Khoảng 9h30, lửa bốc lên tại căn nhà rộng khoảng 50 m2, một trệt một lầu làm bằng gỗ, ở góc đường Tô Ngọc Vân – Nguyễn Thị Định, phường Cam Ly. Người dân phát hiện, dùng nước dập lửa nhưng không hiệu quả do trong nhà có nhiều vật dụng dễ cháy. Nhà xảy ra sự cố nằm trong khu dân cư đông đúc.
Anh Huy, sống gần hiện trường, cho biết lửa xuất phát từ trần nhà tầng trệt. Thời tiết khô nóng khiến đám cháy lan nhanh, nhiều người hoảng sợ. Những người bên trong kịp thoát ra ngoài an toàn, hàng xóm hỗ trợ di chuyển tài sản, dọn lối đi.
Công an tỉnh Lâm Đồng điều nhiều xe chữa cháy cùng hàng chục cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường. Lực lượng chức năng triển khai nhiều hướng phun nước, khống chế đám cháy sau hơn một giờ.
Hỏa hoạn không gây thiệt hại về người nhưng thiêu rụi toàn bộ tài sản trong nhà. Sức nóng lớn làm mái và khung sắt biến dạng, cong vênh rồi đổ sụp xuống. Lửa cũng lan sang ba căn bên cạnh.
Chính quyền xác định nguyên nhân ban đầu do chập điện.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
‘Thuyền trưởng’ OUCRU tại TP.HCM: Luôn có thao trường tập luyện ngay cả khi không dịch bệnh

Trải qua hơn hai thập kỷ cống hiến và nỗ lực từ vị trí thực tập sinh, Giáo sư Lê Văn Tấn (44 tuổi) - chuyên gia hàng đầu về bệnh truyền nhiễm mới nổi tại Việt Nam - vừa được bổ nhiệm làm quyền Giám đốc Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại TP.HCM (OUCRU).
Báo Điện tử Tuổi Trẻ có cuộc trao đổi với Giáo sư Lê Văn Tấn về hành trình hơn 20 năm theo đuổi đam mê nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm, những bài học từ các đại dịch và tầm nhìn phát triển OUCRU trong thời gian tới.
* Gắn bó với Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford tại TP.HCM hơn 20 năm, đi lên từ một thực tập sinh, nghiên cứu sinh rồi nay là người đứng đầu đơn vị, sự thay đổi lớn nhất trong tư duy của ông ở cương vị mới thế nào?
- Hơn 20 năm gắn bó với OUCRU, tôi đã trải qua nhiều vai trò. Theo thời gian, vai trò thay đổi thì cách nhìn và tư duy cũng buộc phải thay đổi. Khi đứng đầu một tổ chức với gần 300 nhân sự, tôi phải có cái nhìn rộng hơn và định hướng chiến lược cho cả đơn vị.
Đối với một tổ chức nghiên cứu, rủi ro lớn nhất là đi sai định hướng. Vì vậy, trách nhiệm quan trọng nhất của người "đầu tàu" là xác định đúng chiến lược để tổ chức phát triển bền vững.
Ở cương vị hiện nay, tôi xem mình như một "chất xúc tác" tạo nền tảng, kết nối nguồn lực và mở ra cơ hội tạo tiền đề để các trưởng nhóm nghiên cứu triển khai chiến lược một cách hiệu quả, giúp cả tổ chức vận hành trơn tru và đạt được những mục tiêu lớn hơn.
* Trong thời gian dài nghiên cứu, giám sát và ứng phó với các bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam, đâu là dấu mốc để lại nhiều ấn tượng và bài học lớn nhất với ông, cả trên cương vị nhà khoa học lẫn người lãnh đạo?
- Mỗi dịch bệnh đều mang đến những bài học riêng. Nếu phải nói về cột mốc quan trọng nhất, tôi chọn đại dịch COVID-19.
Từ khi gia nhập Đơn vị nghiên cứu lâm sàng Đại học Oxford tại TP.HCM năm 2003, rồi làm nghiên cứu sinh năm 2008, tôi đã theo đuổi hướng nghiên cứu các tác nhân gây bệnh mới nổi bằng các công nghệ y sinh tiên tiến, trong đó có giải trình tự gene.
Thời điểm đó, công nghệ này ở Việt Nam còn rất mới, thậm chí có ý kiến trái chiều: "Làm gì có vi rút mới mà tìm". Nhưng tôi vẫn kiên định, bởi với người làm khoa học, nếu không đủ đam mê và niềm tin vào hướng đi của mình thì rất khó để đi đến thành công.
Chính sự kiên trì ấy đã giúp chúng tôi xây dựng được nền tảng bền vững về công nghệ, con người và năng lực phân tích dữ liệu tại đơn vị.
Khi COVID-19 xuất hiện vào đầu năm 2020, OUCRU và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (TP.HCM) đã nhanh chóng xây dựng quy trình xét nghiệm phát hiện SARS-CoV-2 ngay từ những ngày đầu, trong bối cảnh thế giới còn rất ít thông tin và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chưa ban hành quy trình xét nghiệm chính thức.
Nhờ nền tảng đã chuẩn bị sẵn, chúng tôi không chỉ triển khai xét nghiệm phát hiện ca bệnh mà còn nhanh chóng xây dựng chương trình nghiên cứu về COVID-19. Khi các biến thể mới liên tục xuất hiện, nhóm có thể giải trình tự gene chỉ trong khoảng 24 - 36 giờ để nhận diện biến chủng. Đó là điều không thể có được nếu trước đó chúng tôi không được đầu tư bền bỉ suốt nhiều năm.
“Quả ngọt” lớn nhất cho sự kiên định ấy là vào năm 2026, OUCRU cùng Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới đã chính thức gia nhập mạng lưới phòng thí nghiệm tham chiếu toàn cầu về Coronavirus của WHO. Đây là sự ghi nhận cho năng lực xét nghiệm và đánh giá nguy cơ dịch bệnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
* Ông thường ví von việc đào tạo nhân sự tại OUCRU như việc huấn luyện quân đội trên thao trường. Ông có thể nói rõ hơn về triết lý này?
- Nghiên cứu bệnh truyền nhiễm cần một "thao trường" để luyện tập thường xuyên, giúp đội ngũ luôn được trau dồi chuyên môn ngay cả khi không có dịch bệnh. Đào tạo nhân sự phải là một quá trình liên tục và lâu dài.
Với các bệnh truyền nhiễm mới nổi, điều khó nhất là chúng ta không thể biết dịch bệnh nào sẽ xuất hiện và vào thời điểm nào. Hôm nay có thể là COVID-19, ngày mai là đậu mùa khỉ, rồi đau mắt đỏ hay tay chân miệng. Nếu chúng ta đợi đến khi dịch bệnh bùng phát mới bắt đầu cuống cuồng đi đào tạo con người thì đã quá muộn.
Chính vì sự khó lường đó, chiến lược của OUCRU không phải là chỉ chuẩn bị cho một căn bệnh cụ thể, mà là xây dựng một nền tảng nghiên cứu đủ mạnh để có thể ứng phó linh hoạt với thách thức của dịch bệnh truyền nhiễm. Điều này đòi hỏi phải đầu tư đồng bộ về nguồn lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, mạng lưới nghiên cứu đa quốc gia và đặc biệt là đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
Mục tiêu của chúng tôi là xây dựng một chương trình nghiên cứu bền vững, có khả năng thích ứng nhanh trước những thách thức mới, để khi dịch bệnh xuất hiện, tổ chức luôn sẵn sàng phản ứng một cách linh hoạt và hiệu quả.
* Nhiều người nghĩ nghiên cứu bệnh truyền nhiễm chỉ là xoay quanh dịch bệnh mới nổi, nhưng thực tế tại OUCRU hiện nay thì sao, thưa Giáo sư?
- Thực tế, OUCRU không chỉ nghiên cứu các dịch bệnh mới nổi, mà xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu đa dạng, bám sát nhu cầu thực tiễn của Việt Nam.
Hiện chúng tôi có 8 nhóm nghiên cứu trọng điểm, trải rộng từ các bệnh truyền nhiễm lưu hành như lao, sốt xuất huyết, sốt rét; đến các bệnh truyền nhiễm mới nổi như COVID-19, đậu mùa khỉ, tay chân miệng; đề kháng kháng sinh; bệnh lây truyền từ động vật sang người.
Bên cạnh đó, OUCRU còn phát triển các nhóm về mô hình hóa và thống kê để dự báo, phân tích dịch tễ, cũng như nghiên cứu khoa học xã hội nhằm đánh giá những tác động của y tế và dịch bệnh đối với cộng đồng.
* Nhìn lại chặng đường phát triển và những thành tựu của OUCRU, theo ông, đâu là chìa khóa tạo nên sự thành công vững chắc của đơn vị như ngày hôm nay?
- Có rất nhiều yếu tố tạo nên thành công ngày hôm nay, tựu trung lại, OUCRU may mắn có được các yếu tố "thiên thời, địa lợi, nhân hòa".
Về "thiên thời", chúng tôi luôn nỗ lực đón đầu làn sóng phát triển của các công nghệ y sinh mới, kết hợp với nhu cầu nghiên cứu cấp bách về bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam và trong khu vực.
Về "địa lợi", việc được UBND TP.HCM đầu tư trụ sở làm việc vào năm 2001 trong khuôn viên Bệnh viện Bệnh nhiệt đới là sự hỗ trợ rất đặc biệt, tạo nền tảng để OUCRU phát triển suốt 35 năm qua. OUCRU sẽ khó có thể phát triển nếu thiếu sự đồng hành và chỉ đạo của UBND TP.HCM, Bộ Y tế, Sở Y tế TP.HCM và Bệnh viện Bệnh nhiệt đới.
Về "nhân hòa". Đó là sự hậu thuẫn chuyên môn từ Đại học Oxford, nguồn tài trợ bền bỉ của Quỹ Wellcome, và trên hết là một tập thể nhân sự giàu tâm huyết cũng như mối quan hệ hợp tác bền vững giữa OUCRU và Bệnh viện Bệnh nhiệt đới cùng các đối tác chiến lược trong và ngoài nước.
Ở OUCRU, các nhà khoa học trẻ không bao giờ phải độc hành. Họ luôn có những người dẫn đường (mentor) sát cánh để định hướng, tiếp lửa và giữ lửa qua những giai đoạn “thử nghiệm lâm sàng” dài đằng đẵng kéo dài từ 5 - 10 năm và có thể lâu hơn.
* Bước vào cương vị mới, ông đặt ra những mục tiêu chiến lược nào cho OUCRU trong chặng đường 5 - 10 năm tới?
- Tôi mong OUCRU sẽ tiếp tục nhận được sự đồng hành của Bộ Y tế, Sở Y tế TP.HCM, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới cùng các đối tác trong và ngoài nước để xây dựng đội ngũ nhà nghiên cứu trẻ đạt chuẩn khu vực và quốc tế, đóng góp cho khoa học y sinh và hệ thống y tế Việt Nam.
Trong 5-10 năm tới, chúng tôi tập trung vào bốn định hướng lớn: mở rộng hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước; đào tạo thế hệ lãnh đạo khoa học kế cận; triển khai các nghiên cứu về bệnh truyền nhiễm đạt tầm quốc tế nhưng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của Việt Nam; duy trì năng lực sẵn sàng ứng phó với các bệnh truyền nhiễm mới nổi, cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ hoạch định chính sách.
Điều quan trọng nhất, nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở các công bố quốc tế mà phải tạo ra những giải pháp, sản phẩm có thể ứng dụng vào thực tiễn, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển ngành y tế.
* Xin cảm ơn Giáo sư!
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Chiều nay 3.7, thông tin từ Phòng Cảnh sát PCCC - cứu nạn cứu hộ Công an thành phố Huế cho biết đơn vị vừa phối hợp giải cứu nạn nhân bị mắc kẹt cánh tay vào máy sản xuất hạt nhựa trên địa bàn.
Trước đó, vào khoảng 3 giờ 40 phút sáng nay 3.7, Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực 4 nhận tin báo từ Trung tâm Thông tin chỉ huy 114 về vụ tai nạn lao động cần cứu nạn khẩn cấp tại Công ty TNHH xuất và đầu tư T.L (đóng trên địa bàn xã Phú Hồ, thành phố Huế).
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, đơn vị đã điều động phương tiện chuyên dụng cùng các cán bộ, chiến sĩ nhanh chóng cơ động đến hiện trường.
Đến khoảng 3 giờ 51 phút, lực lượng cứu nạn, cứu hộ tiếp cận hiện trường. Thời điểm này, cánh tay trái của nạn nhân N.K (17 tuổi, ở phường Mỹ Thượng) bị cuốn và mắc kẹt sâu bên trong hệ thống máy cơ khí tái chế hạt nhựa.
Lực lượng cứu nạn, cứu hộ khu vực 4 phối hợp cùng Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ khu vực 1 khẩn trương triển khai các biện pháp kỹ thuật nhằm phá dỡ máy cơ khí, tìm phương án giải cứu nạn nhân.
Tuy nhiên, do cấu trúc máy phức tạp và vị trí mắc kẹt hiểm hóc, các biện pháp kỹ thuật thông thường không đem lại hiệu quả. Đến khoảng 8 giờ 30 phút, các nhân viên y tế sau khi đánh giá tình hình sức khỏe của nạn nhân đã quyết định tiến hành các biện pháp cấp cứu tại chỗ.
Sau khi hội chẩn và thống nhất phương án giữa các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường, đến khoảng 10 giờ 10 phút, các nhân viên y tế đã phẫu thuật cưa phần tay bị mắc kẹt để đưa N.K ra khỏi máy.
Nạn nhân sau đó đã được lực lượng chức năng băng bó vết thương và chuyển ngay đến bệnh viện để tiếp tục điều trị cấp cứu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Những hàng chè Biển Hồ xanh mướt trải dài bên hồ Ya Lũ, cạnh chùa Bửu Minh và hàng thông trăm tuổi ở xã Biển Hồ (Gia Lai) từ lâu đã trở thành điểm nhấn thu hút khách địa phương lẫn du khách trong và ngoài nước. Theo quyết định mới, khu vực này sẽ không bị thay thế bởi cà phê, dù áp lực kinh tế ngày càng lớn.
Từ thời Pháp thuộc, chè Biển Hồ là một trong ba đồn điền chè danh tiếng nhất cao nguyên, cùng với chè Bàu Cạn (Gia Lai) và chè B'lao (Lâm Đồng). Trải qua nhiều biến động lịch sử, vùng chè vẫn được duy trì, dù các lứa chè nguyên thủy đã dần được thay thế.
Không chỉ mang giá trị nông nghiệp, chè Biển Hồ còn góp phần tạo nên không gian cảnh quan đặc trưng phía tây Gia Lai. Sự kết hợp giữa đồi chè, hàng thông cổ thụ và chùa Bửu Minh tạo thành quần thể sinh thái - văn hóa hiếm có, vừa mang dấu ấn lịch sử vừa giàu tiềm năng du lịch.
Thực tế sản xuất chè lại không thuận lợi. Theo báo cáo của Công ty cổ phần chè Biển Hồ, hoạt động kinh doanh nhiều năm qua gặp khó do tiêu thụ chậm, dẫn đến thua lỗ kéo dài.
Tháng 6.2025, UBND tỉnh Gia Lai đã đồng ý cho doanh nghiệp chuyển đổi hơn 236 ha chè kém hiệu quả sang trồng cà phê, loại cây đang mang lại giá trị kinh tế vượt trội tại Tây nguyên nhờ giá tăng cao trong hai niên vụ gần đây.
Tuy nhiên, phần diện tích hơn 62 ha chè Biển Hồ còn lại được xác định là "vùng bất khả xâm phạm". Đây là khu vực liền kề hồ Ya Lũ, chùa Bửu Minh và hàng thông trăm tuổi, có giá trị đặc biệt về cảnh quan, lịch sử và du lịch.
Dù vậy, áp lực chuyển đổi chưa dừng lại. Một số hộ dân nhận khoán cùng doanh nghiệp tiếp tục đề nghị chuyển đổi thêm khoảng 40 ha chè tại khu vực hồ Ya Lũ sang trồng cà phê.
Trước đề xuất này, Phó chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp đã chủ trì cuộc họp với các sở, ngành và UBND xã Biển Hồ. Kết luận cuộc họp nêu rõ: giữ nguyên toàn bộ hơn 62 ha chè Biển Hồ, không chuyển đổi thêm.
Theo lãnh đạo tỉnh, khu vực này không chỉ là không gian cảnh quan đặc trưng mà còn nằm trong ranh giới nghiên cứu lập quy hoạch chung Khu du lịch Biển Hồ - Chư Đang Ya đến năm 2050, một dự án trọng điểm của Gia Lai.
Lãnh đạo tỉnh cũng thẳng thắn nhìn nhận việc bảo tồn chè Biển Hồ không đồng nghĩa với việc bỏ qua đời sống người dân. Ông Dương Mah Tiệp yêu cầu các đơn vị liên quan đánh giá rõ hiệu quả sản xuất và mức sống của các hộ nhận khoán để xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Đồng thời, Công ty cổ phần chè Biển Hồ phải tiếp tục thu mua toàn bộ chè búp tươi đạt tiêu chuẩn từ người dân. "Việc quản lý, sử dụng diện tích chè phải đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, đồng thời gắn với yêu cầu bảo tồn cảnh quan, phát triển du lịch theo định hướng quy hoạch", ông Tiệp nhấn mạnh.
Quyết định giữ lại hơn 62 ha chè Biển Hồ cho thấy lựa chọn của Gia Lai: không đánh đổi giá trị cảnh quan - lịch sử lấy lợi ích kinh tế ngắn hạn, đồng thời tìm lời giải cân bằng giữa bảo tồn và sinh kế.
Tin Gốc: Thanh Niên

