TS Trương Bá Kiên, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khí hậu thuộc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển trả lời VnExpress về khả năng xuất hiện El Nino cũng như tác động đến Việt Nam.
– Các cơ quan khí tượng quốc tế cảnh báo khả năng xuất hiện “siêu El Nino” trong năm nay. Ông nhìn nhận thế nào về kịch bản này?
Cường độ El Nino được theo dõi bằng chỉ số ONI – trung bình trượt 3 tháng của dị thường nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực Niño 3.4 ở trung tâm xích đạo Thái Bình Dương. Theo phân loại, El Nino được chia thành yếu (0,5-0,9 độ C), trung bình (1-1,4 độ), mạnh (1,5-1,9 độ) và rất mạnh khi từ 2 độ C trở lên. Vì vậy, “siêu El Nino” thực chất là El Nino rất mạnh, với ONI khoảng từ 2 độ C.
Cập nhật từ các trung tâm dự báo lớn như Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương quốc gia Mỹ và Trung tâm Dự báo Thời tiết trung hạn châu Âu cho thấy khả năng chuyển sang El Nino trong hè 2026 trên 60% và có thể kéo dài đến cuối năm. Xác suất đạt ngưỡng rất mạnh vào cuối năm khoảng 25%. Tuy nhiên, các mô hình vẫn chưa thống nhất về cường độ cực đại nên cần tiếp tục theo dõi.
Nhìn chung, độ tin cậy đối với xu thế hình thành El Nino là khá cao, khi tín hiệu đại dương rõ rệt và điều kiện khí quyển thuận lợi cho quá trình ấm lên. Tuy nhiên, bất định vẫn lớn về cường độ cực đại do ENSO (dao động tự nhiên giữa đại dương và khí quyển ở khu vực xích đạo Thái Bình Dương) đang trong giai đoạn “rào cản mùa xuân”, thời kỳ kỹ năng dự báo suy giảm và biên độ dự báo giữa các kịch bản còn rộng.
– Nếu El Nino phát triển mạnh, ông đánh giá thế nào cường độ của nó (có thể so sánh các đợt lịch sử như 1997-1998 hay 2015-2016)?
– Nếu El Nino năm 2026 thực sự phát triển tới ngưỡng rất mạnh thì xét riêng về chỉ số ONI, nó có thể được xếp vào cùng nhóm với các sự kiện El Nino mạnh nhất trong chuỗi quan trắc hiện đại như 1997-1998 và 2015-2016. Tuy nhiên, về mặt khoa học khí hậu cần đặc biệt thận trọng khi so sánh trực tiếp như vậy.
Cùng một giá trị ONI hoặc cùng được xếp vào nhóm rất mạnh không đồng nghĩa với việc các tác động khí hậu sẽ lặp lại theo cùng một cách. Nguyên nhân là tác động của ENSO không chỉ phụ thuộc vào biên độ nhiệt độ mặt nước biển ở khu vực Niño 3.4, mà còn phụ thuộc vào cấu trúc không gian của dị thường nhiệt độ mặt biển trên toàn vùng nhiệt đới Thái Bình Dương, thời điểm hiện tượng đạt cực đại, mức độ kết nối giữa tín hiệu đại dương và hoàn lưu khí quyển, cũng như trạng thái đồng thời của các dao động khí hậu khác.
Ngoài ra, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mối quan hệ giữa cường độ ENSO và các cực đoan khí hậu không mang tính tuyến tính đơn giản. Các cực đoan thực tế là kết quả của sự chồng lấn giữa dao động tự nhiên và một nền khí hậu đang nóng lên, với lượng hơi nước lớn hơn và điều kiện nhiệt – ẩm thay đổi. Vì vậy, cùng một mức ONI nhưng tác động đến nắng nóng, hạn hán, mưa lớn hay bão ở từng vùng có thể khác đáng kể giữa các thời kỳ.
Nói cách khác, nếu xét riêng về cường độ thì có thể tiệm cận nhóm lịch sử, nhưng về tác động thì không thể mặc định sẽ lặp lại kịch bản của các năm trước.
– El Nino tác động đến khí hậu toàn cầu?
– Về bản chất, El Nino làm thay đổi chênh lệch nhiệt độ mặt biển dọc xích đạo Thái Bình Dương, làm suy yếu sự khác biệt giữa phía tây và phía đông. Điều này kéo theo biến đổi đối lưu nhiệt đới và hoàn lưu Walker – hệ thống gió quy mô lớn chi phối vận chuyển không khí và độ ẩm.
Khi hoàn lưu Walker suy yếu hoặc dịch chuyển, các vùng mây đối lưu và mưa lớn thay đổi theo, đồng thời kéo theo sự điều chỉnh của các dòng xiết cận nhiệt và các sóng khí quyển quy mô hành tinh. Đây là cơ chế khiến các hình thái thời tiết bị xáo trộn về vị trí và thời điểm.
Tuy nhiên, tác động của El Nino không đồng nhất giữa các khu vực, do còn phụ thuộc vào cấu trúc vùng nước ấm, thời điểm đạt cực đại và tương tác với các hệ thống khí hậu khác, cũng như yếu tố địa hình và hoàn lưu khu vực.
– Với Việt Nam, El Nino sẽ tác động thế nào đến nắng nóng, lượng mưa, bão và các hiện tượng cực đoan?
– Đối với Việt Nam, El Nino thường liên quan đến xu thế nền nhiệt cao hơn trung bình, bốc thoát hơi mạnh hơn và mưa suy giảm trong một số thời kỳ, qua đó làm tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn, thiếu nước và suy giảm dòng chảy. Tuy nhiên, tác động không đồng đều giữa các vùng.
Tín hiệu thiếu mưa và hạn hán thường rõ hơn ở Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, trong khi miền Bắc thể hiện rõ hơn ở việc nền nhiệt cao hơn và số ngày nắng nóng tăng. Các dự báo hiện nay cũng cho thấy nhiệt độ trung bình có thể cao hơn bình thường khoảng 0,5-1 độ C, nắng nóng có thể nhiều và gay gắt hơn.
Trong các năm El Nino, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới trên Biển Đông có xu hướng ít hơn trung bình nhiều năm, nhưng không đồng nghĩa rủi ro giảm. Vẫn có thể xuất hiện các cơn bão mạnh, tăng cường nhanh hoặc có quỹ đạo phức tạp. Đồng thời, El Nino cũng không loại trừ khả năng xuất hiện các hiện tượng cực đoan như giông mạnh, lốc, sét, mưa đá trong các thời kỳ chuyển mùa.
Nói cách khác, El Nino chủ yếu làm thay đổi nền xác suất khí hậu theo mùa, chứ không quyết định tuyệt đối từng đợt thời tiết cụ thể.
– Trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu đang tăng cao, El Nino có thể làm gia tăng mức độ nắng nóng và rủi ro khí hậu ở Việt Nam thế nào?
– El Nino diễn ra trên nền khí hậu toàn cầu đã nóng lên rõ rệt trong nhiều năm gần đây. Nếu phát triển mạnh, hiện tượng này sẽ cộng hưởng với nền nhiệt vốn cao, làm tăng xác suất các đợt nắng nóng mạnh và kéo dài.
Tuy vậy, chưa thể tách bạch một con số cụ thể về mức tăng nhiệt do El Nino, vì cường độ nắng nóng còn phụ thuộc nhiều yếu tố như hoàn lưu khí quyển, áp thấp nóng phía tây, hiệu ứng phơn, độ ẩm và điều kiện nội mùa.
Điều có thể nói chắc hơn là El Nino làm tăng xác suất nền nhiệt cao hơn trung bình, còn biến đổi khí hậu làm nâng nền nhiệt xuất phát. Khi hai yếu tố này cộng hưởng, các đợt nóng có xu hướng gay gắt hơn, kéo dài hơn và tác động lớn hơn.
Nếu El Nino phát triển từ mùa hè và mạnh dần về cuối năm, rủi ro không xuất hiện đồng đều mà tăng theo mùa. Mùa hè và đầu thu 2026, nguy cơ chính là nắng nóng diện rộng, phụ tải điện tăng, thiếu nước cục bộ, nhất là ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Từ cuối hè sang mùa khô 2026-2027, rủi ro gia tăng ở Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ với thiếu mưa, suy giảm dòng chảy, hạn hán và xâm nhập mặn.
– Cần làm gì để giảm thiệt hại do El Nino:
– Để ứng phó với El Nino, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là không chuẩn bị theo một kịch bản đơn tuyến chỉ có nóng và khô mà theo hướng đa rủi ro. Với nông nghiệp, cần điều chỉnh lịch thời vụ, cơ cấu cây trồng và tưới tiết kiệm. Với tài nguyên nước, cần theo dõi cân bằng nước, tích nước sớm và xây dựng kịch bản cấp nước dự phòng. Với năng lượng, cần chuẩn bị cho rủi ro kép: phụ tải tăng vì nóng trong khi thủy điện có thể suy giảm vì thiếu nước.
Ở cấp địa phương, cần đồng thời chuẩn bị cho nắng nóng, cháy rừng, thiếu nước, nhưng cũng không lơ là với giông mạnh, mưa đá, mưa lớn cục bộ và bão mạnh có quỹ đạo phức tạp. Cách tiếp cận phù hợp nhất là quản trị rủi ro dựa trên dự báo khí hậu nhiều hạn và cập nhật thường xuyên khi ENSO vượt qua rào cản mùa xuân trong các tháng tới.
Tại phiên thảo luận trong khuôn khổ Hội thảo "Chuyển đổi năng lượng xanh - động lực tăng trưởng bền vững" chiều 21-4, nhiều doanh nghiệp chia sẻ câu chuyện giảm phát thải, tối ưu năng lượng, để thích nghi theo hướng bền vững.
Dù còn rào cản về công nghệ và chi phí, chuyển đổi xanh đang mở ra dư địa tăng trưởng mới.
Ông Võ Văn Huy Hoàng - Giám đốc Khối Chiến lược và Chuyển đổi số, Công ty Sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy, cho biết phát triển bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc.
Theo ông Hoàng, lợi thế của ngành sữa đậu nành nằm ngay từ vùng nguyên liệu. Cây đậu nành có khả năng cố định đạm, góp phần cải tạo đất, giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học.
Không dừng lại ở nguyên liệu, quá trình "xanh hóa" được mở rộng sang toàn bộ hoạt động vận hành.
"Với hệ thống nhà máy trải dài Bắc - Trung - Nam, chúng tôi tập trung tối ưu chuỗi cung ứng thông qua các giải pháp tiết kiệm nước, năng lượng, kiểm soát khí thải và giảm thiểu xe chạy rỗng trong logistics", ông Hoàng cho hay.
Theo ông Hoàng, việc phát triển điện mặt trời áp mái tại các nhà máy cũng góp phần cắt giảm đáng kể phát thải CO₂ trong sản xuất. Nhờ đó, đến năm 2025, mức tiết kiệm năng lượng đạt khoảng 2–3%, qua đó hỗ trợ giảm chi phí vận hành.
Trong khi đó, ông Lê Quốc Thuận, Giám đốc Kinh doanh Signify Việt Nam, cho rằng tiết kiệm năng lượng đang trở thành "điểm giao" giữa lợi ích môi trường và hiệu quả kinh tế.
Theo ông Thuận, công nghệ chiếu sáng hiện nay đã có bước tiến dài khi hiệu suất có thể cao gấp khoảng 20 lần so với bóng đèn dây tóc truyền thống. Nếu giai đoạn trước là làn sóng chuyển đổi sang đèn LED, thì hiện nay các dòng LED mới tiếp tục được cải tiến, giúp tiết kiệm khoảng 70% điện năng so với đèn huỳnh quang.
"Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể giảm đáng kể chi phí điện năng trong khi vẫn đảm bảo hiệu suất sử dụng. Không chỉ dừng ở tiết kiệm điện, các sản phẩm chiếu sáng mới còn được thiết kế theo hướng kéo dài vòng đời, giảm thiểu chất thải và tối ưu vận hành", ông Thuân nhấn mạnh.
Ông Lê Ngọc Ánh Minh, Chủ tịch CLB Hydrogen Việt Nam ASEAN (VAHC), cho biết Việt Nam đã có chiến lược phát triển hydrogen quốc gia với mục tiêu rõ ràng đến năm 2030 và 2050.
Tuy nhiên, theo ông Minh, con đường hiện thực hóa vẫn còn nhiều rào cản như chi phí công nghệ cao, yêu cầu nguồn điện sạch, chính sách chưa hoàn thiện và chi phí điện phân nước đắt đỏ đang khiến nhiều dự án hydrogen trên thế giới bị đình trệ.
Một doanh nghiệp cũng đang đẩy mạnh các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn thời gian gần đây là Công ty Cổ phần Năng lượng VinEnergo - công ty thành viên thuộc trụ cột Năng lượng xanh của Tập đoàn Vingroup.
Với tầm nhìn trở thành nhà phát triển và cung cấp các giải pháp năng lượng bền vững, đóng góp cho mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam và khẳng định vị thế quốc gia trên bản đồ năng lượng toàn cầu, VinEnergo đang triển khai một loạt dự án điện gió, điện mặt trời quy mô lớn tại Hà Tĩnh, Gia Lai, Điện Biên, Lai Châu…
Công ty cũng đưa vào sử dụng hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) tiên tiến do VinFast sản xuất, tạo nên một hệ sinh thái năng lượng xanh toàn diện, đảm bảo cung cấp điện sạch và ổn định, góp phần giảm tải cho điện lưới và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Không chỉ phát triển mạnh trong nước, VinEnergo đã hợp tác với các đối tác quốc tế để triển khai các dự án năng lượng tái tạo tại nhiều quốc gia và khu vực có tiềm năng lớn trên thế giới như Bắc Mỹ, Bắc Âu, Địa Trung Hải, Đông Nam Á...
Trong vòng 3 năm tới, VinEnergo đặt mục tiêu phát triển danh mục dự án có tổng công suất lên tới 100 GW trên toàn cầu, trong đó hiện đã triển khai các dự án đầu tiên tại Philippines, Đan Mạch, Thụy Điển".
Ông Cao Tùng Sơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường TP.HCM, cho biết ô nhiễm đô thị hiện nay đến từ ba nguồn chính: giao thông, hoạt động công nghiệp và sinh hoạt dân cư.
Trước thực trạng này, TP.HCM đã xây dựng kế hoạch hành động với nhiều giải pháp đồng bộ. Trong lĩnh vực giao thông, thành phố sẽ thiết lập vùng phát thải thấp (LEZ), thí điểm trước khi nhân rộng. Đồng thời, lộ trình chuyển đổi phương tiện cũng được đẩy nhanh, hướng tới mục tiêu đến năm 2030, toàn bộ phương tiện giao thông công cộng và dịch vụ sẽ sử dụng điện.
Các phương tiện cá nhân không đạt chuẩn khí thải sẽ từng bước bị hạn chế. Một số khu vực như huyện Cần Giờ và đặc khu Côn Đảo được dự kiến triển khai sớm, hoàn tất lộ trình vào năm 2027.
Bên cạnh đó, thành phố cũng nghiên cứu thúc đẩy sử dụng nhiên liệu sạch, trong đó có xăng E10, như một giải pháp trung gian nhằm giảm phát thải trong giao thông.
Ở lĩnh vực công nghiệp, cách tiếp cận quản lý cũng đang thay đổi. Theo ông Sơn, thay vì hậu kiểm, cơ quan chức năng sẽ chuyển sang kiểm soát liên tục. Các nguồn thải lớn được yêu cầu lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý để giám sát.
Về dài hạn, TP.HCM sẽ triển khai đề án di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư hoặc khu vực không phù hợp với quy hoạch. Quỹ đất sau di dời sẽ được ưu tiên cho không gian công cộng và mảng xanh, cải thiện chất lượng sống đô thị.
Song song đó, thành phố cũng đẩy mạnh cung cấp thông tin môi trường đến người dân. Dữ liệu quan trắc sẽ được tích hợp vào ứng dụng "công dân số", cho phép người dân theo dõi chất lượng môi trường theo thời gian thực.
Tối 5.4, tin từ Công an phường Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long cho biết, đơn vị đang xác minh nhóm người đi xe máy chặn xe ô tô giữa đường và đập bể kính chắn gió phía trước.
Theo thông tin ban đầu, khoảng 20 giờ cùng ngày, anh N.T.T (21 tuổi, ngụ xã Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long) điều khiển xe ô tô con biển số 51A-991.xx lưu thông trên đường Phạm Thái Bường theo hướng từ vòng xoay Bệnh viện đa khoa Vĩnh Long vào phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long.
Khi đi đến đoạn gần Trường THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (phường Phước Hậu), thấy một nhóm người đi trên 3 xe máy có dấu hiệu say xỉn chạy vào làn dành cho xe ô tô nên anh T. bấm còi xin đường.
Nghe tiếng còi, nhóm người này dừng lại chặn đầu xe anh T., sau đó 2 người đi đến hai bên xe đập cửa, nhưng anh T. đã kịp khóa cửa ngồi trong xe dùng điện thoại ghi hình lại.
Tức giận, một trong số những người này đã dùng vật cứng đập làm bể kính chắn gió phía trước của ô tô rồi lên xe bỏ đi.
Tiếp nhận tin báo, Công an phường Phước Hậu đã đến hiện trường ghi nhận lời trình bày của tài xế, ghi nhận hiện trường và xác minh vụ việc chặn xe ô tô, đập bể kính chắn gió.
Quan điểm nêu trên được Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng nêu ra tại hội nghị gặp gỡ, đối thoại với công nhân lao động thủ đô năm 2026, diễn ra chiều 29.5.
Tại buổi đối thoại, chị Phạm Thị Mai (người lao động ở Công ty cổ phần Xây dựng số 6 Thăng Long) chia sẻ, Hà Nội có 2,7 triệu người lao động, trong đó hơn 70% sống trong các nhà trọ. Với lực lượng lao động lớn như vậy, chị Mai đề nghị thành phố cho biết sẽ dành quỹ đất để xây khu nhà ở cho công nhân lao động như thế nào trong quy hoạch thủ đô tầm nhìn 100 năm?
Nói về vấn đề này, Giám đốc Sở QH-KT Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh cho biết, trong quy hoạch thủ đô đã xác định một mục tiêu rất lớn cho vấn đề về nhà xã hội cho công nhân và sinh viên. Theo đó, sẽ ưu tiên quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở xã hội tập trung, quy mô lớn, đảm bảo đầy đủ hệ thống hạ tầng kỹ thuật và tầng xã hội.
Các dự án này thì được bố trí tại những vị trí thuận lợi với mạng lưới đường sắt đô thị nhằm đảm bảo môi trường sống văn minh, thuận lợi cho người có thu nhập thấp và công nhân tại các khu, cụm công nghiệp.
Ông Kỳ Anh cũng bày tỏ sự chia sẻ với công nhân, người lao động khi mức thu nhập rất khó để tiếp cận nhà ở thương mại. Vì vậy, ông cho biết thành phố sẽ triển khai thí điểm từ 1 - 2 khu nhà ở xã hội cho thuê để phục vụ trực tiếp các đối tượng là công nhân và người lao động.
Phát biểu kết luận, Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định, thành phố sẽ quán triệt và triển khai nghiêm túc chủ trương của Trung ương, của đồng chí Tổng Bí thư và Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê dành cho người thu nhập thấp, cho công nhân lao động.
Theo ông Vũ Đại Thắng, ngay trong tháng 6, thành phố sẽ khởi công nhiều dự án và dự kiến trong 1 năm sẽ có sản phẩm nhà ở cho thuê, nhà ở xã hội cho thuê đáp ứng nhu cầu của người lao động trên địa bàn thủ đô. Việc này sẽ được thành phố làm xuyên suốt.
Đặc biệt, người đứng đầu chính quyền TP.Hà Nội cho biết, thành phố đã có sự thay đổi trong quan điểm tiếp cận về thị trường bất động sản. Đó là nhà ở không phải chỉ phục vụ mục tiêu kinh doanh bất động sản, mà trước hết phải "bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm quyền có chỗ ở" phù hợp, ổn định cho người dân, người lao động.
Do đó, TP.Hà Nội sẽ chuyển mạnh tư duy, từ chỉ tập trung phát triển nhà ở để bán sang phát triển cân bằng giữa nhà ở bán, nhà ở cho thuê và nhà ở thuê mua. Trong đó, tập trung phát triển nhà ở cho thuê giá phù hợp dành cho công nhân, người lao động trẻ, người lao động ngoại tỉnh và các đối tượng chưa đủ điều kiện tạo lập nhà ở.
Điều này nhằm đảm bảo mọi người đều có thể thuê sản phẩm nhà ở phù hợp với thu nhập của mình.
Ngoài ra, thành phố cũng sẽ tiếp nghiên cứu cơ chế để khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư nhà ở cho thuê dành cho công nhân, bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, trường học, y tế, thiết chế văn hóa và giao thông kết nối thuận lợi.
"Đây không chỉ là giải pháp an sinh xã hội mà còn là giải pháp giữ chân người lao động, phát triển nguồn nhân lực ổn định, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển bền vững của thủ đô trong dài hạn", ông Thắng nhấn mạnh.