Theo Hãng thông tấn Reuters ngày 23-4, Đài Loan cho biết Seychelles, Mauritius và Madagascar đã đơn phương rút lại giấy phép bay qua không phận đối với máy bay chở lãnh đạo Lại Thanh Đức, chỉ một ngày trước khi ông bắt đầu chuyến công du tới Eswatini.
Eswatini là một trong 12 quốc gia còn duy trì quan hệ ngoại giao chính thức với vùng lãnh thổ Đài Loan, đồng thời là nước duy nhất ở châu Phi có quan hệ này.
Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo của Đài Loan phải hủy toàn bộ chuyến thăm nước ngoài vì không được cấp quyền quá cảnh – cho thấy một bước leo thang mới trong nỗ lực của Bắc Kinh nhằm thu hẹp không gian hoạt động quốc tế của Đài Bắc.
“Một số quốc gia đang hành động theo chỉ đạo của Trung Quốc khi can thiệp vào sự an toàn và phẩm giá của các chuyến công du thông thường của quan chức Đài Loan”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ phát biểu ngày 22-4, không nêu đích danh ba nước trên.
Quan chức này nhấn mạnh trách nhiệm quản lý vùng không phận quốc tế vượt ra ngoài không phận chủ quyền của các nước đó “chỉ nhằm đảm bảo an toàn hàng không, chứ không phải để làm công cụ chính trị cho Bắc Kinh”.
“Đây là thêm một ví dụ cho thấy Bắc Kinh đang tiến hành chiến dịch đe dọa nhằm vào vùng lãnh thổ Đài Loan và các nước ủng hộ trên toàn thế giới, lạm dụng hệ thống hàng không dân dụng quốc tế và đe dọa hòa bình, thịnh vượng toàn cầu”, quan chức này nói thêm.
Mỹ cũng yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các biện pháp gây sức ép quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với Đài Loan.
Một quan chức an ninh cấp cao của Đài Loan cho biết Trung Quốc đã gây sức ép lên ba quốc gia châu Phi nói trên, thậm chí đe dọa trừng phạt kinh tế, bao gồm rút lại các chương trình xóa nợ.
Đáp lại những chỉ trích, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 23-4 kiên quyết bác bỏ cáo buộc của Mỹ, cho rằng Washington “nên chấm dứt can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc thông qua vấn đề Đài Loan”. Người phát ngôn Quách Gia Côn cũng khẳng định những tuyên bố từ phía Mỹ là “vô căn cứ”.
Bắc Kinh lâu nay luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ của mình và không loại trừ khả năng dùng vũ lực để thống nhất.
Chuyến đi của ông Lại dự kiến khởi hành ngày 22-4, nhằm tham dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày Quốc vương Mswati III lên ngôi và sinh nhật lần thứ 58 của nhà vua.
Lần gần nhất một lãnh đạo Đài Loan thăm Eswatini là năm 2023, khi bà Thái Anh Văn thực hiện chuyến công du này.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Trong những ngày cuối tháng 4, tại nhiều khu vực công cộng ở trung tâm thủ đô Washington D.C (Mỹ), người viết lại thường xuyên nhìn thấy lực lượng vệ binh quốc gia.
Thực ra, ở Washington D.C trước nay không thiếu sự có mặt của lực lượng cảnh sát, đặc vụ bảo vệ cho tổng thống, nhưng giờ đây còn có thêm vệ binh quốc gia cũng thường xuyên hiện diện tại thủ đô này.
Điều này bắt đầu từ năm 2025, tức năm đầu tiên khi Tổng thống Trump bắt đầu nhiệm kỳ thứ 2, Nhà Trắng đã gây nhiều tranh cãi khi điều động vệ binh quốc gia về thủ đô để giữ trị an vì tỷ lệ tội phạm cao. Quyết định này dẫn đến sự chỉ trích của cả chính quyền địa phương lẫn dư luận vì cho rằng tình hình tội phạm không nghiêm trọng như Nhà Trắng đưa ra. Phía chỉ trích cáo buộc chính quyền liên bang dưới thời Tổng thống Trump đang tìm cách tăng cường kiểm soát, làm giảm tính độc lập của địa phương.
Tương tự, Nhà Trắng còn điều động lực lượng đặc vụ của Cơ quan Thực thi di trú và hải quan Mỹ (ICE) đến nhiều tiểu bang để truy bắt những người được cho là nhập cư trái phép. Sự xuất hiện của ICE ở các tiểu bang không chỉ dẫn đến tranh cãi mà thậm chí dẫn đến đụng độ. Hậu quả, đã có 2 người bị ICE nổ súng bắn chết tại thành phố Minneapolis thuộc bang Minnesota hồi tháng 1. Nhiều vụ biểu tình phản đối đã xảy ra. Đến đầu tháng 3 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thay Bộ trưởng An ninh nội địa Kristi Noem - người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của ICE trong chiến dịch tại các tiểu bang.
Vấn đề của vệ binh quốc gia và ICE kết hợp chuỗi dài các chính sách gây bất mãn khác như Tổng thống Trump đe dọa sáp nhập Greenland, vụ bê bối Epstein, các chính sách thuế quan gây ra nhiều hệ lụy, một số vụ bê bối khác… đã dần làm xói mòn nền tảng ủng hộ của ông Trump trong nhóm cử tri mà đảng Cộng hòa cần để duy trì quyền kiểm soát quốc hội.
Trước thực tế trên, đảng Cộng hòa của Tổng thống Trump có thể gặp nhiều thách thức trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới. Theo thông lệ, cứ mỗi 2 năm thì người dân Mỹ lại bầu cử để bầu lại toàn bộ Hạ viện Mỹ (nhiệm kỳ 2 năm) và 1/3 số nghị sĩ ở Thượng viện (nhiệm kỳ 6 năm). Và cứ mỗi 2 lần bầu cử như thế, có một lần là bầu cử tổng thống. Vì thế, cuộc bầu cử quốc hội vào những năm không có bầu cử tổng thống thì được gọi là bầu cử giữa kỳ.
Hiện tại, đảng Cộng hòa đang chiếm đa số ở cả Hạ viện lẫn Thượng viện. Trong đó, tại Hạ viện thì phe Cộng hòa chiếm lợi thế mong manh với tỷ lệ số ghế trước phe Dân chủ là 218 - 212. Tại Thượng viện, đảng Cộng hòa có lợi thế lớn hơn khi tỷ lệ này là 53 - 47.
Lần này, việc có quá nhiều chính sách gây tranh cãi và thực tế diễn ra ở nhiều cuộc bầu cử ở một số địa phương vừa qua đều đem đến tín hiệu xấu cho phe Cộng hòa khi đại diện đảng này chịu nhiều thất bại.
Trong phân tích gửi đến Thanh Niên, TS Ian Bremmer, Chủ tịch Eurasia Group (Mỹ) - đơn vị tư vấn và nghiên cứu rủi ro chính trị hàng đầu thế giới, cho rằng: "Các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ thường được xem như một cuộc trưng cầu dân ý về năng lực của vị tổng thống đương nhiệm, và ông Trump đang là nhà lãnh đạo có tỷ lệ ủng hộ thấp hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào trong lịch sử gần đây. Tỷ lệ ủng hộ của ông Joe Biden vào thời điểm này năm 2022 là khoảng 42%; bản thân ông Trump đạt mức gần 41% vào năm 2018; còn ông Barack Obama đạt khoảng 48% vào năm 2010. Trong 3 cuộc bầu cử giữa kỳ vừa nêu, cả ba vị tổng thống đều đã chứng kiến đảng của mình đánh mất quyền kiểm soát Hạ viện nhưng vẫn giữ được Thượng viện".
Theo các kết quả khảo sát mới nhất, trường hợp tương đồng nhất với vị thế hiện tại của ông Trump - xét theo đà sụt giảm hiện tại - chính là Tổng thống George W. Bush với tỷ lệ ủng hộ 35,6% vào tháng 4.2006. Ông Bush cũng chính là vị tổng thống gần đây nhất đã để mất quyền kiểm soát cả 2 viện quốc hội chỉ trong cùng một kỳ bầu cử.
Trong những thập kỷ gần đây, các chu kỳ bầu cử này thường có xu hướng bất lợi cho đảng đang nắm quyền tại Nhà Trắng; thêm vào đó, phe Cộng hòa chỉ nắm giữ thế đa số mong manh tại Hạ viện trong bối cảnh chính trị vốn đã nghiêng dần về phía Dân chủ. Tuy nhiên, tại Thượng viện thì thách thức cho đảng Dân chủ là không hề nhỏ khi cần bảo vệ 13 ghế hiện có, đồng thời lật ngược tình thế thành công để giành lấy 4 ghế đang do đảng Cộng hòa nắm giữ. Cụ thể hơn, đảng Dân chủ cần phải thắng trong cuộc đua giành ghế thượng nghị sĩ đại diện cho các bang: Bắc Carolina, Maine, Ohio và Alaska.
Song song, đảng Dân chủ phải bảo vệ thành công ghế thượng nghị sĩ ở các bang: Georgia, Michigan và New Hampshire. Trong 3 bang này, Georgia và Michigan là những nơi ông Trump đã giành chiến thắng vào năm 2024.
Dù có nhiều lợi thế, nhưng thách thức cho đảng Dân chủ, theo TS Bremmer, là không nhỏ, bởi một vấn đề then chốt là cần có ứng viên đủ mạnh để giành được sự ủng hộ của cử tri tại các bang "tím" (bang dao động) và bang "đỏ" (bang nghiêng về đảng Cộng hòa). Thách thức này không hề đơn giản trong bối cảnh đảng Dân chủ hiện nay.
Tin Gốc: Thanh Niên

Khi các bên trung gian đang nỗ lực thúc đẩy vòng đàm phán thứ hai giữa Mỹ và Iran để chấm dứt xung đột, một vấn đề trọng tâm đang nổi lên như điểm mấu chốt gây tranh cãi là khối tài sản của Tehran bị đóng băng ở nước ngoài.
Hôm 10/4, trước khi vòng đàm phán ngừng bắn đầu tiên diễn ra tại Pakistan, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf đã viết trên X rằng những tài sản bị phong tỏa của nước này phải được giải phóng trước khi bất kỳ cuộc thương lượng nào diễn ra.
Đến ngày 11/4, tại cuộc đàm phán ngừng bắn ở thủ đô Islamabad, Pakistan, một số thông tin xuất hiện cho rằng Mỹ đã đồng ý giải tỏa ít nhất một phần tài sản của Iran ở nước ngoài. Tuy nhiên, chính phủ Mỹ đã nhanh chóng bác bỏ khẳng định những tài sản đó vẫn bị phong tỏa.
Khối tài sản 100 tỷ USD
Nền kinh tế Iran đã suy yếu nhiều năm qua do loạt lệnh trừng phạt từ Mỹ và các quốc gia khác. Những lệnh trừng phạt này bắt đầu từ năm 1979, đầu tiên là do vụ bắt con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran sau cuộc cách mạng Hồi giáo, sau đó gia tăng vì chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo Iran.
Các lệnh trừng phạt này khiến Iran không thể tiếp cận nhiều tài sản của chính mình, như doanh thu bán dầu đang bị đóng băng tại các ngân hàng nước ngoài. Theo thông tin tổng hợp từ phía Iran và giới chuyên gia, ước tính tổng tài sản của nước này đang bị kẹt ở nước ngoài là hơn 100 tỷ USD.
Frederic Schneider, chuyên gia tại Hội đồng các Vấn đề Toàn cầu Trung Đông, cho hay khối tài sản này gấp khoảng 4 lần doanh thu từ dầu khí hàng năm của Iran.
"Đó là khoản tiền rất lớn, đặc biệt đối với một đất nước đã phải chịu các lệnh trừng phạt do Mỹ áp đặt trong nhiều thập kỷ", ông nói.
Tuy nhiên, Schneider lưu ý thêm rằng ngay cả khi đồng ý giải phóng những tài sản này, vẫn chưa rõ liệu Mỹ có đặt ra điều kiện về cách Iran sử dụng chúng hay không.
Jacob Lew, bộ trưởng tài chính dưới thời tổng thống Mỹ Barack Obama, từng phát biểu vào năm 2016 rằng Iran sẽ không thể tiếp cận toàn bộ tài sản bị phong tỏa ở nước ngoài ngay cả khi mọi lệnh trừng phạt được dỡ bỏ. Tại thời điểm đó, Iran vừa đạt được thỏa thuận lịch sử với Mỹ và các cường quốc khác, chấp nhận hạn chế chương trình hạt nhân của mình để đổi lấy việc nới lỏng trừng phạt.
Lew đã phát biểu trước quốc hội Mỹ rằng trên thực tế, Iran cùng lắm cũng chỉ có thể tiếp cận khoảng một nửa số tài sản bị phong tỏa, bởi phần còn lại đã bị ràng buộc vào các cam kết đầu tư từ trước hoặc để thanh toán các khoản vay.
Hiện tại, yêu cầu then chốt của Tehran trong các cuộc đàm phán ngừng bắn là Mỹ phải giải phóng ít nhất 6 tỷ USD tài sản bị phong tỏa, coi đây như một cách xây dựng lòng tin.
Tài sản bị đóng băng là gì?
Khi tiền bạc, của cải hoặc số dư chứng khoán của các cá nhân, doanh nghiệp hoặc ngân hàng trung ương một quốc gia bị nhà chức trách nước khác hoặc tổ chức quốc tế tạm giữ, đó chính là phong tỏa tài sản.
Khả năng bán tài sản của chủ sở hữu sẽ bị hạn chế do các lệnh trừng phạt, phán quyết từ tòa án hoặc những lý do pháp lý khác.
Tài sản có thể bị đóng băng bởi tòa án, một quốc gia khác, tổ chức quốc tế hoặc một định chế ngân hàng. Các quốc gia thường tuyên bố phong tỏa tài sản của quốc gia hay công ty khác dựa trên những cáo buộc về hoạt động tội phạm, rửa tiền hoặc vi phạm luật pháp quốc tế.
Nhưng những người chỉ trích biện pháp phong tỏa tài sản cho rằng cách làm này đang được sử dụng để nhắm vào những đối thủ của phương Tây thay vì với mục đích răn đe. Phần lớn các nước đang chịu lệnh trừng phạt và bị phong tỏa tài sản là các quốc gia bị phương Tây coi là "không thân thiện", như Iran, Nga, Triều Tiên, Libya hay Venezuela.
Vì sao Iran bị đóng băng tài sản?
Theo hồ sơ lưu trữ của chính phủ Mỹ, đợt phong tỏa tài sản đầu tiên diễn ra vào tháng 11/1979, khi tổng thống Jimmy Carter lúc bấy giờ tuyên bố Iran "đã tạo ra mối đe dọa bất thường và đặc biệt đối với an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại cũng như nền kinh tế Mỹ".
Vào thời điểm đó, các sinh viên Iran đang bắt 66 công dân Mỹ làm con tin tại đại sứ quán Mỹ ở Tehran.
Ông William Miller, bộ trưởng tài chính Mỹ khi ấy, cho biết tài sản dễ thanh khoản của Iran có giá trị chưa tới 6 tỷ USD, trong đó khoản lớn nhất là 1,3 tỷ USD trái phiếu kho bạc do Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York nắm giữ. Năm 1981, Hiệp định Algiers do Algeria làm trung gian giữa Mỹ và Iran đã dẫn đến việc Mỹ giải tỏa một phần đáng kể các tài sản này để đổi lấy việc Iran trả tự do cho 52 con tin Mỹ vẫn bị giam tại Tehran.
Tuy nhiên, trong những năm sau đó, quan hệ giữa Mỹ và Iran tiếp tục xấu đi do Washington lo ngại về chương trình hạt nhân của Tehran.
Iran luôn khẳng định chương trình làm giàu uranium của mình chỉ phục vụ mục đích năng lượng dân sự, mặc dù họ đã làm giàu uranium vượt xa ngưỡng cần thiết cho mục tiêu đó.
Israel và Mỹ đã liên tục cáo buộc Iran làm giàu uranium để phát triển vũ khí hạt nhân. Mỹ cùng các đồng minh, đặc biệt là châu Âu, đã áp đặt nhiều đợt trừng phạt lên quốc gia này.
Năm 2015, dưới thời tổng thống Obama, Mỹ đã dẫn dắt các cuộc đàm phán để Iran đạt được thỏa thuận với các cường quốc thế giới mang tên Kế hoạch Hành động Chung Toàn diện (JCPOA). Theo thỏa thuận, Tehran đồng ý thu hẹp chương trình hạt nhân và nhờ đó được tiếp cận lại phần lớn tài sản ở nước ngoài của mình.
Tuy nhiên, vào năm 2018, trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Donald Trump đã đơn phương rút Mỹ khỏi JCPOA, gọi đây là một thỏa thuận "phiến diện" và tái áp đặt các lệnh trừng phạt lên Iran, một lần nữa phong tỏa số tài sản ở nước ngoài của Tehran.
Năm 2023, Mỹ và Iran thống nhất một thỏa thuận trao đổi tù nhân, theo đó Iran trả tự do cho 5 công dân Mỹ gốc Iran để đổi lấy việc Mỹ thả một số người Iran, đồng thời cho phép Tehran tiếp cận hàng tỷ USD tiền bị phong tỏa. Khoản tiền này là 6 tỷ USD doanh thu từ dầu mỏ bị phong tỏa tại Hàn Quốc.
Theo kế hoạch trên, số tiền được chuyển đến Qatar để giám sát. Tuy nhiên, một năm sau, tổng thống Mỹ Joe Biden đã áp đặt các lệnh trừng phạt mới nhằm đáp trả cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Iran vào Israel, khiến họ một lần nữa mất quyền tiếp cận số tiền đang được đóng băng tại Doha.
Ngoài Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) cũng phong tỏa một phần tài sản của ngân hàng trung ương Iran với lý do nước này bị cáo buộc vi phạm nhân quyền, không tuân thủ các quy định về hạt nhân...
Tài sản bị đóng băng của Iran hiện do nhiều quốc gia nắm giữ. Số tiền chính xác tại mỗi quốc gia chưa rõ ràng, nhưng truyền thông Iran trước đây đưa tin Nhật Bản, một khách hàng dầu mỏ quan trọng, đang nắm giữ khoảng 1,5 tỷ USD, Iraq giữ khoảng 6 tỷ USD, Ấn Độ giữ 7 tỷ USD.
Mỹ cũng nắm giữ khoảng 2 tỷ USD tài sản bị phong tỏa của Iran, trong khi các quốc gia EU như Luxembourg giữ khoảng 1,6 tỷ USD. Qatar hiện giữ khoảng 6 tỷ USD, số tiền đã được chuyển từ Hàn Quốc để thanh toán cho Iran, nhưng sau đó bị Mỹ chặn lại.
Hy vọng cho nền kinh tế Iran
Nền kinh tế Iran đang lâm vào khủng hoảng khi các lệnh trừng phạt kéo dài nhiều thập kỷ đã hạn chế xuất khẩu dầu mỏ, đồng thời làm tê liệt khả năng thu hút đầu tư và hiện đại hóa công nghiệp cũng như công nghệ của nước này.
Lạm phát tăng cao và đồng nội tệ mất giá đã dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu năm nay. Cuộc xung đột với Mỹ - Israel bùng phát từ ngày 28/2 đã khiến cơ sở hạ tầng của Iran bị tàn phá nặng nề.
Fatemeh Mohajerani, người phát ngôn chính phủ Iran, ngày 14/4 cho biết thiệt hại mà nước này hứng chịu trong 6 tuần chiến sự là khoảng 270 tỷ USD, yêu cầu Mỹ, Israel và các nước vùng Vịnh bồi thường.
Trong bối cảnh này, tài sản bị đóng băng nếu được giải phóng sẽ là nguồn tiền mà Iran có thể sử dụng ngay lập tức. 100 tỷ USD tương đương gần 1/4 GDP của Iran.
Roxane Farmanfarmaian, giảng viên chính trị quốc tế chuyên về Iran tại Đại học Cambridge, Anh, cho rằng việc tài sản được phá băng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Iran.
"Điều này đồng nghĩa với việc Iran có thể đưa các khoản tiền thu được bằng ngoại tệ mạnh từ việc bán dầu mỏ trở lại nền kinh tế trong nước. Nó cũng giúp họ kiểm soát biến động tỷ giá, từ đó hạn chế những tổn thương trước tình trạng trồi sụt của đồng nội tệ", Farmanfarmaian giải thích.
Bà lưu ý rằng những cơ sở công nghiệp chủ chốt, trong đó có các mỏ dầu, hay hệ thống nước, mạng lưới điện đang xuống cấp của Iran sẽ được nâng cấp nếu họ có quyền tiếp cận với tài sản bị đóng băng của mình. Với nguồn tiền đó, Iran có thể chi trả cho các công ty nước ngoài và cấp vốn cho những ngành công nghiệp trong nước để bắt đầu cải thiện tình hình kinh tế.
"Rõ ràng, Iran cũng sẽ phải tái thiết sau xung đột và các tài sản được giải phóng sẽ ngay lập tức giúp quá trình đó diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn", Farmanfarmaian nói thêm. "Ngoài ra, việc tiếp cận các khoản tiền bị phong tỏa còn tạo đà tăng trưởng kinh tế, cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ với người dân".
Quyết định của Mỹ về việc có giải tỏa tài sản của Iran hay không cũng sẽ là một thông điệp ngoại giao quan trọng, Chris Featherstone, chuyên gia chính trị tại Đại học York, bình luận.
"Về mặt quốc tế, việc giải tỏa các tài sản có thể là tín hiệu cho thấy Mỹ đang giảm bớt áp lực lên nền kinh tế Iran", Featherstone cho biết, song lưu ý rằng với cách tiếp cận khó đoán của chính quyền Trump, ít ai có thể dự đoán được ông sẽ làm gì sau đó.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo thống kê do Bộ tư lệnh An toàn của hải quân Mỹ (NAVSAFECOM) công bố và được tạp chí hàng không Aviation Week dẫn lại vào ngày 29/4, một máy bay không người lái (UAV) MQ-4C Triton nước này hôm 27/4 bị hư hại khi đang bay tại địa điểm không được tiết lộ, có khả năng là ở Trung Đông. NAVSAFECOM không nêu rõ phi cơ gặp vấn đề gì, chỉ cho biết nó đã hạ cánh an toàn và không quân nhân nào bị thương.
Đây là lần thứ hai mẫu UAV này gặp sự cố nghiêm trọng trong vòng dưới một tháng. Dữ liệu theo dõi hàng không cho thấy một phi cơ MQ-4C Mỹ hôm 9/4 phát tín hiệu khẩn nguy không lâu trước khi tín hiệu định vị biến mất hoàn toàn tại vịnh Ba Tư. NAVSAFECOM sau đó thông báo một UAV MQ-4C bị rơi vào ngày 9/4, song không công bố địa điểm.
Theo chuyên trang quân sự Defence Security Asia, các nhà phân tích tin tình báo nguồn mở xác định phi cơ gặp sự cố hôm 27/4 là chiếc có số hiệu 169661, dường như được triển khai để thay thế cho UAV bị rơi trước đó. Phi cơ cất cánh từ căn cứ không quân Muwaffaq Salti ở Jordan và làm nhiệm vụ trinh sát dưới hô hiệu OVRLD01.
Hôm 12/12/2025, một UAV MQ-4C khác cũng gặp sự cố nghiêm trọng khi đang được bảo trì dưới mặt đất, không ai bị thương trong sự việc. Cả ba sự cố đều được xếp vào cấp độ A, tức là khiến máy bay bị phá hủy hoặc gây ra thiệt hại từ 2,5 triệu USD trở lên.
MQ-4C Triton là UAV dành cho hải quân Mỹ, được phát triển từ mẫu RQ-4 Global Hawk của không quân.
Triton có nhiệm vụ cung cấp dữ liệu tình báo, trinh sát và do thám theo thời gian thực tại các vùng đại dương rộng lớn và duyên hải gần bờ, cũng như tham gia hoạt động tuần thám biển, tìm kiếm cứu hộ và hỗ trợ trinh sát cơ P-8A Poseidon. Mỗi máy bay MQ-4C có giá xuất xưởng 180-230 triệu USD, tùy lô sản xuất.
Cảm biến chính của Triton là radar mảng pha quét điện tử chủ động AN/ZPY-3, có khả năng quan sát khu vực rộng 5.200 km2 chỉ trong một lần quét ở độ cao 17 km. Khi hoạt động ở tầm thấp, Triton có thể triển khai tổ hợp quang điện - hồng ngoại MTS-B tương tự mẫu MQ-9 Reaper, kèm theo đó là thiết bị chỉ thị và đo xa laser.
Máy bay cũng được lắp hệ thống hỗ trợ điện tử (ESM) dạng module, cho phép phát hiện và nhận dạng tín hiệu radar từ xa, giúp xác định vị trí của lực lượng đối phương.
Hải quân Mỹ dự kiến đưa vào biên chế tổng cộng 27 máy bay, trong đó đợt bàn giao cuối cùng sẽ diễn ra vào tháng 10/2028. Con số này giảm đáng kể so với kế hoạch ban đầu là 70 phi cơ. MQ-4C hiện được hải quân Mỹ vận hành ở ba khu vực, bao gồm Thái Bình Dương, châu Âu và Trung Đông.
Tin Gốc: Vnexpress

