Tại dự thảo nghị định về hóa đơn điện tử (HĐĐT), chứng từ điện tử đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ không sử dụng HĐĐT.
Điều này đồng nghĩa với việc nếu có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm trở xuống, hộ kinh doanh sẽ không được xuất HĐĐT, dù trước đó đã đầu tư trang thiết bị và xuất HĐĐT theo yêu cầu của cơ quan thuế.
Phản ánh với chúng tôi, một số hộ kinh doanh cho biết đã được cơ quan thuế mời lên để ký cam kết ngừng sử dụng HĐĐT với lý do doanh thu năm 2025 chưa đến 1 tỉ đồng nên năm nay không được sử dụng HĐĐT nữa.
“Năm ngoái các hộ kinh doanh có doanh thu trên 200 triệu đồng đã phải mua phần mềm hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền, chuyển từ thuế khoán qua kê khai và sử dụng hóa đơn từ tháng 6-2025. Đến nay, khi các hộ đã quen dần thì lại yêu cầu ngưng”, một hộ kinh doanh bức xúc.
Trước đó, theo hướng dẫn của cơ quan thuế vào năm 2025, hộ kinh doanh có doanh thu trên 200 triệu đồng/năm thuộc diện sử dụng HĐĐT. Do vậy, nhiều hộ kinh doanh cho biết đã tốn một khoản tiền không nhỏ và thời gian để mua phần mềm khởi tạo từ máy tính tiền, tập huấn… nhưng nay lại yêu cầu ngưng xuất HĐĐT.
Một hộ kinh doanh khác cho biết cơ quan thuế giải thích rằng quý 1 chỉ đạt doanh thu 300 triệu đồng nên chưa được xuất hóa đơn, nhưng điều vô lý là mức doanh thu 500 triệu đồng được áp dụng cho cả năm. “Nếu trung bình thêm 3 quý, doanh thu của chúng tôi sẽ đạt không dưới 500 triệu đồng nhưng cán bộ thuế vẫn không cho sử dụng hóa đơn nữa”, vị này cho biết.
Trong các đợt tập huấn, các cán bộ thuế đều nói việc ước lượng doanh thu năm 2026 bao nhiêu là do các hộ thực hiện, cơ quan thuế không được dùng doanh thu năm 2025 để áp dụng cho năm 2026.
Trong khi đó, một số hộ nộp thuế khoán trong năm 2025, mức thuế ấn định tính ra chưa đến 3 tỉ đồng, buôn bán bình thường và ước doanh thu trong năm 2026 sẽ dưới 3 tỉ đồng – thuộc nhóm 2 – nhưng thuế cơ sở lại yêu cầu phải lên nhóm 3 và giải thích năm sau phải tăng hơn năm trước.
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, cách xử lý giữa các thuế cơ sở có khác nhau. Có cơ quan thuế cho hộ kinh doanh tự xác định, nếu xác định rằng doanh thu cả năm 2026 trên mức 500 triệu đồng, hộ kinh doanh viết cam kết và tiếp tục xuất hóa đơn.
Nếu hộ kinh doanh mới thành lập mà có lên cơ quan thuế làm việc và cam kết doanh thu năm 2026 trên mức 500 triệu đồng, cơ quan thuế này cũng cho sử dụng hóa đơn ngay từ khi hộ kinh doanh bắt đầu khởi sự hoạt động kinh doanh.
Bà Nguyễn Thị H., chủ một cơ sở dạy đàn tại Hà Đông (Hà Nội), cho biết hơn một tuần nay, nhiều phụ huynh có con theo học ở cơ sở đề nghị xuất HĐĐT. Do theo quy định mới, họ sẽ được giảm trừ chi phí học hành của con khi tính thuế thu nhập cá nhân.
Tuy nhiên, khi liên hệ với cơ quan thuế, bà được trả lời rằng cơ sở này không được xuất HĐĐT do có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm. “Với quy định này, hộ kinh doanh nhỏ sẽ gặp bất lợi, mất cơ hội kinh doanh vì khách hàng có thể sẽ chuyển con sang học ở cơ sở được xuất HĐĐT”, bà H. lo ngại.
Chị Khánh, kinh doanh giày trên đường Nơ Trang Long, phường Bình Lợi Trung, TP.HCM, cho hay bên cạnh bán cho khách lẻ, chị còn có một số mối bán sỉ cho một số đơn vị, trường học hằng năm để làm từ thiện. Tuy nhiên, những đơn vị này đòi hỏi phải có hóa đơn để đưa vào chi phí cũng như để minh bạch thu chi.
Trước đây, chị có thể mua hóa đơn lẻ của cơ quan thuế nhưng từ giữa năm 2025 đến nay hộ kinh doanh như chị không còn được mua hóa đơn lẻ và đến nay cũng không thuộc nhóm được xuất hóa đơn. Do vậy chị cũng mất luôn các mối sỉ này.
“Cơ quan thuế nên có phương án cho hộ kinh doanh nhỏ lẻ như tôi chứ nếu không, chúng tôi mãi không lớn lên được”, chị Khánh đề nghị.
Tương tự, bà Nguyễn Hồng Đào (Cần Thơ) phản ánh một số khách hàng là cơ quan nhà nước cần hóa đơn để thanh quyết toán. Nếu không được xuất HĐĐT, hộ kinh doanh gặp khó khăn trong kinh doanh do không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Trong khi đó, hộ kinh doanh Nguyễn Thị Hồng (Ninh Bình) có doanh thu trên 3 tỉ đồng/năm, ngành nghề thu mua phế liệu đặt câu hỏi: Làm thế nào để trừ chi phí đầu vào khi mua hàng của cá nhân, cửa hàng nhỏ lẻ nằm trong diện không được xuất HĐĐT?
Không chỉ người bán, người mua cũng bị ảnh hưởng. Chị Thành, kế toán tại doanh nghiệp sản xuất thép (Hải Phòng), cho biết từ đầu năm đến nay phải đổi một số cơ sở cung cấp văn phòng phẩm, hoa tươi… do các cơ sở này nằm trong diện không được xuất HĐĐT.
“Trước đây các đơn vị này vẫn xuất HĐĐT từng lần nhưng nay chỉ có thể cung cấp bảng kê mà thôi. Với bảng kê, doanh nghiệp không thể hạch toán chi phí”, chị Thành nói.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH kế toán thuế Keytas, cho biết chủ trương nhất quán lâu nay là khuyến khích kinh doanh minh bạch, đặc biệt với nhóm hộ kinh doanh chuyển sang áp dụng thuế kê khai từ năm nay.
“Việc sử dụng HĐĐT không chỉ bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nếu phát sinh tranh chấp, mà còn giúp người mua có căn cứ khấu trừ chi phí khi quyết toán thuế”, ông Tuấn nói và cho rằng việc xuất HĐĐT cũng giúp người bán minh bạch doanh thu, có cơ hội tiếp cận khách hàng, nhất là khách hàng doanh nghiệp.
Trong trường hợp không có HĐĐT, người mua có thể lập bảng kê thay thế khi hạch toán chi phí. Tuy nhiên, cách làm này vừa tốn thời gian, thiếu độ tin cậy, khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải lựa chọn nhà cung cấp có thể xuất HĐĐT.
Ngược lại, HĐĐT sẽ giúp cơ quan thuế theo dõi doanh thu, chi phí và kiểm soát ngưỡng chịu thuế minh bạch, chính xác hơn.
Trong khi đó, bảng kê hoặc sổ theo dõi doanh thu chủ yếu dựa trên tự khai của hộ kinh doanh, nên khó kiểm soát. Như vậy, việc thay thế bằng bảng kê có thể làm tăng chi phí do phát sinh thêm thủ tục giấy tờ, thời gian lập và lưu trữ, tính minh bạch lại thấp hơn.
“Do vậy, thay vì cấm hoặc bắt buộc, chính sách nên cho phép hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được quyền lựa chọn sử dụng HĐĐT, kể cả khi doanh thu dưới ngưỡng 500 triệu đồng/năm.
Điều này phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, góp phần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch và thuận lợi hơn cho người dân”, ông Tuấn đề xuất.
Một chuyên gia lâu năm trong lĩnh vực thuế cũng cho rằng việc áp dụng quy định mới này sẽ gây nhiều khó khăn cho hộ kinh doanh có doanh thu dưới 500 triệu đồng. Do vậy, cơ quan thuế nên cho phép những hộ kinh doanh này được sử dụng HĐĐT đến hết năm nay.
“Nếu đến hết năm mà doanh thu không đủ 500 triệu đồng mới tính đến chuyện cho hay không cho xuất hóa đơn”, vị này gợi ý.
Bộ Công Thương đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư về cơ chế chi tạm ứng Quỹ bình ổn giá xăng dầu từ ngân sách trung ương. Theo dự thảo, Bộ sẽ tiếp nhận nguồn tạm ứng từ ngân sách, phân bổ cho Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước quản lý, theo dõi, kiểm tra. Quỹ sẽ được tạm ứng cho các thương nhân đầu mối để điều hành giá.
Về quy trình lần đầu, dựa kịch bản điều hành giá, doanh nghiệp đầu mối gửi đề nghị tạm ứng theo sản lượng tiêu thụ dự kiến 7 ngày (x) mức chi quỹ cho diesel là 5.000 đồng, các mặt hàng khác 4.000 đồng một lít.
Trước mỗi kỳ điều hành tiếp theo, doanh nghiệp báo cáo việc sử dụng, số dư và nhu cầu tạm ứng từ quỹ.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước sẽ trình Bộ Công Thương duyệt và chuyển tiền vào tài khoản của doanh nghiệp đầu mối dùng riêng cho chi, trích lập và hoàn trả ngân sách.
Trường hợp nguồn tạm ứng không đủ cho chu kỳ điều hành 7 ngày, Cục đánh giá, đề xuất liên Bộ Công Thương - Tài chính trình cấp có thẩm quyền bổ sung dự toán ngân sách để tiếp tục tạm ứng.
Sau quá trình bình ổn, doanh nghiệp xác định số tiền đã chi theo sản lượng tiêu thụ, hoàn thiện hồ sơ để rút tiền từ tài khoản phong tỏa. Lãi phát sinh được cộng vào quỹ.
Với trường hợp trích lập quỹ, trong 5 ngày sau mỗi kỳ điều hành, thương nhân xác định và chuyển toàn bộ tiền vào tài khoản phong tỏa. Số trích lập = mức trích (x) sản lượng tiêu thụ thực tế.
Khi quy mô quỹ đạt 8.000 tỷ đồng trở lên, Bộ Công Thương yêu cầu thương nhân đầu mối kiểm toán độc lập để xác định số chi, trích lập làm cơ sở quyết toán, hoàn trả ngân sách trong 3 tháng. Tiếp đó, thương nhân phải nộp số dư quỹ vào tài khoản trong vòng 5 ngày để cơ quan quản lý hoàn trả ngân sách và quyết toán.
Nếu sau 12 tháng từ khi trích lập, quỹ chưa đủ để hoàn trả, Bộ Công Thương báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét.
Trước đó, theo quyết định của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chính phủ bổ sung 8.000 tỷ đồng cho Bộ Công Thương từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương 2025 để tạm ứng cho Quỹ bình ổn giá xăng dầu.
Các giải pháp này được đưa ra trong bối cảnh xung đột ở Trung Đông tiếp tục căng thẳng, khiến thị trường năng lượng trong nước biến động mạnh. Từ cuối tháng 2 đến nay, giá bán lẻ xăng dầu trong nước có 11 kỳ điều hành, hiện mỗi lít xăng RON 95-III là 24.330 đồng, dầu diesel 35.440 đồng. Trước đó, có thời điểm giá hai loại nhiên liệu này lên lần lượt gần 34.000 đồng và 40.000 đồng một lít.
Để ổn định thị trường, nhà điều hành đã sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu 9 lần với mức chi gần 5.300 tỷ đồng. Hiện quỹ này còn khoảng 320 tỷ. Ngoài công cụ quỹ bình ổn, Chính phủ cũng giảm tối đa các loại thuế (bảo vệ môi trường, VAT, tiêu thụ đặc biệt) nhằm giảm áp lực tăng giá nhiên liệu.
Sau khi chinh phục các siêu đô thị giàu có, làn sóng xe điện tại Trung Quốc đang âm thầm tiến về những khu vực nội địa kém phát triển hơn. Nơi đây được xem là “mặt trận cuối” để định đoạt số phận của xe động cơ đốt trong tại thị trường ô tô lớn nhất thế giới.
Hiện xe điện đã chiếm khoảng một nửa doanh số ô tô toàn quốc, thậm chí vượt mặt xe xăng tại nhiều đô thị cấp một và cấp hai như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu hay Thâm Quyến. Tuy nhiên, tại các thành phố khác - chiếm tới 80% khu vực đô thị - tỷ lệ này vẫn dưới 40%, cho thấy dư địa tăng trưởng còn rất lớn.
Theo giới phân tích, chính khu vực này sẽ trở thành động lực cho “làn sóng điện hóa” tiếp theo. Khi xe điện dần phổ cập xuống các thị trường đại chúng, áp lực sẽ gia tăng mạnh mẽ lên các hãng xe truyền thống - những doanh nghiệp vẫn phụ thuộc phần lớn vào xe xăng và chưa chuyển mình đủ nhanh.
Dù các tên tuổi như Volkswagen, Toyota, Honda, BMW hay General Motors vẫn nằm trong nhóm bán chạy nhất, họ chủ yếu dựa vào xe động cơ đốt trong, trong khi thị phần xe điện còn khá mờ nhạt.
Dự báo cho thấy, thị trường xe điện tại các thành phố cấp thấp có thể đạt “điểm bùng phát” và chiếm khoảng 50% doanh số vào cuối năm 2027. Nếu kịch bản này xảy ra, lượng xe xăng dư thừa có thể bị đẩy mạnh ra thị trường quốc tế.
Sự thay đổi cũng diễn ra ở tâm lý tiêu dùng. Nếu trước đây người Trung Quốc chuộng xe ngoại như biểu tượng địa vị, thì nay xe điện lại gắn liền với niềm tự hào công nghệ nội địa, một lợi thế lớn cho các thương hiệu trong nước.
Tham vọng điện hóa của Trung Quốc không chỉ đến từ nhu cầu thị trường mà còn được hậu thuẫn bởi chính sách. Chính phủ nước này đang tăng tốc mở rộng hạ tầng sạc, hướng tới hàng chục triệu điểm sạc công cộng, đặc biệt tại nông thôn, trạm dừng cao tốc và bãi đỗ xe công cộng. Giới quan sát cho rằng đây là yếu tố then chốt để xóa bỏ rào cản lớn nhất với người dùng ở khu vực ngoài đô thị lớn.
Song song, các hãng nội địa như BYD và Geely liên tục tung ra các mẫu xe giá cạnh tranh giúp thu hẹp khoảng cách chi phí. Trong khi đó, những "ông lớn" công nghệ pin như CATL đang đẩy giới hạn kỹ thuật lên cao hơn, với các dòng pin có thể cho phạm vi hoạt động tới 1.500km mỗi lần sạc.
Dữ liệu thị trường cho thấy bước ngoặt đã đến rất gần. Năm ngoái, Trung Quốc tiêu thụ 27,8 triệu xe, trong đó xe điện và xe xăng ngang bằng nhau. Trong khi 5 năm trước đó, xe xăng vẫn áp đảo tuyệt đối.
Tuy nhiên, con đường “xóa sổ” xe xăng không hoàn toàn bằng phẳng. Cạnh tranh khốc liệt, chiến tranh giá và lợi nhuận suy giảm đang bào mòn toàn ngành. Đồng thời, một số hãng xe vẫn do dự trong việc từ bỏ xe xăng, đặc biệt khi họ đã đầu tư lớn vào hệ thống sản xuất hiện tại.
Ngay cả Volkswagen cũng thừa nhận kỷ nguyên xe xăng có thể kéo dài lâu hơn dự đoán, nhất là tại các thành phố nhỏ, nơi hạ tầng và thu nhập vẫn là rào cản.
Dù vậy, xu hướng dài hạn dường như đã được định hình. Các chuyên gia cho rằng khi công nghệ pin cải thiện, giá thành giảm và hạ tầng hoàn thiện, xe điện đang tiến từng bước vững chắc từ đô thị giàu có ra toàn bộ thị trường đại chúng.
Ngày 5-5, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết giá trị xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2026 đạt gần 3,6 tỉ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất (tăng 52%) và giảm duy nhất ở thị trường Mỹ (giảm 7%).
Điều này khiến Mỹ rơi xuống vị trí thứ ba (13% thị phần), còn Nhật vươn lên thứ hai (gần 14% thị phần), trong khi Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí dẫn đầu với gần 27% thị phần.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kết quả xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 3,6 tỉ USD cho thấy ngành thủy sản có khởi đầu tích cực, nhất là ở các nhóm hàng tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.
Tuy nhiên tăng trưởng chưa đồng đều giữa các sản phẩm và thị trường. Một số thị trường lớn như Mỹ, EU phục hồi chậm, trong khi Trung Quốc và Hong Kong tăng mạnh nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
"Nhìn chung xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm nay tích cực nhưng chưa thật sự bền vững. Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, đặc biệt là từ tháng 4, do tác động của chi phí logistics, cạnh tranh giá, rào cản kỹ thuật, chính sách thuế và các yêu cầu mới về chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm" - VASEP đánh giá.
Phân tích về các thị trường trong 4 tháng đầu năm, VASEP cho biết Trung Quốc và Hong Kong là điểm sáng lớn nhất với doanh số hơn 1 tỉ USD, tăng 52%, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của toàn ngành.
Trung Quốc và Hong Kong đang tăng nhập tôm hùm, cá tra, cua, sò, nghêu, ốc hương… từ nước ta, song thị trường 1,4 tỉ dân này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc, đăng ký doanh nghiệp và mã số vùng nuôi.
Do đó tăng trưởng tại thị trường này cần được củng cố bằng phương thức xuất khẩu chuyên nghiệp, chính ngạch và bền vững hơn.
Đối với thị trường Mỹ, VASEP cho biết nguyên nhân sụt giảm chủ yếu được các doanh nghiệp nhận định do tác động của việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp đối với tôm, cấm nhập 12 nhóm loài thủy sản Việt (Đạo luật Bảo vệ thú biển) và yêu cầu cấp giấy COA cho những loài có thể xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm nay.
Cùng với đó, Mỹ đang siết truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm, chính sách thuế quan và tâm lý mua hàng thận trọng trong bối cảnh thị trường biến động.
VASEP đánh giá thị trường Mỹ vẫn còn nhiều dư địa, nhưng cũng là thị trường rủi ro chính sách cao, đòi hỏi sự phối hợp, hỗ trợ thường xuyên giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, luật sư và doanh nghiệp để xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại, chương trình tương đương và yêu cầu kỹ thuật mới.
Trong khi đó, Nhật Bản tiếp tục là thị trường ổn định đối với tôm chế biến giá trị gia tăng, mực, bạch tuộc, cá biển, nhuyễn thể và sản phẩm tiện lợi. Còn Hàn Quốc là thị trường quan trọng của mực, bạch tuộc, chả cá, surimi và tôm.
Đối với thị trường châu Âu (EU), VASEP nhận định dù có nhiều lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU nhưng xuất khẩu chưa có sự bứt phá, chỉ tăng khoảng 3% và thu về khoảng 452 triệu USD trong 4 tháng.
Trên cơ sở kết quả 4 tháng đầu năm, năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và diễn biến thị trường quốc tế, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt kim ngạch trên 12 tỉ USD, tăng trưởng khoảng 8-10%.
Kịch bản này có thể đạt được nếu Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục tăng nhập. Cùng với đó, mặt hàng cá tra giữ được lợi thế ở các thị trường, còn tôm cải thiện khả năng cạnh tranh về giá thành và sản phẩm chế biến.
Các nhóm hải sản khai thác biển được tháo gỡ bất cập, vướng mắc về IUU, giấy COA, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất, và chi phí logistics không tăng đột biến.
"Ngược lại, nếu các vướng mắc về thủ tục, chứng nhận, nguyên liệu, chi phí tuân thủ, phòng vệ thương mại và logistics kéo dài, tăng trưởng xuất khẩu có thể chậm lại trong nửa cuối năm, nhất là ở các nhóm tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và hải sản khai thác" - VASEP nhận định.