Sáng 22-4, Tập đoàn Vingroup (VIC) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026. Đây là một trong số ít dịp Chủ tịch Phạm Nhật Vượng, người giàu nhất Đông Nam Á, xuất hiện trước công chúng.
Giữ phong cách quen thuộc, ông Vượng trả lời thẳng thắn, trực diện hầu hết các câu hỏi từ cổ đông, không né tránh những vấn đề được quan tâm.
Dù theo kế hoạch, phần thảo luận chỉ kéo dài 15 phút, nhưng thực tế đã kéo dài gần 1 giờ khi lượng câu hỏi liên tục được đưa ra, khiến không khí hội trường trở nên sôi động.
Ngoài những câu hỏi liên quan tình hình kinh doanh, có cổ đông còn bất ngờ hỏi về “một ngày làm việc bình thường” của ông Phạm Nhật Vượng diễn ra như thế nào khiến cả hội trường bật cười.
Ông Vượng không né tránh, chia sẻ rằng lịch sinh hoạt của mình không có nhiều khác biệt so với mọi người.
“Thực ra cũng giống như mọi người thôi, sáng dậy tập thể dục, ăn sáng rồi đi làm. Chiều làm xong thì về nhà, ăn cơm và nghỉ ngơi. Ngoài giờ làm việc, tôi gần như không làm việc, trừ những trường hợp khẩn cấp”, ông chia sẻ.
Tuy vậy với vai trò lãnh đạo, ông cho biết vẫn luôn phải suy nghĩ, quan tâm đến các vấn đề của doanh nghiệp. “Có khi nửa đêm nghĩ ra điều gì thì ghi lại để hôm sau xử lý, tránh quên. Còn lại thì không có gì khác thường”, ông nói.
Một cổ đông khác đứng lên đặt câu hỏi về định hướng “doanh nghiệp kiến tạo” của Vingroup trong nền kinh tế, cũng như các lĩnh vực cụ thể mà tập đoàn sẽ tập trung trong những năm tới.
Trả lời, Chủ tịch Vượng cho biết định hướng kiến tạo sẽ được triển khai trên nguyên tắc linh hoạt, dựa vào năng lực cốt lõi của doanh nghiệp.
“Về nguyên tắc, lĩnh vực nào cần kiến tạo thì chúng tôi sẽ tham gia. Những gì chúng tôi có thế mạnh, có khả năng làm tốt thì sẽ nỗ lực thực hiện”, ông nói.
Ông cũng nhấn mạnh, với quy mô của một doanh nghiệp, Vingroup không thể làm tất cả mọi thứ mà sẽ tập trung vào những lĩnh vực có thể tạo ra khác biệt.
“Chúng tôi hướng tới việc thay đổi cách làm, thúc đẩy những mô hình mới, tạo ra hiệu quả cao hơn so với trước đây để mang lại kết quả tốt hơn cho thị trường và các bên liên quan”, ông chia sẻ.
Tuy nhiên chủ tịch Vingroup không nêu chi tiết các lĩnh vực cụ thể, cho biết tập đoàn sẽ tiếp tục phát triển trong phạm vi hệ sinh thái hiện có và mở rộng theo hướng phù hợp trong thời gian tới.
Một cổ đông đặt câu hỏi về mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong năm nay. Theo cổ đông này, nhiều tổ chức quốc tế tỏ ra hoài nghi và dự báo mức tăng trưởng chỉ khoảng 5-6%.
Do đó, cổ đông muốn biết quan điểm của chủ tịch Vingroup, một trong những doanh nhân có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, về triển vọng này.
Trả lời, Chủ tịch Vượng cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao hoàn toàn có thể đạt được nếu có sự quyết liệt và đồng lòng từ toàn bộ hệ thống.
“Nếu quyết liệt thì hoàn toàn có thể làm được. Nhưng phải có sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân”, ông Vượng nói.
Ông cũng nhấn mạnh vai trò của việc huy động nguồn lực trong xã hội. Theo ông, nếu dòng tiền không được đưa vào sản xuất – kinh doanh mà chỉ tích trữ, chẳng hạn như mua vàng để cất giữ, thì sẽ hạn chế nguồn vốn cho phát triển.
“Chỉ khi tất cả cùng quyết tâm, cùng hành động thì mới có thể đạt được mục tiêu. Sự thịnh vượng của một quốc gia không thể do một nhóm người tạo ra, mà cần sự đồng lòng của toàn xã hội”, ông Vượng chia sẻ.
Bên cạnh đó, ông cho rằng xuất phát điểm của Việt Nam còn thấp, nên dư địa để tăng trưởng cao vẫn rất lớn. Tuy nhiên để đạt được điều này đòi hỏi nỗ lực mạnh mẽ, không thể kỳ vọng kết quả vượt trội nếu chỉ làm theo cách bình thường.
“Không có gì phi thường mà làm một cách bình thường được”, ông Vượng nói.
Công ty cổ phần Dịch vụ hàng không sân bay Đà Nẵng (MASCO) vừa gửi văn bản giải trình biện pháp và lộ trình khắc phục tình trạng chứng khoán bị cảnh báo.
Cụ thể, ngày 27-3-2026, công ty nhận được thông báo của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội về việc cổ phiếu MAS tiếp tục duy trì diện bị cảnh báo do lợi nhuận sau thuế chưa phân phối tại ngày 31-12-2025 trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán là số âm.
Mặc dù lợi nhuận sau thuế năm 2025 doanh nghiệp đạt 8,6 tỉ đồng, tăng gần 18% nhưng lỗ lũy kế tại thời điểm cuối năm là 1,7 tỉ đồng. Số lỗ lũy kế cuối năm 2024 là 9,1 tỉ đồng.
Công ty này cho biết hoạt động kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực liên quan đến ngành hàng không, như cung ứng suất ăn máy bay cho các hãng hàng không, bán hàng tại các sân bay miền Trung, đào tạo nghề lái xe ô tô, mô tô... Tuy nhiên, giai đoạn 2020-2022 ngành hàng không bị ảnh hưởng rất nặng nề bởi dịch COVID-19. Do đó doanh thu bị giảm mạnh và ghi nhận lỗ lớn năm 2020 và năm 2021.
Giai đoạn 2022-2025, thị trường hàng không phục hồi chậm nên lượng khách tại các sân bay miền Trung tuy có tăng trưởng nhưng vẫn còn thấp.
Trong văn bản giải trình, doanh nghiệp cho biết mặc dù doanh thu năm 2025 tăng trưởng mạnh (gần 27%) nhưng có sự thay đổi về cơ cấu. Mảng cung ứng suất ăn cho các chặng bay quốc tế (tỉ lệ lãi gộp cao) vẫn còn thấp. Ngoài ra, chi phí sản xuất tăng cao trong khi giá dịch vụ cung cấp cho các hãng tăng chậm hơn, ảnh hưởng đến lợi nhuận.
Bên cạnh đó, sự thay đổi, sáp nhập các sở ngành và chuyển đổi chức năng quản lý lĩnh vực sát hạch lái xe, thay đổi chủng loại phương tiện đào tạo hạng C tác động lớn đến mảng đào tạo lái xe ô tô, mô tô. Doanh thu và lợi nhuận lĩnh vực này cùng sụt giảm.
Công ty này hiện có 2 trung tâm đào tạo lái xe tại Đà Nẵng và Huế. Doanh thu mảng đào tạo lái xe năm 2025 ở mức 36,22 tỉ đồng, chiếm khoảng 16% tổng doanh thu.
Năm vừa qua, doanh thu đào tạo lái xe tại thị trường Huế giảm do thay đổi chính sách đào tạo cho các học viên là bộ đội xuất ngũ. Ngoài ra, việc chuyển đổi đơn vị sát hạch, cấp giấy phép lái xe giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đã làm gián đoạn hoạt động đào tạo từ tháng 12-2024 đến tháng 7-2025 ảnh hưởng không tốt đến kết quả kinh doanh của đơn vị.
Báo cáo thường niên năm 2025 cho biết công ty có 5 lĩnh vực kinh doanh chính gồm cung cấp suất ăn trên tàu bay; bán hàng và dịch vụ nhà hàng tại khu vực nhà ga hàng không sân bay; dịch vụ phòng chờ hạng C; dịch vụ vận chuyển hành khách và tổ lái tiếp viên; đào tạo lái xe mô tô, ô tô các hạng. Dịch vụ cung ứng suất ăn trên tàu bay là lĩnh vực cốt lõi chiếm tỉ trọng gần 70 % doanh thu và lợi nhuận.
Đơn vị này nêu ra một số giải pháp khắc phục tình trạng lỗ lũy kế như giảm chi phí, tăng lợi nhuận như đẩy mạnh marketing, tìm kiếm hợp đồng cung cấp suất ăn cho các hãng hàng không nước ngoài, phát triển thêm các mảng kinh doanh ngoài ngành hàng không, tìm kiếm và khai thác thêm các nhà cung cấp có giá tốt hơn...
Theo dữ liệu từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), năm 1989, nhóm 10% hộ gia đình giàu nhất nắm giữ khoảng 32% tổng tài sản quốc gia. Đến năm 2025, tỷ lệ này đã tăng vọt lên 68%, phản ánh xu hướng tích tụ tài sản ngày càng mạnh ở tầng lớp thượng lưu.
Hiện tượng này thường được mô tả bằng khái niệm "nền kinh tế hình chữ K" - nơi một nhánh đi lên nhanh chóng, đại diện cho nhóm giàu có ngày càng thịnh vượng, trong khi nhánh còn lại phản ánh phần lớn người dân đang tụt lại phía sau về khả năng tích lũy tài sản.
Dù tài sản của người Mỹ ở hầu hết các nhóm thu nhập đều tăng trong vài năm gần đây, tốc độ tăng trưởng không đồng đều.
Trong 3 năm qua, tài sản ròng của nhóm 1% giàu nhất nước Mỹ tăng khoảng 30%, trong khi nhóm 40% trung lưu chỉ ghi nhận mức tăng chưa tới 10%. Điều này khiến khoảng cách giàu nghèo tiếp tục bị kéo giãn, đặc biệt sau giai đoạn lạm phát cao nhất trong nhiều thập kỷ.
Theo các chuyên gia, sự chênh lệch này không chỉ xuất phát từ mức thu nhập, mà còn phụ thuộc vào loại tài sản mà mỗi nhóm sở hữu và khả năng tận dụng các cơ hội tài chính.
Lạm phát tác động mạnh hơn đến người thu nhập thấp
Một trong những nguyên nhân lớn nhất giúp người giàu tiếp tục gia tăng tài sản là họ sở hữu phần lớn các tài sản có giá trị tăng mạnh trong những năm gần đây, đặc biệt là bất động sản và cổ phiếu.
Hiện nhóm 20% người giàu nhất nắm giữ hơn một nửa tổng giá trị nhà ở tại Mỹ. Trong bối cảnh giá nhà liên tục tăng, khối tài sản của họ cũng phình to theo thời gian.
Ngược lại, lãi suất vay mua nhà cao khiến nhiều hộ thu nhập thấp khó tiếp cận thị trường bất động sản, với nhóm 20% thu nhập thấp nhất chỉ sở hữu khoảng 3% tổng giá trị nhà ở của cả nước.
Trên thị trường chứng khoán, lợi thế của người giàu còn rõ rệt hơn. Nhóm 20% người giàu nhất sở hữu hơn 75% tổng tài sản tài chính của người Mỹ, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư. Riêng nhóm 1% giàu nhất nắm giữ hơn 25% tổng lượng cổ phiếu trên toàn thị trường.
Trong 3 năm qua, chỉ số S&P 500 tăng tới 86,2%, mang lại mức sinh lời vượt trội cho những người sở hữu cổ phiếu. Trong khi đó, tiền mặt chỉ tạo ra lợi suất trung bình dưới 1% mỗi năm. Điều này đồng nghĩa người giàu - những người sở hữu phần lớn tài sản tài chính - được hưởng lợi nhiều hơn đáng kể so với các nhóm còn lại.
Không chỉ có lợi thế về tài sản, người giàu còn chịu tác động ít hơn từ lạm phát.
Các hộ thu nhập thấp thường dành phần lớn ngân sách cho những nhu cầu thiết yếu như nhà ở, thực phẩm và năng lượng - những mặt hàng có tốc độ tăng giá cao trong những năm gần đây. Trong khi đó, nhóm thu nhập cao chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ và hàng hóa có mức tăng giá thấp hơn.
Theo chi nhánh Fed tại Minneapolis, trong giai đoạn 2005-2023, chi phí sinh hoạt thực tế của nhóm 20% thu nhập thấp nhất tăng 57%, trong khi mức tăng đối với nhóm 20% thu nhập cao nhất chỉ là 46%.
Nhờ nắm giữ phần lớn bất động sản và cổ phiếu - hai loại tài sản tăng giá mạnh nhất trong những năm gần đây - đồng thời ít chịu tác động từ lạm phát, tầng lớp giàu có tiếp tục mở rộng khối tài sản của mình với tốc độ vượt xa phần còn lại của nền kinh tế.
Kết quả là "nền kinh tế hình chữ K" ngày càng rõ nét, khi của cải tiếp tục tập trung vào nhóm giàu nhất, trong khi phần lớn người dân phải đối mặt với nhiều thách thức hơn trong việc tích lũy tài sản và cải thiện vị thế tài chính.
Từ góc nhìn của chuyên gia kinh tế từng làm việc trong lĩnh vực ngân hàng quốc tế và theo dõi quá trình phát triển của Việt Nam nhiều năm, ông Andreas Stoffers nói thách thức lớn hơn là làm sao Trung tâm tài chính ở Việt Nam khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, từ đội ngũ lao động trong nước đến dòng chất xám hồi hương mang theo kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế.
Khi làm việc tại Deutsche Bank Việt Nam vào năm 2009, ông cho biết đã gặp không ít giao dịch viên ngân hàng người Việt có nền tảng đào tạo và kỹ năng nghề nghiệp khá tốt. Điều đó cho thấy Việt Nam may mắn sở hữu một nguồn nhân lực nội địa dồi dào. Vì vậy, việc dựa chủ yếu vào nguồn lực trong nước khi xây dựng một IFC là "một lựa chọn thực tế và hợp lý".
So với thời điểm năm 2009, lực lượng lao động ngành ngân hàng - tài chính của Việt Nam đã có những chuyển biến rất đáng kể. Thời điểm đó kinh nghiệm quốc tế còn hạn chế, tư duy chiến lược và khả năng xử lý các giao dịch xuyên biên giới phức tạp chưa thực sự rõ nét.
Tuy nhiên qua hơn một thập kỷ, Việt Nam ngày càng có nhiều ngân hàng viên và chuyên gia tài chính năng lực cao, có tư duy quốc tế. Sự phát triển này được hỗ trợ bởi cải thiện chất lượng giáo dục ĐH, đặc biệt là tại các ĐH hàng đầu. Nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các trường này giờ đã có thể cạnh tranh ở tầm khu vực.
"Số lượng người lao động, chuyên gia Việt kiều trở về cũng ngày càng tăng. Họ mang theo kinh nghiệm quốc tế, tiêu chuẩn chuyên nghiệp và mạng lưới toàn cầu. Theo tôi, nhóm này là một tài sản chiến lược chưa được khai thác đầy đủ", GS Andreas Stoffers đánh giá.
Theo ông, tiềm năng của lực lượng lao động được đào tạo tại nước ngoài này cần được tích hợp có hệ thống hơn vào giáo dục và đào tạo tại Việt Nam.
Ngoài việc trở về nước để làm nhà đầu tư hay quản lý, các chuyên gia Việt kiều hay du học sinh có thể trở thành giảng viên, cố vấn, thỉnh giảng hoặc tham gia thiết kế chương trình đào tạo, nhất là hình thức đào tạo thực hành và song hành. Sự tham gia của họ giúp thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn kinh doanh quốc tế.
Bên cạnh nhân lực nội địa, Việt Nam vẫn cần các chuyên gia nước ngoài, đặc biệt trong giai đoạn đầu và giữa của quá trình phát triển IFC. Sự kết hợp hợp lý giữa nhân lực nội địa và quốc tế sẽ tăng tốc việc học hỏi thể chế qua lại, nâng cao uy tín và giảm rủi ro cho quá trình thử - sai tốn kém.
Phân tích từ quan sát của mình, ông nói trọng thành tích và cầu tiến là đặc điểm ăn sâu trong văn hóa Việt, cũng có thể xem như yếu tố tạo nên điểm mạnh cho lực lượng sinh viên và người lao động Việt Nam. Đây là nền tảng quan trọng để người Việt thành công trong những môi trường quốc tế đòi hỏi cao như các trung tâm tài chính.
Bởi các trung tâm này thường tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh, đặc biệt trong giáo dục ĐH, nghiên cứu và đào tạo chuyên môn. Nơi nào dịch vụ tài chính tinh vi phát triển, nhu cầu về giáo dục chất lượng cao sẽ gần như tự động xuất hiện.
"Ý tưởng biến TP.HCM không chỉ thành IFC mà còn trở thành trung tâm giáo dục khu vực là tham vọng nhưng hợp lý về mặt chiến lược", GS Andreas Stoffers nhận định.
Thẳng thắn, ông cho rằng thách thức trước mắt là nhiều trường ĐH vẫn gặp khó khăn về đảm bảo chất lượng, minh bạch, quản trị và tuân thủ. Nếu TP.HCM muốn trở thành trung tâm giáo dục khu vực thực thụ, những cơ sở này cần được nâng cấp một cách hệ thống.
Thêm nữa, mức lương giảng viên cần trở nên cạnh tranh hơn để thu hút các chuyên gia giàu kinh nghiệm từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy và nghiên cứu. Đồng thời cần dẹp bớt rào cản hành chính với các chuyên gia trong quá trình giảng dạy.
Ông cũng đánh giá sinh viên Việt Nam tự tin, năng động và có tư duy quốc tế hơn nhiều so với trước đây. Nhiều bạn chủ động tìm kiếm cơ hội tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế, chương trình liên kết và nghiên cứu ứng dụng. Đây là yếu tố then chốt vì một trung tâm giáo dục không được tạo ra chỉ có cơ sở vật chất hay bảng xếp hạng mà cần có sinh viên, giảng viên sẵn sàng gắn kết và học hỏi từ thế giới.
TP.HCM cũng không cần sao chép Singapore, London hay Frankfurt. Sức mạnh của Việt Nam nằm ở việc phát triển mô hình riêng, kết hợp giáo dục quốc tế hóa với lợi thế nội địa như cơ cấu dân số, văn hóa cầu tiến và hội nhập khu vực. Nếu cải cách được thực thi liên tục, TP.HCM có thể trở thành ngọn hải đăng khu vực về giáo dục, tài chính và đổi mới sáng tạo tương tự các trung tâm như Dubai, Hong Kong hay Singapore.
"Nếu đà cải cách này được duy trì, đi kèm với sự hấp dẫn của sự nghiệp học thuật và mối liên kết chặt chẽ hơn giữa trường ĐH và doanh nghiệp, TP.HCM hoàn toàn có cơ hội trở thành trung tâm giáo dục khu vực cùng với vai trò tài chính và đổi mới sáng tạo", GS Andreas Stoffers nói.