Tuy nhiên để hiện thực hóa mục tiêu phát triển khoảng 1 triệu căn nhà ở xã hội, TP.HCM còn phải vượt qua nhiều rào cản về quỹ đất, nguồn vốn và cơ chế đầu tư.
19h tối, trong con hẻm nhỏ gần Khu công nghiệp Tân Bình (phường Tây Thạnh, TP.HCM), căn phòng trọ chưa đầy 20m2 của gia đình anh N.V.H. bắt đầu đỏ lửa. Căn phòng nhỏ vừa là phòng khách, phòng ngủ, phòng vệ sinh, nhà bếp, cũng là nơi hai đứa con anh H. chen chúc học bài trên chiếc bàn xếp. 10 năm gắn bó với TP là 10 năm anh H. quẩn quanh trong không gian ngột ngạt này.
“Tụi tôi cũng muốn đổi chỗ tốt hơn nhưng giá thuê nhà cứ tăng liên tục, còn mua nhà thì thật sự không dám nghĩ tới. Đó cũng là lý do tôi ở lì trong căn trọ này đã 10 năm”, anh H. bộc bạch.
Anh làm công nhân cho một công ty điện tử, còn chị vợ chọn làm cho một công ty thủy sản đông lạnh. Tháng nào công ty có nhiều đơn hàng, đồng nghĩa được tăng ca thì tổng thu nhập hai vợ chồng khoảng 20 triệu đồng/tháng. Anh H. kể sau khi trừ tiền thuê trọ (1,8 triệu đồng/tháng), học phí của hai con và sinh hoạt phí cho cả bốn người, khoản tích lũy còn lại chẳng đáng là bao.
Cạnh dãy trọ anh H. không xa, chị Loan (quê Tây Ninh, công nhân may) vừa tan ca chiều, đang vội vàng chuẩn bị bữa tối cho cả nhà. Khi được hỏi “giấc mộng an cư”, chị Loan nói ngay không giám nghĩ đến. Vợ chồng chị chỉ mong tìm được một nhà trọ rộng hơn phòng trọ chật hẹp đang thuê, với một mức giá phải chăng, được hỗ trợ trong việc đăng ký tạm trú (thuận tiện cho việc đăng ký trường học cho con – PV), an toàn, an ninh và mát mẻ là đủ.
Thực tế trong nhiều năm, chính sách nhà ở của Việt Nam chủ yếu hướng tới mục tiêu giúp người dân sở hữu nhà. Từ các chương trình tín dụng ưu đãi đến phát triển nhà ở xã hội, trọng tâm thường là bán hoặc thuê mua.
Khi giá nhà liên tục tăng cao và vượt xa khả năng chi trả của đa số người lao động, nhiều người trẻ đang chuyển từ mục tiêu sở hữu sang thuê nhà dài hạn. Với họ, một nơi ở ổn định, đầy đủ tiện ích và phù hợp thu nhập là lựa chọn thực tế hơn việc gánh khoản vay mua nhà kéo dài hàng chục năm.
Trong định hướng phát triển nhà ở mới, TP.HCM xác định nhà ở cho thuê là một trụ cột quan trọng, đặt mục tiêu phát triển khoảng 50.000 căn nhà ở xã hội cho thuê, đồng thời nghiên cứu chuyển đổi một phần quỹ nhà tái định cư và tài sản công chưa khai thác hiệu quả để bổ sung nguồn cung.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Văn Lợi, Tổng giám đốc Công ty CP đầu tư xây dựng – sản xuất dịch vụ du lịch Thiên Phát, cho biết nhu cầu thuê nhà của người lao động nhập cư hiện rất lớn, do đó cần dành khoảng 60 – 80% quỹ nhà ở xã hội cho mục đích cho thuê.
Tuy nhiên, để phát triển phân khúc này, cần tháo gỡ đồng thời các vướng mắc về quỹ đất, giá đất và cơ chế tài chính cho doanh nghiệp.
Ông cho rằng nhà ở xã hội không nên được xây dựng trên những khu đất xa trung tâm, thiếu kết nối hạ tầng vì dễ hình thành các “thành phố ngủ”. Thay vào đó, các dự án cần đặt gần khu công nghiệp, khu chế xuất, gắn với hệ sinh thái dịch vụ, giáo dục, y tế và giao thông để phục vụ trực tiếp người lao động.
Dẫn chứng từ dự án của doanh nghiệp tại Bình Dương, ông Lợi cho biết khu nhà ở được quy hoạch đồng bộ, nằm gần bệnh viện, trường học và tuyến metro, giúp nâng cao chất lượng sống cho công nhân.
Do đó dự án khi phát triển sẽ đồng bộ về hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, thực sự phục vụ được người dân, nhất là người lao động trong khu công nghiệp. Hiện đang vận hành gần 400 căn nhà cho công nhân thuê, ông Lợi cho rằng làm nhà ở xã hội cho thuê “khó hơn rất nhiều lần so với làm nhà ở thương mại” do đối tượng thụ hưởng bị giới hạn, quy trình xét duyệt chặt chẽ và thời gian thu hồi vốn kéo dài.
Bên cạnh đó doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về thủ tục pháp lý và cơ chế xác định giá đất. Nếu tự bỏ vốn mua đất để làm nhà ở xã hội, doanh nghiệp thiếu cơ sở để tính toán chi phí do chưa có quy định rõ ràng về mức giá được khấu trừ. Vì vậy, ông Lợi kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế về giá đất, đồng thời bổ sung các chính sách tín dụng và ưu đãi đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển nhà ở xã hội cho thuê.
Theo ông Trương Anh Tuấn – Chủ tịch HĐQT Hoàng Quân, phát triển nhà ở xã hội cho thuê là hướng đi phù hợp với nhu cầu thực tế nhưng đang vướng bài toán vốn, lợi nhuận và thời gian hoàn vốn. Trong khi các dự án cho thuê cần 15 – 20 năm mới thu hồi vốn, doanh nghiệp thường chỉ được vay ngân hàng tối đa 5 năm, thậm chí ngắn hơn, buộc phải bán sản phẩm để trả nợ.
Lãi suất vay hiện cao hơn đáng kể so với tỉ suất sinh lời từ hoạt động cho thuê.
Ông Tuấn ví dụ một căn nhà trị giá 1 tỉ đồng có thể phải trả lãi vay 10 triệu đồng/tháng, nhưng chỉ cho thuê được 5 triệu đồng/tháng, dẫn đến doanh nghiệp sẽ gặp khó. Do đó, ông Tuấn cho hay cần có chính sách kéo dài thời hạn vay và giảm lãi suất cho vay đối với phân khúc này.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch HoREA, cho rằng nhu cầu nhà ở xã hội tại TP.HCM có thể lên tới 1 triệu căn, song nguồn cung nhà cho thuê vẫn rất hạn chế do hiệu quả tài chính chưa đủ hấp dẫn. Doanh nghiệp đang phải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư dài hạn, trong khi lợi nhuận bị khống chế ở mức 10%.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Lê Hữu Nghĩa, Tổng giám đốc Công ty Lê Thành, kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế ưu đãi riêng cho nhà ở cho thuê. Trong đó, cần miễn tiền sử dụng đất trong thời gian vận hành dự án, chỉ thu khi chuyển sang bán; đồng thời áp dụng ưu đãi thuế và các gói tín dụng dài hạn 15 – 20 năm để khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho người lao động.
Về mặt quản lý đất đai, ông kiến nghị thời gian miễn thu tiền sử dụng đất đối với các dự án nhà ở thương mại trong suốt thời gian vận hành cho thuê. Doanh nghiệp chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính này nếu chuyển đổi mục đích sang bán căn hộ. Riêng tại TP.HCM, ông đề xuất cần tích hợp ngay các chính sách hỗ trợ này vào Luật Đô thị đặc biệt, để tạo đà bứt phá cho chương trình nhà ở cho người lao động.
Về khía cạnh tài chính và thuế, ông mong muốn Nhà nước khôi phục các mức ưu đãi mạnh mẽ như trước đây. Cụ thể, cần áp dụng mức giảm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp lên tới 70% cho các dự án nhà ở xã hội cho thuê, thay vì mức 50% như loại hình để bán.
Các tổ chức tín dụng cần cung cấp các gói vay dài hạn, kéo dài từ 15 – 20 năm, với hạn mức giải ngân có thể đạt tới 85% tổng giá trị đầu tư dự án. Ngoài ra, việc hỗ trợ kinh phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngay tại dự án cũng là yếu tố then chốt để giảm áp lực chi phí cho chủ đầu tư, từ đó hạ giá thành thuê nhà cho người dân.
Chỉ số đại diện cho sàn chứng khoán TP HCM nối dài trạng thái hưng phấn, trái với dự đoán của nhiều nhóm phân tích về kịch bản điều chỉnh nhẹ sau nhịp tăng mạnh tuần trước. VN-Index có lúc giảm 15 điểm bởi áp lực xả hàng xuất hiện trong nhóm Vingroup, nhưng sau đó nhanh chóng lấy lại sắc xanh và liên tục nới rộng biên độ. Chỉ số đóng cửa tại 1.837 điểm, tăng hơn 1% so với tham chiếu, lên mức cao nhất một tháng rưỡi.
Sàn TP HCM có 154 mã chốt phiên trên tham chiếu, còn bên giảm xấp xỉ 150 mã. Rổ vốn hóa lớn ghi nhận sự phân hóa mạnh với 19 mã tăng, trong khi chỉ có 7 mã giảm.
Thị trường chịu sự chi phối mạnh của các cổ phiếu liên quan đến Tập đoàn Vingroup. Bốn mã thành phần đều tăng điểm, trong đó VHM chạm trần 145.100 đồng và chốt phiên trong tình trạng không có bên bán. Theo thống kê của Công ty Chứng khoán VnDirect, nhóm này đóng góp gần 15 điểm vào phiên tăng hôm nay.
Thép là nhóm ngành duy nhất có đà tăng đồng thuận. HPG hôm nay tích lũy 1,6% lên 28.450 đồng, còn HSG và NKG lần lượt đóng cửa trên tham chiếu 0,5%.
Các nhóm ngành khác đều phân hóa mạnh. Ở nhóm ngân hàng, VPB và MBB chốt phiên trong sắc đỏ, còn ngược lại có HDB, TCB và VCB tăng hơn 1%. Nhóm này cũng có đến 5 đại diện giữ nguyên tham chiếu, như SHB, LPB, KLB, OCB và NAB.
Cổ phiếu chứng khoán diễn biến tương tự khi bên tăng có các mã trụ như SSI, HCM, VND, VCK dù biên độ không quá lớn. Ngược lại, bên giảm gồm VIX, VPX và TCX với biên độ dưới 0,6%.
Dầu khí là nhóm ngành biến động tiêu cực nhất khi đồng loạt giảm sâu, bất chấp mỗi thùng dầu thế giới sáng nay tăng thêm 8%, lên gần 90 USD do căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu leo thang trở lại. BSR, đơn vị vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất, đứng đầu biên độ giảm với 2,1%. Các mã trụ khác như PLX, GAS, PVD lần lượt mất hơn 1%.
Thanh khoản sàn TP HCM đạt hơn 20.000 tỷ đồng, xuống mức thấp nhất hai tuần qua. Rổ vốn hóa lớn đóng góp gần 12.000 tỷ đồng trong số này. Dòng tiền tập trung cục bộ ở nhóm Vingroup. VIC và VHM chia nhau vị trí dẫn đầu, lần lượt đạt 1.000 tỷ đồng và 960 tỷ đồng.
Khối ngoại trở lại trạng thái xả hàng. Nhóm này giải ngân khoảng 2.600 tỷ đồng, trong khi bán ra chưa đến 3.200 tỷ đồng. VIC vào nhóm đóng góp nhiều nhất cho thị trường nhưng cũng chịu áp lực xả hàng quyết liệt từ nhà đầu tư nước ngoài với khối lượng bán ròng gần 5 triệu cổ phiếu.
Theo nhận định của nhóm phân tích Công ty Chứng khoán MB, thanh khoản và độ rộng không tăng trong giai đoạn VN-Index tiến về đỉnh cũ khiến thị trường đứng trước khả năng rung lắc trong tuần này. Chỉ số được dự đoán lùi về 1.770-1.780 điểm, tức giảm 60-70 điểm so với hiện tại. Tuy nhiên, đây được xem là cơ hội tốt để nhà đầu tư giải ngân hoặc cơ cấu danh mục.
Đây là nội dung thu hút sự chú ý của dư luận vì tại đại hội lần này, Sacombank dự kiến thông qua nhiều nội dung quan trọng. Đặc biệt, ngân hàng sẽ tiến hành bầu bổ sung thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT) nhiệm kỳ 2022-2026.
Ngân hàng cũng sẽ miễn nhiệm thành viên HĐQT đối với bà Nguyễn Đức Thạch Diễm. Bà Diễm trước đó đã có đơn từ nhiệm khỏi vị trí này và cũng đã thôi làm Tổng Giám đốc ngân hàng từ tháng 8-2025.
Ông Nguyễn Đức Thụy (sinh năm 1976, quê Ninh Bình) tốt nghiệp Đại học Bang Colorado (Mỹ). Ông là doanh nhân có nhiều năm kinh nghiệm quản trị và tham gia điều hành tại nhiều doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính, năng lượng và du lịch.
Cuối tháng 12-2025, ông Nguyễn Đức Thụy kết thúc nhiệm kỳ tại LPBank và gia nhập Sacombank với vai trò Quyền Tổng Giám đốc. Từ đầu tháng 3 tới nay, ông Thụy chính thức làm Tổng giám đốc ngân hàng này.
Một diễn biến đáng chú ý trước thêm đại hội cổ đông là Hội đồng quản trị Sacombank (mã chứng khoán: STB) đã bất ngờ bãi bỏ Tờ trình số 25/2026 ngày 18-3 về việc xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập.
Trước đó, Sacombank xin gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập đến hết năm 2030 với lý do: mặc dù trong quá trình thực hiện vẫn còn một số nội dung chưa thể hoàn thành theo đúng tiến độ đề ra, chủ yếu do công tác xử lý và thu hồi nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm của các khoản nợ tồn đọng còn gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào quá trình xử lý pháp lý. Một số tài sản bảo đảm có tính pháp lý phức tạp, cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục.
Mặt khác, việc khắc phục triệt để các tồn tại theo kết luận thanh tra cần gắn với quá trình củng cố lại hệ thống quản trị, quy trình nghiệp vụ và tổ chức bộ máy. Do đó, HĐQT ngân hàng này trình đại hội cổ đông thông qua việc gia hạn thời gian thực hiện Đề án.
Thế nhưng ngay sát thềm kỳ họp cổ đông, Sacombank bất ngờ rút bỏ tờ trình gia hạn thời gian tái cấu trúc ngân hàng.
Ngày mai 22-4, Sacombank sẽ tổ chức đại hội cổ đông thường niên năm 2026 tại tỉnh Phú Thọ.
Ý kiến được đại diện các hiệp hội, nhà đầu tư đưa ra tại tọa đàm Bảo đảm năng lượng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của TP HCM do báo Người lao động phối hợp Tổng công ty điện lực TP HCM (EVNHCM) tổ chức, ngày 5/5.
Ông Phan Thanh Lâm, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng tái tạo TP HCM, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ hay chi phí thiết bị - vốn đã giảm mạnh những năm gần đây - mà ở cơ chế thị trường, đặc biệt là mức giá mua điện dư quá thấp, chưa tạo được động lực tài chính.
Theo ông Lâm, sau giai đoạn bùng nổ với cơ chế giá FIT (FiT 1 và FiT 2) vào các năm 2019-2020, thị trường đã chững lại đáng kể. Các chính sách hiện hành chưa tạo được cú hích đủ mạnh, đặc biệt còn có một số rào cản.
Đầu tiên là thủ tục hành chính và quy trình triển khai còn phức tạp, đặc biệt khi có yếu tố bán điện lên lưới, khiến phần lớn người dân và doanh nghiệp lựa chọn phương án tự tiêu thụ thay vì tham gia sâu hơn vào thị trường điện.
Tiếp đến là thiếu các chính sách khuyến khích mang tính kinh tế rõ ràng. Ở nhiều quốc gia, người dân đầu tư điện mặt trời vì có cơ chế hỗ trợ cụ thể như ưu đãi thuế, tín dụng xanh, hoặc giá điện theo thời gian. Trong khi đó, tại Việt Nam, động lực tài chính hiện nay chưa đủ mạnh để tạo làn sóng đầu tư mới.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Toàn, đại diện nhóm nhà đầu tư năng lượng tái tạo tại TP HCM, cho rằng ở các khu công nghiệp TP HCM, mái nhà máy sản xuất mới lắp đặt khoảng 20% tiềm năng, còn hộ gia đình tham gia rất ít do bài toán kinh tế chưa khả thi.
"Người dân phát điện vào ban ngày nhưng đi làm, không sử dụng hết; phần điện dư bán lại với giá quá thấp không bù được tiền điện mua vào buổi tối", ông Toàn nói. Trong khi đó, người dân chỉ được bán tối đa 20% công suất lắp đặt thực tế với giá hiện hành chỉ hơn 800 đồng/kWh.
Theo ông, dự kiến sắp tới tỷ lệ bán điện dư lên lưới lên đến 50% cũng là một tín hiệu để phát triển điện mặt trời áp mái. Tuy nhiên, điều quan trọng là giá mua cần hấp dẫn hơn. "Cần có chính sách để giá mua điện dư tiệm cận với giá đầu tư thì mới đủ sức thu hút", ông Toàn nói.
Hiện theo quy định, điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu chỉ được bán lên lưới một phần dư với giá điện năng thị trường bình quân năm trước, thay vì cơ chế giá ưu đãi cố định như giai đoạn 2019-2020 (giá mua hiện tại 2.105 đồng/kWh, chưa bao gồm VAT). Giới chuyên môn cho rằng mức này chưa đủ tạo lợi nhuận rõ rệt cho các khoản đầu tư nhỏ lẻ.
Trong khi đó, theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030 cả nước đặt mục tiêu khoảng 50% mái nhà công sở và hộ gia đình lắp điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, tương đương quy mô 26.000 MW.
Với TP HCM, nơi nhu cầu điện cho tăng trưởng kinh tế, kinh tế số và AI được dự báo tăng nhanh, việc tận dụng hàng triệu mái nhà như những "nhà máy điện nhỏ" được xem là giải pháp quan trọng để bổ sung nguồn điện tại chỗ.
Bà Nguyễn Thị Kim Ngọc, Phó giám đốc Sở Công Thương TP HCM, cho biết thành phố hiện có 22.355 hệ thống điện mặt trời mái nhà với tổng công suất khoảng 1.832 MWp, song dư địa phát triển vẫn còn rất lớn ở khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Theo bà Ngọc, TP HCM đang xây dựng một nghị quyết riêng về cơ chế, chính sách hỗ trợ điện mặt trời mái nhà cho hộ dân và doanh nghiệp theo cơ chế đặc thù. Song song đó, thành phố nghiên cứu thêm các giải pháp như tín dụng xanh, vốn vay ưu đãi, mô hình ESCO, hỗ trợ kỹ thuật, số hóa thủ tục và ưu đãi thuế để giảm chi phí đầu tư ban đầu.
Năm 2026, ngành điện TP HCM xây dựng kế hoạch cung cấp điện với mục tiêu đáp ứng mức tăng trưởng điện năng khoảng 5% so với năm trước. Ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc EVNHCMC, cho biết sau khi tiếp nhận thêm địa bàn Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ), quy mô hệ thống điện TP HCM đã tăng lên đáng kể. Công suất cực đại năm 2025 của toàn hệ thống đạt 8.936 MW; công suất đặt các máy biến áp 110kV thuộc sở hữu ngành điện là 13.363 MVA, tương ứng khoảng 12.027 MW với hệ số công suất 0,90; tỷ lệ dự phòng lưới điện khoảng 35%.
Theo ông Kiên, dù hệ thống điện TP HCM sau khi mở rộng địa bàn vẫn đang duy trì mức dự phòng tương đối an toàn, ngành điện cho rằng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng cao trong các năm tới, thành phố vẫn cần đẩy mạnh nguồn điện phân tán tại chỗ. EVNHCMC khuyến khích hộ dân, doanh nghiệp phát triển điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ năng lượng nhằm giảm áp lực lưới điện giờ cao điểm và tối ưu chi phí sử dụng điện lâu dài.