TS Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển trả lời VnExpress về khả năng xuất hiện El Nino cũng như tác động đến Việt Nam.
– Các cơ quan khí tượng quốc tế cảnh báo khả năng xuất hiện “siêu El Nino” trong năm nay. Ông nhìn nhận thế nào về kịch bản này?
Cường độ El Nino được theo dõi bằng chỉ số ONI – trung bình trượt 3 tháng của dị thường nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực Niño 3.4 ở trung tâm xích đạo Thái Bình Dương. Theo phân loại, El Nino được chia thành yếu (0,5-0,9 độ C), trung bình (1-1,4 độ), mạnh (1,5-1,9 độ) và rất mạnh khi từ 2 độ C trở lên. Vì vậy, “siêu El Nino” thực chất là El Nino rất mạnh, với ONI khoảng từ 2 độ C.
Cập nhật từ các trung tâm dự báo lớn như Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ và Trung tâm Dự báo Thời tiết trung hạn châu Âu cho thấy khả năng chuyển sang El Nino trong hè 2026 trên 60% và có thể kéo dài đến cuối năm. Xác suất đạt ngưỡng rất mạnh vào cuối năm khoảng 25%. Tuy nhiên, các mô hình vẫn chưa thống nhất về cường độ cực đại nên cần tiếp tục theo dõi.
Nhìn chung, độ tin cậy đối với xu thế hình thành El Nino là khá cao, khi tín hiệu đại dương rõ rệt và điều kiện khí quyển thuận lợi cho quá trình ấm lên. Tuy nhiên, bất định vẫn lớn về cường độ cực đại do ENSO (dao động tự nhiên giữa đại dương và khí quyển ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương) đang trong giai đoạn “rào cản mùa xuân”, thời kỳ kỹ năng dự báo suy giảm và biên độ dự báo giữa các kịch bản còn rộng.
– Nếu El Nino phát triển mạnh, ông đánh giá thế nào cường độ của nó (có thể so sánh các đợt lịch sử như 1997-1998 hay 2015-2016)?
– Nếu El Nino năm 2026 thực sự phát triển tới ngưỡng rất mạnh thì xét riêng về chỉ số ONI, nó có thể được xếp vào cùng nhóm với các sự kiện El Nino mạnh nhất trong chuỗi quan trắc hiện đại như 1997-1998 và 2015-2016. Tuy nhiên, về mặt khoa học khí hậu cần đặc biệt thận trọng khi so sánh trực tiếp như vậy.
Cùng một giá trị ONI hoặc cùng được xếp vào nhóm rất mạnh không đồng nghĩa với việc các tác động khí hậu sẽ lặp lại theo cùng một cách. Nguyên nhân là tác động của ENSO không chỉ phụ thuộc vào biên độ nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực Niño 3.4, mà còn phụ thuộc vào cấu trúc không gian của dị thường nhiệt độ mặt biển trên toàn vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, thời điểm hiện tượng đạt cực đại, mức độ kết nối giữa tín hiệu đại dương và hoàn lưu khí quyển, cũng như trạng thái đồng thời của các dao động khí hậu khác.
Ngoài ra, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mối quan hệ giữa cường độ ENSO và các cực đoan khí hậu không mang tính tuyến tính đơn giản. Các cực đoan thực tế là kết quả của sự chồng lấn giữa dao động tự nhiên và một nền khí hậu đang nóng lên, với lượng hơi nước lớn hơn và điều kiện nhiệt – ẩm thay đổi. Vì vậy, cùng một mức ONI nhưng tác động đến nắng nóng, hạn hán, mưa lớn hay bão ở từng vùng có thể khác đáng kể giữa các thời kỳ.
Nói cách khác, nếu xét riêng về cường độ thì có thể tiệm cận nhóm lịch sử, nhưng về tác động thì không thể mặc định sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước.
– El Nino tác động đến khí hậu toàn cầu?
– Về bản chất, El Nino làm thay đổi chênh lệch nhiệt độ mặt biển dọc xích đạo Thái Bình Dương, làm suy yếu sự khác biệt giữa phía tây và phía đông. Điều này kéo theo biến đổi đối lưu nhiệt đới và hoàn lưu Walker – hệ thống gió quy mô lớn chi phối vận chuyển không khí và độ ẩm.
Khi hoàn lưu Walker suy yếu hoặc dịch chuyển, các vùng mây đối lưu và mưa lớn thay đổi theo, đồng thời kéo theo sự điều chỉnh của các dòng xiết cận nhiệt và các sóng khí quyển quy mô hành tinh. Đây là cơ chế khiến các hình thái thời tiết bị xáo trộn về vị trí và thời điểm.
Tuy nhiên, tác động của El Nino không đồng nhất giữa các khu vực, do còn phụ thuộc vào cấu trúc vùng nước ấm, thời điểm đạt cực đại và tương tác với các hệ thống khí hậu khác, cũng như yếu tố địa hình và hoàn lưu khu vực.
– Với Việt Nam, El Nino sẽ tác động thế nào đến nắng nóng, lượng mưa, bão và các hiện tượng cực đoan?
– Đối với Việt Nam, El Nino thường liên quan đến xu thế nền nhiệt cao hơn trung bình, bốc thoát hơi mạnh hơn và mưa suy giảm trong một số thời kỳ, qua đó làm tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn, thiếu nước và suy giảm dòng chảy. Tuy nhiên, tác động không đồng đều giữa các vùng.
Tín hiệu thiếu mưa và hạn hán thường rõ hơn ở Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, trong khi miền Bắc thể hiện rõ hơn ở việc nền nhiệt cao hơn và số ngày nắng nóng tăng. Các dự báo hiện nay cũng cho thấy nhiệt độ trung bình có thể cao hơn bình thường khoảng 0,5-1 độ C, nắng nóng có thể nhiều và gay gắt hơn.
Trong các năm El Nino, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, nhưng không đồng nghĩa rủi ro giảm. Vẫn có thể xuất hiện các cơn bão mạnh, tăng cường nhanh hoặc có quỹ đạo phức tạp. Đồng thời, El Nino cũng không loại trừ khả năng xuất hiện các hiện tượng cực đoan như giông mạnh, lốc, sét, mưa đá trong các thời kỳ chuyển mùa.
Nói cách khác, El Nino chủ yếu làm thay đổi nền xác suất khí hậu theo mùa, chứ không quyết định tuyệt đối từng đợt thời tiết cụ thể.
– Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu đang tăng cao, El Nino có thể làm gia tăng mức độ nắng nóng và rủi ro khí hậu ở Việt Nam thế nào?
– El Nino diễn ra trên nền khí hậu toàn cầu đã nóng lên rõ rệt trong nhiều năm gần đây. Nếu phát triển mạnh, hiện tượng này sẽ cộng hưởng với nền nhiệt vốn cao, làm tăng xác suất các đợt nắng nóng mạnh và kéo dài.
Tuy vậy, chưa thể tách bạch một con số cụ thể về mức tăng nhiệt do El Nino, vì cường độ nắng nóng còn phụ thuộc nhiều yếu tố như hoàn lưu khí quyển, áp thấp nóng phía tây, hiệu ứng phơn, độ ẩm và điều kiện nội mùa.
Điều có thể nói chắc hơn là El Nino làm tăng xác suất nền nhiệt cao hơn trung bình, còn biến đổi khí hậu làm nâng nền nhiệt xuất phát. Khi hai yếu tố này cộng hưởng, các đợt nóng có xu hướng gay gắt hơn, kéo dài hơn và tác động lớn hơn.
Nếu El Nino phát triển từ mùa hè và mạnh dần về cuối năm, rủi ro không xuất hiện đồng đều mà tăng theo mùa. Mùa hè và đầu thu 2026, nguy cơ chính là nắng nóng diện rộng, phụ tải điện tăng, thiếu nước cục bộ, nhất là ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Từ cuối hè sang mùa khô 2026-2027, rủi ro gia tăng ở Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ với thiếu mưa, suy giảm dòng chảy, hạn hán và xâm nhập mặn.
– Cần làm gì để giảm thiệt hại do El Nino:
– Để ứng phó với El Nino, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không chuẩn bị theo một kịch bản đơn tuyến chỉ có nóng và khô mà theo hướng đa rủi ro. Với nông nghiệp, cần điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và tưới tiết kiệm. Với tài nguyên nước, cần theo dõi cân bằng nước, tích nước sớm và xây dựng kịch bản cấp nước dự phòng. Với năng lượng, cần chuẩn bị cho rủi ro kép: phụ tải tăng vì nóng trong khi thủy điện có thể suy giảm vì thiếu nước.
Ở cấp địa phương, cần đồng thời chuẩn bị cho nắng nóng, cháy rừng, thiếu nước, nhưng cũng không lơ là với giông mạnh, mưa đá, mưa lớn cục bộ và bão mạnh có quỹ đạo phức tạp. Cách tiếp cận phù hợp nhất là quản trị rủi ro dựa trên dự báo khí hậu nhiều hạn và cập nhật thường xuyên khi ENSO vượt qua rào cản mùa xuân trong các tháng tới.
Trưa 31.5, Đài Khí tượng thủy văn Khánh Hòa phát cảnh báo ngập úng cục bộ tại một số khu vực trên địa bàn tỉnh sau trận mưa lớn xảy ra trong buổi sáng. Theo cảnh báo, tình trạng ngập một số nơi có thể kéo dài đến 16 giờ, độ sâu lớn nhất từ 0,2 - 0,5 m, có chỗ sâu hơn.
Trước đó, sáng cùng ngày, nhiều khu vực trên địa bàn tỉnh xảy ra mưa lớn cục bộ, một số tuyến đường ở Nha Trang bị ngập, gây khó khăn cho việc đi lại của người dân. Theo Đài Khí tượng thủy văn Khánh Hòa, trên địa bàn tỉnh xuất hiện một vùng áp thấp nên xảy ra mưa cục bộ, chủ yếu ở các địa phương ven biển và sẽ sớm kết thúc.
Số liệu đo được từ 7 giờ đến 11 giờ cho thấy lượng mưa tại một số trạm như: Diên Phú 79,4 mm, Nha Trang 75,1 mm, Cam Phước Đông 53,5 mm. Riêng từ 7 - 10 giờ, trạm Vĩnh Hải ghi nhận 98,2 mm, Ninh Hải 83,2 mm.
Theo bản tin, các khu vực được cảnh báo ngập gồm: tại phường Tây Nha Trang là khu Phú Trung, đường Lương Định Của, hương lộ Ngọc Hiệp. Phường Bắc Nha Trang ngập trên các đường 2 Tháng 4, Điện Biên Phủ, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng. Khu vực phường Nha Trang ngập tại chợ Đầm, đường Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu.
Tại khu vực Cam Ranh, cơ quan khí tượng cảnh báo phường Bắc Cam Ranh ngập ở quốc lộ 1A đoạn ngã ba Mỹ Ca, đường Nguyễn Công Trứ, Lương Văn Can; phường Ba Ngòi ngập tại tỉnh lộ 9.
Cơ quan khí tượng cảnh báo ngập lụt có thể gây ách tắc giao thông, cô lập dân cư, làm hư hỏng tài sản và phương tiện; đồng thời ảnh hưởng đến an toàn tính mạng, gây ô nhiễm nguồn nước và dễ phát sinh dịch bệnh.
Về xu thế những ngày tới, từ ngày 31.5 đến 2.6, Khánh Hòa chịu ảnh hưởng của dải hội tụ nhiệt đới nối với vùng thấp ngoài khơi. Riêng ngày 31.5 mưa nhiều nơi, cục bộ mưa rất to và giông, tập trung các xã, phường ven biển, lượng mưa phổ biến 15 - 40 mm, có nơi trên 80 mm. Hai ngày 1.6 và 2.6, lượng mưa giảm còn phổ biến dưới 10 mm, chủ yếu mưa giông về chiều tối.
Cơ quan khí tượng lưu ý mưa lớn còn có khả năng gây ngập úng vùng trũng thấp, lũ quét trên sông suối nhỏ và sạt lở đất trên sườn dốc.
Nhằm khai thác các vị trí chiến lược bên cạnh Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Đồng Nai đã lập quy hoạch một khu vực rộng lớn 43.000 ha để xây dựng đô thị sân bay Long Thành, với mục tiêu kết nối toàn cầu, đưa Long Thành trở thành trung tâm hàng không - logistics quốc tế hàng đầu Đông Nam Á.
Tại đô thị sân bay này, Đồng Nai sẽ tập trung khai thác về công nghiệp (công nghệ cao, bán dẫn, hàng không vũ trụ, công nghệ thông tin); khai thác dịch vụ phục vụ sân bay gồm nhà hàng, khách sạn 5 sao, trung tâm hội nghị, mua sắm, trung tâm tài chính, sân golf…; dịch vụ logistics (kho bãi, vận tải); phát triển đô thị thông minh, đô thị sinh thái ven sông phục vụ nhu cầu ở cho các chuyên gia, lao động, người dân đến sống và làm việc tại Long Thành; xây dựng khu đô thị giáo dục đại học; mời gọi đầu tư hệ thống bệnh viện quy mô lớn phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân khi đô thị sân bay hình thành.
Ngoài ra, để nâng cao năng lực cạnh tranh của sân bay Long Thành, Đồng Nai còn xây dựng đề án thành lập khu thương mại tự do với quy mô gần 7.500 ha, vị trí ở bên trong và xung quanh sân bay Long Thành.
Theo đề án, Khu thương mại tự do có 4 khu chức năng chính đặt tại 6 vị trí, gồm: đất khu công nghiệp Bàu Cạn - Tân Hiệp rộng 2.627 ha, đất khu công nghiệp Xuân Quế - Sông Nhạn rộng 3.595 ha, đất khu cảng Phước An rộng 364 ha, đất thuộc 2 xã Long Đức và An Phước (H.Long Thành cũ) rộng 119 ha, đất thuộc xã Lộc An (H.Long Thành cũ) rộng 300 ha và đất thuộc khu phía tây nam sân bay Long Thành rộng 1.000 ha.
Theo đánh giá của TSKH - kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, 2 dự án mà Đồng Nai đang thực hiện nói trên đều là những dự án chưa từng có tiền lệ ở VN. "Xưa giờ VN chưa có đô thị sân bay, và đến ngày hôm nay cũng chưa có khu thương mại tự do", ông Sơn nói.
Theo UBND tỉnh Đồng Nai, trong thời gian tới Đồng Nai xác định tập trung nguồn lực để đầu tư đồng bộ các công trình, dự án hạ tầng chiến lược, tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí đô thị loại I và thành phố theo quy định, đồng thời tạo động lực phát triển và hình thành các không gian tăng trưởng mới.
Và tất nhiên, trọng tâm hàng đầu là đẩy nhanh tiến độ xây dựng và đưa vào khai thác hiệu quả sân bay Long Thành - công trình hạ tầng chiến lược đặc biệt quan trọng của quốc gia. Đồng Nai xác định đây sẽ là một trong những trung tâm trung chuyển hàng không lớn của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tạo bước ngoặt về năng lực kết nối quốc tế, logistics và thu hút đầu tư cho địa phương.
Song song, Đồng Nai ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chiến lược, đa phương thức. Đó là các tuyến cao tốc như TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây, Phan Thiết - Dầu Giây, Biên Hòa - Vũng Tàu, Bến Lức - Long Thành, Gia Nghĩa - Chơn Thành, Dầu Giây - Liên Khương; các tuyến metro Suối Tiên - Trung tâm chính trị hành chính tỉnh - sân bay Long Thành, Thủ Thiêm - Long Thành; cùng hệ thống Vành đai 3, Vành đai 4 sẽ được triển khai đồng bộ, tạo thành mạng lưới kết nối liên vùng, liên quốc gia, gắn với hệ thống cảng biển và sân bay.
Cũng theo lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, trên nền tảng hạ tầng đó, tỉnh tập trung phát triển các trung tâm logistics, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo, từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ công nghiệp truyền thống sang các ngành có giá trị gia tăng cao như kinh tế hàng không, logistics, công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số và kinh tế xanh.
Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng các khu đô thị mới, đô thị thông minh, đô thị sinh thái, đặc biệt tại khu vực Long Thành - Nhơn Trạch, hướng tới hình thành đô thị sân bay trung chuyển quốc tế, với quy mô dân số đô thị lớn, cấu trúc hiện đại, tích hợp đầy đủ các chức năng kinh tế, dịch vụ, văn hóa, xã hội.
Ngoài ra tỉnh còn tập trung phát triển các hành lang kinh tế - đô thị chiến lược, như hành lang TP.HCM - Biên Hòa - Long Thành - Dầu Giây; hành lang Biên Hòa - Long Thành - Nhơn Trạch; hành lang kết nối Tây nguyên và ASEAN…, qua đó hình thành các trục phát triển công nghiệp - đô thị - logistics quy mô lớn, tạo sự lan tỏa và liên kết vùng mạnh mẽ.
Lãnh đạo UBND tỉnh Đồng Nai khẳng định với việc tập trung đầu tư đồng bộ các công trình hạ tầng chiến lược, phát triển hệ sinh thái hàng không, hình thành các hành lang kinh tế và không gian đô thị hiện đại, Đồng Nai sẽ tạo dựng nền tảng vững chắc, xứng đáng là thành phố; đồng thời đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, trung tâm kết nối và trung chuyển quốc tế của vùng Đông Nam bộ trong thời gian tới.
Theo PGS-TS Trần Quang Phú, nguyên Phó hiệu trưởng Trường ĐH Giao thông vận tải TP.HCM, để bứt phá, vươn lên mạnh mẽ, Đồng Nai cần khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế của các cảng và đầu mối giao thông, hạ tầng kết nối. Các tuyến đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa cần được quy hoạch và phát triển đồng bộ, hiệu quả, bền vững.
Ông Phú nhận định hiện nay mảng kết nối giữa các đô thị thuộc tỉnh Bình Phước cũ như Đồng Xoài, Chơn Thành với các đô thị Biên Hòa, Long Thành, Long Khánh còn rất yếu; chủ yếu đi qua TP.HCM (ngả tỉnh Bình Dương cũ) trong khi hướng kết nối trực tiếp chưa có vì vướng Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.
"Theo tôi, bảo tồn vẫn vô cùng cần thiết nhưng cũng cần ưu tiên phát triển bền vững. Phải mạnh dạn làm thì Đồng Nai mới phát triển được, đặc biệt khu vực phía bắc, nơi có cửa khẩu quốc tế Hoa Lư và vành đai biên giới", ông Phú nói.
Về đường sắt đô thị, PGS-TS Trần Quang Phú cho rằng cần nhanh chóng xây dựng tuyến đường sắt đô thị kết nối Đồng Xoài và Biên Hòa. Theo ông, đây là vấn đề thiết yếu, khi Đồng Nai lên thành phố thì càng cấp thiết hơn nữa. Khi có tuyến đường sắt đô thị nối 2 đô thị lớn của Đồng Nai, từ đây kết nối với các tuyến đường sắt đô thị đã quy hoạch để đi sân bay Long Thành và TP.HCM.
Ông Phú chỉ ra sân bay Long Thành sẽ đi vào hoạt động vào cuối năm 2026 trong khi đường sắt đô thị để đi vào hoạt động cần 10 - 15 năm từ khi lập dự án. Vì vậy trước mắt để đưa đón người dân trong tỉnh đến sân bay Long Thành, chuyên gia này đề xuất lập các tuyến xe buýt có làn đường ưu tiên trên các trục đường chính, ngoài ra xây dựng các trạm trung chuyển ở Biên Hòa, Long Khánh, Cẩm Mỹ, Đồng Xoài, Trảng Bom... để gom khách đi sân bay Long Thành. (còn tiếp)
"Khi người dân được bảo hiểm y tế (BHYT) chi trả một cách công bằng, họ sẽ chủ động lựa chọn y học cổ truyền ngay từ cơ sở", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về công tác y học cổ truyền Việt Nam, chiều 20/5.
Theo ông, việc tích hợp dịch vụ kỹ thuật, bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục BHYT chi trả là "chìa khóa" để đưa y học cổ truyền về gần nhân dân. Phát triển y học cổ truyền không phải là quay về phương thức cũ kỹ, thủ công mà phải kế thừa, phát triển tinh hoa của cha ông, trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại. Y học cổ truyền phải trở thành bộ phận hữu cơ của y học quốc gia, nguồn lực để phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Các cơ quan nghiên cứu xây dựng một số mô hình thí điểm trung tâm chăm sóc sức khỏe, khu nghỉ dưỡng, khu dưỡng sinh, làng dược liệu, vùng phát triển dược liệu gắn với giảm nghèo bền vững và du lịch sinh thái.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý phải khẩn trương số hóa toàn bộ kho tàng, bài thuốc gia truyền, tri thức bản địa quý giá của các dân tộc Việt Nam; xây dựng hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền. Chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các lĩnh vực dược liệu, những bài thuốc có giá trị cao cần gắn với thương mại hóa và thị trường, có sự phối hợp giữa viện nghiên cứu, đại học với bệnh viện, doanh nghiệp địa phương.
"Nghiên cứu xây dựng, củng cố một số trung tâm y học cổ truyền mạnh mang tầm quốc gia và khu vực, không chỉ để khám, chữa bệnh mà còn là trung tâm nghiên cứu, đào tạo, bảo tồn, chuyển giao công nghệ, phát triển sản phẩm và quảng bá văn hóa y học Việt Nam", ông nói và nhấn mạnh phát triển ngành công nghiệp dược liệu là ngành kinh tế, đồng bộ theo chuỗi từ giống, vùng trồng tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc, bào chế sản phẩm, thương hiệu và thị trường xuất khẩu.
Việc tích hợp Đông Tây y cần theo hướng chứng thực. Hai nền y học không thể đối lập mà phải bổ trợ hoàn hảo cho nhau. Để phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền, nguồn nhân lực chất lượng cao và giữ gìn y đức, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và kiểm soát chất lượng; khuyến khích và tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân, tập đoàn dược phẩm lớn tham gia đầu tư nghiên cứu, chế biến sâu và phát triển chuỗi nhà thuốc y học cổ truyền.
"Phải biến các nhà thuốc đông y tư nhân, các phòng chẩn trị của lương y thành những cánh tay nối dài hiệu quả của mạng lưới y tế công; phải có chính sách đặc thù để phát hiện, tôn vinh, bảo tồn, ứng dụng rộng rãi các bài thuốc gia truyền, các phương pháp điều trị độc đáo đang giữ trong nhân dân, không để những di sản quý báu này bị mai một, thất truyền", ông nói và yêu cầu kiên quyết xử lý, không dung thứ hành vi sai phạm, trục lợi trên sức khỏe nhân dân.
Các trường đại học y, dược cần cải cách chương trình đào tạo y bác sĩ y học cổ truyền. Người thầy thuốc y học cổ truyền phải am tường cả về y lý Đông y lẫn các thành tựu cận lâm sàng hiện đại của Tây y.
Đối với Đông y, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý trước hết là y đạo, không để thương mại hóa cực đoan, quảng cáo sai sự thật, chữa bệnh phản khoa học ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp mà còn là nền tảng để bảo vệ giá trị chân chính của nền y học cổ truyền dân tộc, gìn giữ niềm tin trong dân.
Việc xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam cần đẩy mạnh, gắn với kinh tế sức khỏe, du lịch chữa lành, xuất khẩu sản phẩm và sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam. Thương hiệu này phải dựa trên ba trụ cột, bản sắc Việt Nam, bằng chứng khoa học về sản phẩm, dịch vụ đạt chuẩn quốc tế.
Bộ Y tế được giao sớm xây dựng và trình ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.