăm người mua đất dự án bày tỏ không đồng ý nhận tiền bồi thường mà đề nghị tiếp tục thực hiện các hợp đồng đã ký để được nhận đất nếu dự án được tháo gỡ.
Họ cho rằng sau nhiều năm chờ đợi, số tiền đã góp vốn không còn giữ nguyên giá trị, nên nếu dự án không thể triển khai thì cần bồi thường theo giá thị trường hiện nay, kèm lãi suất do doanh nghiệp chiếm dụng vốn.
Nhiều người không đồng tình với việc cấp sơ thẩm xác định họ là bị hại, cho rằng mình chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bên thứ ba ngay tình vì không bị lừa dối khi ký hợp đồng. Theo họ, số tiền góp vốn đã được Công ty Phúc Sơn sử dụng để triển khai dự án chứ không bị chiếm đoạt.
Các bị hại đồng thời đề nghị làm rõ dòng tiền hơn 7.000 tỷ đồng, xem xét kê biên tài sản của dự án để bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư. Một số ý kiến cho rằng chủ thể phải bồi thường là Công ty Phúc Sơn, không phải cá nhân Nguyễn Văn Hậu.
Đáng chú ý, đại diện nhiều bị hại và luật sư bảo vệ quyền lợi tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét tăng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn Hậu, cho rằng mức án 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà cấp sơ thẩm tuyên chưa tương xứng với tính chất, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng của vụ án liên quan hơn 7.000 tỷ đồng và hàng nghìn nhà đầu tư.
Một số bị hại còn đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xem xét lại tội danh đối với Nguyễn Văn Hậu theo hướng “Tham ô tài sản” thay vì “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời làm rõ thêm dấu hiệu vi phạm về kế toán, trốn thuế và việc sử dụng dòng tiền của doanh nghiệp.
Tuy nhiên,Viện kiểm sát (VKS) cho rằng đề nghị tăng hình phạt đối với Hậu “Pháo” là không có căn cứ. Theo VKS, dù thấu hiểu bức xúc của các bị hại nhưng việc quyết định hình phạt phải căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ. Từ giai đoạn sơ thẩm đến nay, Hậu luôn thừa nhận hành vi, không chối tội và tích cực khắc phục hậu quả.
Đáng chú ý, ngày 25/6, Hậu cam kết dùng 2.148 bất động sản cùng hơn 46 tỷ đồng còn lại sau khi thực hiện nghĩa vụ ở các bản án khác để bồi thường cho người mua đất.
Ngày 15/5, TAND Khu vực 5 chưa tuyên án như dự kiến trong vụ ly hôn, yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật và tranh chấp tài sản giữa nam bác sĩ 54 tuổi - chủ chuỗi nha khoa thẩm mỹ - với vợ là bà Ngọc Anh, 48 tuổi.
HĐXX quyết định quay lại phần xét hỏi.
Theo chủ tọa, sau phiên xử ngày 12/5, tòa nhận thêm khiếu nại từ cả hai phía. Luật sư của bà Ngọc Anh đề nghị HĐXX giải quyết vụ án khách quan, đúng quy định pháp luật và yêu cầu công bố thêm một số tài liệu liên quan hồ sơ đăng ký kết hôn.
Trong khi đó, phía người chồng tiếp tục gửi đơn đến TAND TP HCM, cho rằng vụ án kéo dài nhiều năm nên đề nghị tách phần yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật ra giải quyết trước, còn tranh chấp tài sản xử lý sau.
Tại phiên xử hôm nay, đại diện ủy quyền của bà Ngọc Anh tiếp tục đề nghị tòa công bố công văn phúc đáp của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bình Định liên quan việc cấp CMND cho chồng hồi năm 1991 và 2003.
Theo phía bị đơn, luật sư chưa được tiếp cận tài liệu này trong hồ sơ để sao chụp. Tuy nhiên, HĐXX cho rằng những tài liệu đã được xác định là chứng cứ trong vụ án, đều đã công khai trước đó nên không công bố lại.
Nêu quan điểm, đại diện VKS cho biết cả nguyên đơn lẫn bị đơn đều đang có đơn khiếu nại gửi lãnh đạo TAND Khu vực 5 và TAND TP HCM. Vì vậy, để đảm bảo đúng trình tự tố tụng, VKS đề nghị tạm dừng phiên xử để giải quyết các khiếu nại liên quan.
Sau khi hội ý, HĐXX quyết định dừng phiên tòa, thời gian mở lại sẽ được thông báo sau.
Yêu cầu khởi kiện, phản tố của các bên
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nam bác sĩ yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật. Ông cho rằng trước đây đồng ý kết hôn vì tin vợ mang thai con mình, nhưng sau này phát hiện đứa trẻ không cùng huyết thống. Người chồng cũng nói hồ sơ đăng ký kết hôn có nhiều sai sót như thiếu giấy tờ tùy thân, thiếu lời khai và chữ ký trong sổ bộ không phải của ông.
Ông không đồng ý chia tài sản chung vì cho rằng quan hệ hôn nhân không hợp pháp, song chấp nhận chia cho vợ 20% giá trị tài sản để "được yên ổn".
Trong khi đó, bà Ngọc Anh phản đối yêu cầu hủy hôn nhân, khẳng định việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện.
Theo trình bày của bà, hai người quen và yêu nhau từ thời sinh viên nhưng gia đình không đồng ý. Trong thời gian chia tay, bà mang thai với người khác. Bà cho biết khi biết mình mang thai 6 tháng nhưng chưa kết hôn với cha đứa bé, ông Trung đã xin gia đình cho cưới và hứa yêu thương hai mẹ con. Sau đó, cả hai đi học giáo lý hôn nhân rồi tổ chức đám cưới vào tháng 10/2001.
Người chồng cũng đồng ý cho con gái bà mang họ mình để làm giấy khai sinh. Hai người chung sống hơn 20 năm và cùng gây dựng khối tài sản được cho trị giá hơn 1.200 tỷ đồng. Bà Ngọc Anh yêu cầu chia đôi tài sản gồm nhiều bất động sản, tiền gửi ngân hàng và chuỗi nha khoa với 38 cơ sở.
Quan điểm bảo vệ quyền lợi của các bên
Phía người chồng cho rằng thủ tục đăng ký kết hôn không đúng quy định vì thời điểm đăng ký, hai bên không có giấy chứng minh nhân dân và cũng không cùng có mặt. Ông nói hồ sơ lưu thiếu nhiều giấy tờ, đồng thời kết quả giám định xác định chữ ký trong sổ bộ đăng ký kết hôn không phải của mình.
Luật sư của nguyên đơn đề nghị tách phần yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật ra giải quyết riêng, còn tranh chấp tài sản sẽ xử lý sau.
Người chồng cũng cho rằng nha khoa là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chỉ người có chuyên môn mới có thể trực tiếp vận hành. Vì vậy, nếu yêu cầu chia tài sản, phía bị đơn phải chứng minh có đóng góp về tài chính.
Trong khi đó, bà Ngọc Anh khẳng định hai người kết hôn hợp pháp, cùng đến phường ký giấy đăng ký kết hôn. Việc này đã được cán bộ tư pháp xác nhận và lập vi bằng gửi tòa. Theo bà, hai bên tổ chức cưới công khai và sử dụng giấy đăng ký kết hôn suốt nhiều năm để thực hiện các giao dịch dân sự. Nếu hồ sơ có sai sót thì trách nhiệm thuộc cán bộ tư pháp thời điểm đó.
Phía bị đơn cho rằng khối tài sản hiện nay được hình thành trong hơn 20 năm chung sống, khi cả hai gần như "tay trắng". Bà khai từng cùng chồng xây dựng hệ thống nha khoa, phụ trách marketing, vận hành và viết phần mềm quản lý nội bộ cho nhân viên sử dụng. Từ năm 2010, bà nghỉ việc ở công ty nước ngoài để tập trung hỗ trợ chồng quản lý chuỗi nha khoa, song toàn bộ doanh thu và tài sản đều do chồng đứng tên, quản lý.
Các luật sư bảo vệ bà Ngọc Anh cho rằng việc đứa trẻ không cùng huyết thống không làm thay đổi bản chất quan hệ hôn nhân đã tồn tại thực tế hơn 20 năm.
Ngày 16/5, Oanh, Dương Thị Yến Xuân (56 tuổi) và Thạch Hiểu (47 tuổi) bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP HCM khởi tố, tạm giam về hành vi Tổ chức sản xuất, buôn bán hàng giả.
Động thái này của cơ quan điều tra đưa ra trong bối cảnh toàn lực lượng đang thực hiện cao điểm 45 ngày đêm chuyển hóa địa bàn theo chỉ đạo của Giám đốc Công an TP HCM.
Trước đó, trong quá trình tuần tra kiểm soát tại khu vực đường Cầu Kinh, phường Tân Tạo (quận Bình Tân cũ), cảnh sát kinh tế phát hiện Thạch Hiểu đang vận chuyển nhiều thùng carton mang nhãn hiệu Ajinomoto có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra.
Lực lượng chức năng phát hiện toàn bộ số hàng hóa không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Thạch Hiểu thừa nhận đây là hàng giả, xâm phạm sở hữu trí tuệ nên tổ công tác đã đưa về trụ sở để làm việc.
Quá trình khám xét, lực lượng chức năng thu giữ 305 gói bột ngọt giả thành phẩm nhãn hiệu Ajinomoto, hơn 23.000 bao bì giả các loại, khoảng 70 kg bột ngọt nguyên liệu cùng nhiều tang vật, phương tiện phục vụ hoạt động sản xuất như cân điện tử, máy ép nhiệt, dụng cụ sang chiết, đóng gói và các tài liệu liên quan...
Cơ quan điều tra xác định, Oanh là người chủ mưu, tổ chức mua bán bao bì giả nhãn hiệu Ajinomoto để cung cấp cho Thạch Hiểu sử dụng vào việc sản xuất bột ngọt giả. Xuân tham gia với vai trò giúp sức, thực hiện việc cất giấu, giao nhận bao bì và nhận tiền từ hoạt động tiêu thụ hàng giả.
Kết quả điều tra, từ đầu năm đến nay, nhóm này đã thu mua bột ngọt trôi nổi, không rõ nguồn gốc trên thị trường, sau đó sang chiết, đóng gói vào bao bì giả nhãn hiệu Ajinomoto. Từ đây, hơn 4 tấn hàng được đưa ra tiêu thụ tại các cửa hàng, tạp hóa trên địa bàn TP HCM.
Cơ quan điều tra nhận định hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm này không chỉ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng, môi trường kinh doanh và trật tự quản lý kinh tế.
Ngày 14/5, Công an tỉnh Thanh Hóa cho biết đã khởi tố bị can đối với Lê Mạnh Đáng (SN 1990), Lê Văn Lam (SN 1993), Lê Văn Hợi (SN 1983, đều trú tại tỉnh Thanh Hóa), để điều tra về tội Vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.
Trước đó, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Thanh Hóa nhận được tin báo của người dân về cơ sở giết mổ của Lê Văn Lam, đóng trên địa bàn xã Thọ Phú (Thanh Hóa) có hành vi mua, nhốt lợn bệnh để giết mổ bán ra thị trường.
Công an xác định Lê Văn Lam đã mua 17 con lợn từ Lê Văn Đáng.
Làm việc với công an sau đó, Đáng khai mua số lợn này của gia đình Lê Văn Hợi. Thời điểm được mua, đàn lợn có dấu hiệu nhiễm dịch bệnh.
Theo kết quả xét nghiệm của cơ quan chuyên môn các mẫu bệnh phẩm thu từ số lợn nói trên đều dương tính với virus dịch tả lợn Châu Phi.