Chiều nay 17.7, UBND TP.Đà Nẵng tổ chức Hội nghị triển khai chính sách hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) nâng cao năng suất, góp phần tăng trưởng kinh tế hai con số.
Theo UBND TP.Đà Nẵng, hiện thành phố có hơn 61.100 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó trên 97% là doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương nhưng cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn về nguồn lực, công nghệ và năng lực quản trị.
Thành phố kỳ vọng việc triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ sẽ giúp doanh nghiệp đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng Hồ Quang Bửu cho biết, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ trên 80% DNNVV tiếp cận các giải pháp số; đồng thời đưa kinh tế số đóng góp khoảng 35 – 40% GRDP.
Đà Nẵng cũng đang triển khai đồng bộ 14 chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số và chuyển đổi số, từ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn đến hỗ trợ đổi mới công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp.
Tại hội nghị, bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó giám đốc Sở KH-CN TP.Đà Nẵng, đã báo cáo kết quả triển khai Đề án chuyển đổi số DNNVV giai đoạn 2026 – 2030; đồng thời công bố các chính sách hỗ trợ chung, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận các gói hỗ trợ và giới thiệu kênh hỗ trợ doanh nghiệp thông qua Tổng đài 1022 và Cổng Góp ý Đà Nẵng.
Theo bà Phạm Thị Ngọc Quyên, đến nay đã có hơn 26 doanh nghiệp công nghệ số đăng ký đồng hành cùng thành phố, trong đó có nhiều đơn vị lớn như: Viettel, VNPT, MobiFone, MISA, Sapo, Dx82… triển khai các chương trình hỗ trợ DNNVV và hộ kinh doanh thông qua các nền tảng số, chữ ký số, hóa đơn điện tử và tư vấn chuyển đổi số.
Các doanh nghiệp công nghệ công bố nhiều gói hỗ trợ như miễn phí phần mềm bán hàng, phần mềm kế toán, khai thuế; miễn phí chữ ký số, hóa đơn điện tử; hỗ trợ các nền tảng quản trị doanh nghiệp; tư vấn tái thiết kế quy trình trước khi áp dụng phần mềm nhằm giúp doanh nghiệp tránh tình trạng “số hóa cái sai”; đồng thời cung cấp các gói trải nghiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), chatbot, voicebot và các nền tảng số dành cho lĩnh vực du lịch, lưu trú và dịch vụ.
Theo Sở KH-CN, những gói hỗ trợ này được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu, từng bước hình thành thói quen ứng dụng công nghệ trong quản trị, điều hành và sản xuất, kinh doanh. Không chỉ giới thiệu chính sách hỗ trợ, hội nghị còn là diễn đàn để các doanh nghiệp công nghệ chia sẻ những giải pháp chuyển đổi số đã được kiểm chứng trong thực tiễn.
Đại diện VNPT Đà Nẵng, Viettel Đà Nẵng và Công ty CP MISA đã trình bày các giải pháp ứng dụng AI, xây dựng doanh nghiệp số và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, đại diện Công ty CP Xây dựng Gốm sứ Việt Hương chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ số để nâng cao năng suất, hiệu quả hoạt động, tạo thêm động lực để cộng đồng DNNVV mạnh dạn chuyển đổi số.
Trong khuôn khổ hội nghị cũng diễn ra nghi thức cam kết đồng hành của 21 doanh nghiệp công nghệ số, ngân hàng và đơn vị cung cấp giải pháp số với các hội, hiệp hội doanh nghiệp và DNNVV trên địa bàn thành phố, góp phần mở rộng mạng lưới hỗ trợ chuyển đổi số và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Phát biểu kết luận hội nghị, Giám đốc Sở KH-CN TP.Đà Nẵng Nguyễn Thanh Hồng nhấn mạnh, hội nghị không chỉ cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương và thành phố về hỗ trợ chuyển đổi số cho DNNVV mà còn mở đầu cho giai đoạn triển khai quyết liệt, thực chất hơn trong thời gian tới.
Ông Hồng đề nghị cộng đồng doanh nghiệp chủ động tận dụng các chính sách, gói hỗ trợ của thành phố; các hiệp hội phát huy vai trò cầu nối; các doanh nghiệp công nghệ tiếp tục đồng hành cùng DNNVV để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển kinh tế số của Đà Nẵng.
Trong quá trình thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân trên ứng dụng eTax Mobile, một số người nộp thuế phản ánh phát sinh tình huống xuất hiện các tổ chức chi trả thu nhập không đúng thực tế (không có quan hệ lao động, không phát sinh thu nhập).
Đây có thể là sai sót trong quá trình kê khai hoặc hành vi kê khai không đúng quy định.
Khi rơi vào trường hợp trên, Thuế cơ sở 10 tỉnh Thanh Hóa hướng dẫn người nộp thuế xử lý theo 3 bước như dưới đây:
Bước 1, chủ động xác minh thông tin với tổ chức kê khai. Người nộp thuế tra cứu mã số thuế của tổ chức kê khai sai để tìm thông tin liên hệ. Trường hợp xác định được thông tin, đề nghị liên hệ trực tiếp với tổ chức chi trả để yêu cầu điều chỉnh, bổ sung hồ sơ kê khai đúng thực tế.
Bước 2, thực hiện phản hồi trên hệ thống thuế điện tử. Trường hợp không liên hệ được hoặc tổ chức không phối hợp xử lý, người nộp thuế thực hiện phản hồi trên ứng dụng eTax Mobile như sau: lựa chọn mục “Tôi không phát sinh thu nhập tại tổ chức này”, ghi rõ nội dung là “tôi không phát sinh bất kỳ khoản thu nhập nào từ tổ chức nêu trên”, sau đó gửi phản hồi đến cơ quan thuế để được xem xét, xử lý.
Bước 3, gửi đơn đề nghị/đơn phản ánh trực tiếp đến cơ quan thuế quản lý. Trong trường hợp cần xử lý nhanh hoặc việc kê khai sai ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ thuế (phát sinh số thuế phải nộp, chậm quyết toán…), người nộp thuế nên tra cứu cơ quan thuế quản lý của tổ chức kê khai sai theo mã số thuế; gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan thuế.
Hồ sơ bao gồm: đơn đề nghị/đơn phản ánh về việc kê khai sai thu nhập; bản cam kết không phát sinh thu nhập tại tổ chức nêu trên; các tài liệu liên quan (nếu có).
"Người nộp thuế cần thường xuyên kiểm tra dữ liệu quyết toán thuế thu nhập cá nhân, bao gồm cả các năm trước, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các sai sót (nếu có). Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người nộp thuế chủ động gửi hồ sơ trực tiếp đã được cơ quan thuế tiếp nhận, xử lý kịp thời, đảm bảo quyền lợi", Thuế cơ sở 10 tỉnh Thanh Hóa lưu ý.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1169/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm Ủy viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Hằng giữ chức Ủy viên Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2026.
Bà Nguyễn Thị Hằng sinh ngày 23/10/1978; quê quán tỉnh Bắc Ninh. Trình độ: Thạc sĩ Luật học, Cử nhân Luật, Cử nhân Kinh tế, Cử nhân Tài chính Ngân hàng; Lý luận chính trị Cao cấp.
Bà Nguyễn Thị Hằng từng giữ các chức vụ: Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Ninh Bình; Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Ngân hàng Chính sách xã hội Trung ương nhiệm kỳ 2025-2030; Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội.
Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Hoạt động của ngân hàng không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.
Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn ủy thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội.
Ngân hàng Chính sách xã hội là một trong những công cụ đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu - nước mạnh, xã hội công bằng - dân chủ - văn minh.
Thông tin từ UBND tỉnh Quảng Ninh, mục tiêu tăng trưởng GRDP khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đặt ra cho quý II (theo kịch bản tăng trưởng điều chỉnh xây dựng cuối tháng 4) là 5,88%. Các chỉ tiêu sản lượng cụ thể là: Lương thực cây có hạt 96.673 tấn, thịt hơi 24.091 tấn, diện tích rừng trồng mới tập trung 7.563ha, khai thác gỗ rừng trồng 187.000m3, thủy sản 59.380 tấn, trong đó khai thác 23.284 tấn, nuôi trồng 36.316 tấn.
Con số tăng trưởng của quý II được cho là khá cao trong bối cảnh nền tảng kết quả đạt được trước đó, cũng như so với kịch bản tăng trưởng đặt ra ban đầu (3,4%).
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng nói trên, ngành NN&MT tỉnh Quảng Ninh đã có những điều chỉnh trong chỉ đạo và định hướng sản xuất nông nghiệp. Một trong số đó là việc tiếp tục phát huy thế mạnh thủy sản, xác định lấy thủy sản làm nền tảng và động lực, tập trung đẩy mạnh thủy sản nuôi, đồng thời tác động trong các khâu chế biến và thương mại để nâng cao giá trị sản phẩm.
Tính đến hết ngày 24/6, sản lượng thủy sản quý II của tỉnh ước đạt 61.741 tấn, vượt kịch bản tăng trưởng 4%; sản lượng 6 tháng đạt 105.000 tấn, vượt kịch bản tăng trưởng 2,3%, tăng 19.885 tấn, tương đương 23,4% so cùng kỳ.
Mức tăng này cao hơn kỳ vọng đặt ra, đồng thời chủ yếu đến từ nuôi trồng thủy sản, đúng với định hướng phát triển thủy sản tỉnh đề ra. Đáng chú ý, trong kỳ thu hoạch thủy sản nuôi quý II năm nay ghi nhận con tôm nuôi được mùa, được giá và đang có xu hướng phát triển mạnh, bền vững nhờ người nuôi đổi mới công nghệ nuôi, cũng như đầu tư hạ tầng nuôi khoa học, hiện đại.
Trong lĩnh vực sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, trong quý II Quảng Ninh giữ được sự ổn định về diện tích canh tác và hạn chế nhiễm dịch bệnh. Sản lượng lương thực cây có hạt quý II ước đạt 96.828 tấn, 6 tháng ước đạt 101.995 tấn, tăng 108 tấn so cùng kỳ. Tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh tính đến ngày 24/6 đạt khoảng 5.774.255 con, tăng 178.934 con, tương đương 3,2% so cùng kỳ.
Ở lĩnh vực lâm nghiệp, trong 6 tháng qua ghi nhận xu hướng tăng so với kịch bản tăng trưởng, nhưng giảm sâu so với cùng kỳ năm trước cả về diện tích trồng mới rừng và sản lượng khai thác rừng trồng. Tính đến hết ngày 24/6, toàn tỉnh trồng mới được 10.366,96ha rừng, so với kịch bản tăng trưởng vượt 3,8%, tuy nhiên so với cùng kỳ giảm 17.072ha, tương đương 62,2%. Tương tự, về sản lượng khai thác gỗ rừng trồng, so với kịch bản tăng trưởng, kết quả của quý II và 6 tháng đều tăng, cụ thể lần lượt đạt 194.000m3 và 454.000m3, tuy nhiên so với cùng kỳ năm 2025 đã giảm 421.365m3, tương đương 48,1%.