Tôi không biết từ bao giờ, chúng ta có lệ là người đi xa, đi chơi từ đâu về là phải có quà. Nếu như đi núi mua mật ong, thịt gác bếp… để lâu được thì không nói làm gì.
Như gia đình tôi mới đây, sau khi tắm biển và ăn uống thỏa thích, vợ tôi đi dạo một vòng mua về một thùng hải sản tươi ướp đá lạnh gần 5 triệu đồng. Đi xe khách nên khệ nệ khiêng, bất tiện. Mà đi ôtô tự lái thì có khi chật chội vì còn phải để valy và đồ đạc khác.
Về đến nhà chưa kịp soạn quần áo cũ ra giặt thì phải chia phần vì sợ để lâu mất tươi. Khi đem qua cho bà chị, bà chị hỏi bao nhiêu tiền một kg thì than trời vì cái đại lý hải sản kế bên nhà chị bán rẻ hơn 50 nghìn một kg. Vợ tôi chậc lưỡi, thôi kệ. Quan trọng hơn là hải sản mua về ướp đá ăn không ngon như ở biển. Cảm quan chung của vợ chồng tôi là vậy.
Không bàn đến chuyện mua hớ vài chục nghìn một kg hay mất công xách nặng. Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn là áp lực vô hình: Đi đâu về cũng phải có cái gì đó ra trò để biếu.
Nếu không sẽ ngại với người thân, ngại với bạn bè, thậm chí ngại với chính mình sợ rằng chuyến đi sẽ bị đánh giá là đi mà không biết mang cái gì về.
Thói quen đi đâu cũng phải có quà đem về còn vô tình biến du lịch, vốn là để nghỉ ngơi, trải nghiệm thành một chuỗi nhiệm vụ. Đi chơi nhưng trong đầu luôn có một checklist: Mua gì cho nhà nội, mua gì cho nhà ngoại, mua gì cho đồng nghiệp. Kết quả là thay vì tận hưởng trọn vẹn, ta dành thời gian để lo nghĩ vì những điều đó.
Sau lần đó, tôi tự đặt ra một nguyên tắc khi đi xa: Chỉ mua khi thật sự muốn mua, và món quà phải có ý nghĩa với cả người cho lẫn người nhận. Nếu không, tôi chọn không mua gì cả.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi đọc bài viết Từ 25/5, chủ nhà trọ thu tiền điện sai có thể bị phạt đến 30 triệu đồng. Với tư cách là một chủ nhà trọ tôi, tôi có chia sẻ như sau:
Nhà tôi đang tính tiền điện cho người thuê giá 3.000 đồng một số điện - để được giá này thì nhà tôi có được cộng định mức điện chia cho số người tạm trú.
Nếu không có định mức điện được cấp nhà tôi phải bán giá cao hơn nhiều, từ 4000 đồng một số trở lên. Tại sao? Nếu lấy giá 3.000 đồng một số điện, nếu dùng có định mức, chủ nhà hằng tháng như nhà tôi có 5 phòng trọ sẽ dư ra tầm 200-300 nghìn đồng, nhiều người nghĩ chủ nhà trọ sẽ được dùng điện miễn phí?
Không phải, mỗi lần hỏng điện sửa gọi thợ sửa nhẹ thì 200 nghìn, còn nguyên ngày công là 500 nghìn đồng. Hỏng một cái công tơ điện phải tốn 300-400 nghìn đồng thay mới. Sẽ có nhiều người hỏi công tơ mấy năm mới hỏng, điều này đúng nếu dùng bình thường vài năm thậm chí lâu hơn mới hỏng.
Nhưng đặc thù nhà trọ nó nhiều cái khó nói lắm, có người đến thuê tháo kẹp chì ra để tác động - thời bố tôi còn sống, bố tôi già rồi lại mới làm nhà trọ không quán xuyến được : 3/5 phòng trọ tháo kẹp chì ăn cắp điện.
Nhà tôi bị hao hụt tiền điện từ 2014 đến tận 2016, sau khi kiểm tra mới biết được. Chuyện bị chỉnh sửa phải thay là rất bình thường. Giá 3.000 đồng một số điện, tôi đang tính nếu tính các lần sửa chữa thay thế trên năm thì nhà tôi còn lỗ cơ chứ không có lãi. Muốn lãi thì phải tính giá cao hơn.
Xung quanh khu tôi nhiều nhà tính giá cao hơn nhưng nhà tôi vẫn giữ giá từ lúc làm nhà trọ 2014 đến giờ.
Vì thế tôi nghĩ nếu các đơn vị điện lực muốn tính giá chuẩn theo hóa đơn thì nên tính các phòng cho thuê là khách hàng riêng lẻ, họ phải ký hợp đồng với từng phòng trọ, chịu trách nhiệm và chi phí đầu tư sửa chữa đến từng phòng trọ, thu thì đóng qua app nên rất tiện.
Bây giờ số hóa phòng trọ nào nợ tiền điện thì EVN cứ theo mã căn cước mà đòi. Được như thế tôi hoan nghênh nhiệt liệt, bớt luôn một khâu trung gian cho chúng tôi đỡ mệt, nhiều lúc phòng trọ dọn đi tiền sử dụng điện còn cao hơn tiền cọc, chẳng biết kêu ai.
Tất nhiên tôi sẽ nghiêm túc chấp hành quy định mới, tôi không tính giá điện 3.000 đồng một số nữa, tôi sẽ tính giá điện theo quy định, phần còn lại tôi sẽ thu vào một mục khác, ví dụ như "khấu hao thiết bị sử dụng điện" hoặc tính theo chi phí dịch vụ từng phòng.
Đây là nội dung thuộc Nghị định 133 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực mới được ban hành và có hiệu lực từ 25/5. Hiện nay, việc chủ nhà trọ thu tiền điện cao hơn mức quy định vẫn bị xử lý theo Nghị định 134/2013 (sửa đổi bởi Nghị định 17/2022). Tuy nhiên, mức phạt chỉ từ 7-10 triệu đồng, được nhiều chuyên gia cho là chưa đủ sức răn đe nên tình trạng chủ trọ tự ý nâng giá điện lên 4.000-5.000 đồng một kWh vẫn diễn ra phổ biến.
Tin Gốc: Vnexpress

Có một thực tế đang diễn ra trong đời sống hôm nay, đó là con người ngày càng ít gắn chặt với nơi mình sinh ra. Người trẻ rời quê đi học, người lao động rời làng lên thành phố, rồi dần dần, những nơi từng được gọi là "quê nhà" trở thành một địa chỉ trong ký ức hơn là một không gian sống thường trực. Có người chỉ còn trở về vào dịp Tết, có người thậm chí nhiều năm không quay lại.
Trong bối cảnh dịch chuyển ấy, "quê quán" - một khái niệm vốn từng mang tính gốc rễ trong đời sống và giấy tờ - đang bị đặt lại câu hỏi: liệu có nên tiếp tục giữ nguyên cách hiểu cũ, hay cần nhìn nó như một dữ liệu lịch sử? Điều quan trọng hơn có lẽ là nơi con người thực sự sinh sống, làm việc và tạo dựng cuộc đời mình.
Một người có thể sinh ra ở Nghệ An, lớn lên ở Hà Nội, rồi làm việc và ổn định cuộc sống ở TP HCM. Nếu nhìn bằng lăng kính của thời đại cũ, đó có thể là một hành trình "xa quê". Nhưng nếu nhìn bằng thực tế phát triển hiện nay, đó chỉ đơn giản là một đời sống bình thường, nơi con người đi theo cơ hội, tri thức và khả năng đóng góp của mình.
Vấn đề là xã hội và hệ thống quản lý dường như vẫn chưa hoàn toàn theo kịp sự dịch chuyển ấy. Chúng ta vẫn theo thói quen hỏi "quê ở đâu?", "hộ khẩu ở đâu?" như một cách định danh con người. Trong khi câu hỏi quan trọng hơn phải là: một người đang sống ở đâu một cách ổn định, và họ đang đóng góp điều gì cho cộng đồng nơi họ hiện diện?
Trong rất nhiều trường hợp hiện nay, "quê quán" ghi trên giấy tờ hành chính không còn trùng khớp với nơi con người thực sự lớn lên và gắn bó. Có những người rời khỏi địa phương gốc từ khi còn rất nhỏ, thậm chí chưa kịp hình thành ký ức rõ ràng về nơi đó, nhưng dòng thông tin trong hồ sơ nhân thân vẫn cố định họ vào một địa danh "thuộc về quá khứ". Trên hệ thống dữ liệu, họ vẫn được gắn với một "quê quán" mang tính hành chính nhiều hơn là trải nghiệm sống.
Ví dụ như trường hợp của tôi: nguyên quán ghi Hải Phòng, nơi sinh là Hòa Bình (nay là Phú Thọ), còn toàn bộ quá trình học tập đại học và làm việc lại diễn ra ở Hà Nội. Nhưng thực tế, tôi chưa từng có đời sống thường trú hay ký ức sinh hoạt tại Hải Phòng. Vậy nhưng mỗi khi làm thủ tục hành chính, tôi vẫn phải trả lời các câu hỏi về quê quán luôn thường trực.
>> Chủ tiệm tạp hóa 60 tuổi không ngại đóng thuế, chỉ e thủ tục
Sự lệch pha này, nếu kéo dài, không chỉ gây bất tiện trong quản lý, mà còn khiến chính sách khó chạm đúng đối tượng, làm giảm độ chính xác của hệ thống an sinh và phân bổ nguồn lực xã hội. Nói cách khác, khi dữ liệu không còn đi cùng đời sống thực, thì quản trị cũng khó có thể phản ánh đúng thực tế đang vận hành từng ngày.
Việt Nam trong những năm gần đây đã bắt đầu quá trình chuyển đổi này thông qua cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân gắn chip và đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến. Đây là những bước đi quan trọng để đưa quản lý nhà nước tiến gần hơn với thực tế đời sống. Tuy vậy, khái niệm "quê quán" trong tư duy xã hội và hệ thống hành chính truyền thống vẫn chưa được điều chỉnh.
Điều quan trọng không phải là siết chặt sự gắn bó với nơi sinh ra, mà là làm cho hệ thống quản lý đủ linh hoạt để theo kịp nơi con người đang thực sự sinh sống. Dữ liệu cần phản ánh đúng thực tế; chính sách an sinh cần đi theo nơi cư trú; và sâu xa hơn, cách nhìn về công dân cũng cần dịch chuyển từ "gốc gác" sang "đời sống hiện tại".
Khi những thay đổi này được thực hiện một cách hài hòa, "quê quán" sẽ trở về đúng vị trí của nó như một phần ký ức, một điểm tựa tinh thần. Còn "nơi sinh sống" mới là không gian thực sự để con người làm việc, phát triển và được bảo đảm quyền lợi một cách công bằng. Và có lẽ, xã hội sẽ nhẹ nhõm hơn nhiều khi người dân được nhìn nhận đúng ở nơi họ đang hiện diện.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi là một cô gái Gen Z, năm nay 25 tuổi và đã tham gia thị trường lao động gần bốn năm nay. Sau khi đọc bài "Áp lực 'tăng ca vô hình' của lao động công sở", bởi tôi nhận ra bản thân mình trong từng chi tiết của bài viết ấy.
Tôi từng nghĩ chỉ cần còn trẻ thì có thể làm việc nhiều hơn người khác, chịu áp lực tốt hơn người khác và hy sinh thời gian cá nhân để đổi lấy cơ hội thăng tiến. Nhưng sau bốn năm đi làm, điều khiến tôi sợ nhất không còn là KPI hay deadline, mà là cảm giác cuộc sống của mình đang dần bị công việc nuốt chửng.
Nhiều người vẫn nghĩ Gen Z là thế hệ thích nghỉ ngơi, dễ bỏ việc và thiếu chịu đựng áp lực. Nhưng ít ai nhìn thấy phía sau những bức ảnh check-in văn phòng hay những dòng trạng thái bận rộn trên mạng xã hội là một thế hệ đang kiệt sức âm thầm.
Chúng tôi lớn lên trong thời đại công nghệ phát triển, nơi mọi thứ diễn ra nhanh hơn, cạnh tranh hơn và áp lực cũng nhiều hơn. Công việc không còn dừng lại ở tám tiếng nơi công sở. Nó theo chúng tôi lên xe buýt, vào bữa cơm tối, lên giường ngủ và cả trong những ngày nghỉ hiếm hoi.
Tôi làm ở một công ty chuyên về quản lý kinh doanh. Bộ phận của tôi có 30 người, nhiệm vụ phát triển đối tác và xây dựng nhóm kinh doanh mới, trực tiếp mang doanh thu về cho công ty. Năm trước phòng tôi vượt KPI, năm nay công ty tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn. Thành tích càng tốt thì áp lực càng lớn.
Trong môi trường ấy, việc tăng ca gần như trở thành điều hiển nhiên. Có những ngày tôi rời văn phòng lúc 19h nhưng công việc vẫn chưa kết thúc. Điện thoại liên tục rung lên vì tin nhắn từ các nhóm chat công việc. Khách hàng gọi lúc tối muộn vì ban ngày họ bận. Có hôm tôi đang chuẩn bị ngủ thì sếp "tag" vào nhóm yêu cầu sửa báo cáo gấp cho cuộc họp sáng hôm sau. Tôi bật laptop lúc gần nửa đêm, vừa sửa file vừa cố giữ tỉnh táo bằng ly cà phê.
Điều đáng sợ nhất là chúng tôi dần xem cuộc sống ấy như bình thường. Tôi từng tự hào vì mình có thể thức đến một giờ sáng để chạy deadline. Tôi nghĩ đó là biểu hiện của sự chăm chỉ và cầu tiến. Trong môi trường công sở hiện đại, những người online muộn nhất thường được xem là có trách nhiệm nhất.
Chúng tôi ca ngợi văn hóa "hustle" như một điều đáng ngưỡng mộ. Nhưng rồi tôi nhận ra đằng sau những giờ tăng ca ấy là những cơ thể đang kiệt quệ và những tâm trí không còn được nghỉ ngơi đúng nghĩa. Tôi từng bị đau đầu kéo dài vì thiếu ngủ. Có những hôm bụng đau quặn vì ăn uống thất thường nhưng vẫn phải họp online với khách hàng.
Có ngày cuối tuần, bạn bè rủ đi cà phê nhưng tôi vẫn mang theo laptop vì "có thể khách sẽ cần gấp". Tôi không nhớ lần cuối cùng mình thật sự thư giãn mà không cầm điện thoại để kiểm tra email là khi nào. Sau khi đọc bài viết về "tăng ca vô hình", tôi mới nhận ra điều đáng sợ nhất của môi trường công sở hiện nay không phải là những giờ tăng ca được ghi trên bảng chấm công, mà là những giờ làm việc vô hình không ai tính đến.
Đó là những tin nhắn công việc lúc 23h. Là cảm giác lo lắng khi không trả lời điện thoại của sếp ngoài giờ hành chính. Là việc dù đang nghỉ phép nhưng vẫn phải mở máy tính xử lý công việc từ xa. Công nghệ giúp chúng ta làm việc linh hoạt hơn, nhưng cũng khiến ranh giới giữa công việc và cuộc sống gần như biến mất. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh, văn phòng có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu.
Chúng tôi không còn thật sự "tan làm", mà chỉ là chuyển từ làm việc ở công ty sang làm việc ở nhà. Tôi nghĩ Gen Z đang là thế hệ chịu mâu thuẫn rất lớn. Chúng tôi được dạy phải sống hết mình cho tuổi trẻ, phải thành công sớm, phải độc lập tài chính trước tuổi 30. Mạng xã hội mỗi ngày đều tràn ngập hình ảnh những người trẻ kiếm tiền giỏi, thăng tiến nhanh và sống đầy năng lượng. Điều đó vô tình tạo nên áp lực rằng nếu mình nghỉ ngơi, mình sẽ tụt lại phía sau.
Nhiều người lớn thường nói Gen Z nhảy việc quá nhiều. Nhưng đôi khi, đó không phải vì chúng tôi thiếu kiên trì mà vì chúng tôi đang quá mệt mỏi. Một thế hệ lớn lên giữa khủng hoảng kinh tế, áp lực thành công và nhịp sống số hóa liên tục rất dễ rơi vào trạng thái "burnout" - kiệt sức vì công việc.
Chúng tôi mất ngủ, lo âu, dễ cáu gắt và dần không còn cảm thấy hạnh phúc với chính cuộc sống của mình. Điều buồn nhất là nhiều công ty vẫn xem sự hy sinh đời sống cá nhân là tiêu chuẩn của nhân viên tốt. Người làm việc đến khuya được khen trách nhiệm. Người luôn online cuối tuần được đánh giá nhiệt tình. Trong khi đó, những người muốn giữ cân bằng cuộc sống lại dễ bị xem là thiếu tham vọng.
Tôi ước có một ngày cuối tuần thật sự được nghỉ ngơi mà không phải ám ảnh bởi deadline. Và là khi chúng ta vẫn còn năng lượng để gặp gỡ bạn bè, chăm sóc gia đình và lắng nghe chính mình.
Tin Gốc: Vnexpress

