Gia đình tôi không khá giả, nhưng bố mẹ ở quê vẫn chấp nhận bán đất để đầu tư gần 600 triệu đồng cho tôi lên thành phố học 4 năm đại học. Đó không chỉ là tiền, mà là kỳ vọng rằng tôi sẽ “đổi đời” bằng con đường học vấn. Tôi cũng đã nỗ lực đúng như cách người ta vẫn khuyên: học hành nghiêm túc, tốt nghiệp đúng hạn. Nhưng ra trường, mọi thứ không diễn ra như tôi tưởng.
Tôi mất nửa năm chật vật mới tìm được công việc đúng chuyên ngành ở thành phố. Mức lương khởi điểm khi ấy chỉ là 6 triệu đồng – một con số khiến tôi bối rối, nhưng vẫn tự an ủi rằng “mới đi làm thì phải chấp nhận, rồi dần dần sẽ khá lên”. Tôi chấp nhận mức lương đó, chấp nhận tăng ca, chấp nhận học thêm kỹ năng mới, làm nhiều hơn mô tả công việc, bản thân nghĩ chỉ cần cố gắng đủ lâu, thu nhập sẽ tăng tương xứng.
Nhưng rồi, 5 năm trôi qua, lương của tôi hiện tại vẫn lẹt đẹt ở mức 15 triệu đồng một tháng. Ở thành phố, con số này đủ để sống tằn tiện, nhưng rất khó để tôi tích lũy hay nghĩ đến những kế hoạch dài hạn như mua nhà, lập gia đình, sinh con…
Cũng trong khoảng thời gian đó, một người bạn học cùng cấp ba ở quê với tôi, không học đại học, mà chọn đi xuất khẩu lao động. Sau vài năm, thu nhập của bạn cao hơn tôi khá nhiều. Khi trở về, bạn sẽ có một khoản vốn đủ để bắt đầu cuộc sống theo cách chủ động hơn.
Không chỉ một người. Tôi thấy nhiều anh chị đi trước, học giỏi, làm việc chăm chỉ, nhưng vẫn chịu áp lực vì thu nhập không theo kịp chi phí sống và kỳ vọng xã hội. Có người đã rời bỏ công việc văn phòng để đi xuất khẩu lao động, không phải vì họ kém, mà vì đó là con đường nhanh hơn để kiếm tiền.
>> ‘Hối hận du học vì về nước lương 13 triệu đồng’
Những so sánh đó khiến tôi không khỏi tự hỏi: liệu 4 năm đại học của mình có trôi qua lãng phí? Càng ngày, tôi càng thấy khoản đầu tư của cha mẹ trở thành món nợ mà không biết đến khi nào mình mới trả được? Tôi không phủ nhận giá trị của giáo dục. Đại học giúp tôi có kiến thức nền, có tư duy, có môi trường để trưởng thành. Nhưng rõ ràng, tấm bằng hiện không còn là “tấm vé đảm bảo” cho một mức thu nhập tốt như nhiều người từng nghĩ.
Nếu xem đại học là con đường duy nhất để thành công về tài chính, thì thực tế hiện nay có thể khiến nhiều người thất vọng. Bởi thị trường lao động không vận hành theo logic “học cao thì sẽ có lương cao”, ít nhất là trong những năm đầu. Nhưng nếu xem đại học là một nền tảng dài hạn – nơi tích lũy kiến thức, kỹ năng, và cơ hội phát triển – thì giá trị của nó có thể không nằm ở mức lương 5 năm đầu tiên. Vấn đề là, không phải ai cũng đủ kiên nhẫn để chờ “dài hạn”, nhất là khi áp lực tài chính hiện hữu mỗi ngày.
Tôi viết những dòng này không phải để phủ nhận con đường đại học, càng không phải để so sánh hơn thua giữa các lựa chọn. Nhưng tôi nghĩ, đại học không còn là con đường ngắn nhất, đảm bảo một kết quả như nhiều người vẫn kỳ vọng. Cảm giác lúc này trong tôi là thấy mình đã đi đúng đường, nhưng đích đến lại mờ mịt. Tiếp tục bám trụ lấy lựa chọn đó, liệu tôi có quá cố chấp? Hay tôi nên mạnh dạn từ bỏ để kiếm tìm một lối đi nhanh hơn?
Kỷ niệm 20 năm ngày cưới, vợ chồng tôi mon men đi chụp ảnh kỷ niệm tại một studio của người quen. Sau khi nhận về tấm ảnh đã "photoshop hư hết vài con chuột máy tính", tấm ảnh kỷ niệm trong long lanh. Nhưng khi đem treo cạnh tấm ảnh cưới, tôi không còn nhận ra tôi nữa.
Ở độ tuổi U50, thời gian trôi qua, tất nhiên là tôi trông già hơn xưa, nhưng mái đầu hói do tóc lởm chởm vài cọng "trông phát chán". Chiều cao không biết có lùn đi hay không nhưng trực quan nhìn vào thì thấy bề ngang to ra - bụng bia.
Thời gian thật tàn nhẫn vì làm vạn vật đổi thay. Con người, tất nhiên phải già đi rồi, nhưng đằng đẵng năm tháng trôi qua, ngoại hình thay đổi là điều khách quan phải chấp nhận. Nhưng điều gì thế này? Tướng tá phát phì, bụng to sau những ngày tháng ăn nhậu, lười tập thể dục, tôi còn biết phải biện hộ gì nữa?
Tóc rụng, tóc hói có thể là do gen. Nhưng ai bảo chúng không bị bia rượu, thuốc lá làm "chất xúc tác" đẩy nhanh tiến trình?
Hội bạn của tôi, khi bước vào độ tuổi này, hầu như ai cũng rơi vào một hoặc cả hai tình trạng trên. Đến nỗi chúng tôi than thở với nhau tóc rụng, bụng bia đúng là combo hủy diệt nhan sắc đàn ông Việt độ tuổi 40 trở đi.
Điều đáng nói là trong công ty của tôi, vài thằng em mới 25-30 tuổi cũng đang đau khổ vì tóc rụng. "Tóc rụng từng mảng mỗi lần tắm", "Em phải dọn lỗ thoát nước nhà tắm mỗi ngày vì tóc rụng"... tôi gặp hàng tá thời than vãn như vậy, và chỉ các em ăn hà thủ ô, xài tinh dầu bưởi chống rụng tóc để cứu vãn mái tóc (dù chúng vô dụng với tôi, nhưng biết đâu lại hợp cơ địa với ai đó).
Ở một góc độ nào đó, chúng ta chấp nhận chuyện đàn ông trung niên xuống sắc như một lẽ tự nhiên, đến mức quên mất rằng rất nhiều trong số đó hoàn toàn có thể kiểm soát được.
Tóc rụng có thể là do di truyền, nhưng việc thiếu ngủ, stress kéo dài, bia rượu, thuốc lá - tất cả đều là những chất xúc tác khiến quá trình đó đến sớm hơn và nặng hơn. Bụng bia cũng vậy, không phải tự nhiên mà có. Nó là kết quả của năng lượng nạp vào nhiều hơn tiêu hao trong một thời gian dài, cộng thêm việc cơ thể ngày càng ít vận động.
Đến khi rơi vào tình trạng này, tôi mới phát hiện nhiều đàn ông sẵn sàng chi tiền triệu cho thực phẩm chức năng, dầu gội chống rụng tóc, nhưng lại không sẵn sàng dành 30 phút mỗi ngày để vận động.
Chúng ta tìm cách chữa ngọn vì nó dễ hơn rất nhiều so với việc thay đổi thói quen. Bạn có thể dùng sản phẩm hỗ trợ, có thể thử đủ loại mẹo dân gian, nhưng nếu vẫn giữ nguyên nhịp sống cũ như thức khuya, ăn nhậu, ít vận động thì mọi nỗ lực chỉ giống như tát nước ra khỏi một chiếc thuyền đang thủng.
Khi nhìn sang những người cùng độ tuổi nhưng giữ được phong độ thì thật đáng ghen tỵ và hối hận vì những năm tháng không quan tâm, chăm sóc bản thân.
Khắc
Gần đây, tôi nhận được một số thiệp mời cưới của các cặp đôi trẻ có mã QR được đặt ngay ngắn ở góc. Tôi chỉ cần đưa điện thoại lên quét là thông tin về số tài khoản hiện ra rõ ràng. Mang câu chuyện hỏi một người bạn: "Cậu thấy sao về thiệp cưới có in mã QR chuyển khoản?", bạn tôi cười đáp: "Tiện thì tiện thật nhưng tự nhiên thấy mình như đang được mời tới một sự kiện có sẵn giá vé". Hóa ra, cái cảm giác lấn cấn ấy không chỉ của riêng một người.
Đám cưới, xét cho cùng, chưa bao giờ chỉ là chuyện của hai người. Trong văn hóa Á Đông, nhất là ở Việt Nam, đó còn là dịp để nối lại những mối quan hệ, để những người từng đi qua đời nhau có lý do ngồi lại, nhìn nhau, và nhớ. Người ta đến không chỉ để "mừng", mà để hiện diện như một cách xác nhận rằng mối liên kết ấy vẫn còn. Vì thế, khi một mã QR xuất hiện quá sớm trong tấm thiệp, nó vô tình làm một nghi thức vốn nhiều lớp ý nghĩa bỗng bị kéo về phía kỹ thuật, dễ khiến người ta thấy mình đang "thực hiện nghĩa vụ" nhiều hơn là "chia sẻ niềm vui".
Có người thấy tiện, nhưng cũng có người thấy lấn cấn. Cả hai đều không sai. Nhưng nếu để ý kỹ, ta sẽ thấy vấn đề không nằm ở mã QR. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, nhiều người sẽ vội kết luận rằng việc đưa mã QR vào thiệp cưới là "thiếu tinh tế". Nhưng khi nhìn bằng lăng kính của thế hệ trẻ sẽ thấy họ không làm điều này vì thiếu tế nhị, hay quá thực dụng, mà vì cách sống đã thay đổi.
Người trẻ hôm nay gần như không còn mang tiền mặt nhiều như trước. Họ quen với việc chạm nhẹ màn hình là xong một giao dịch, quen với ví điện tử, ngân hàng số, những thứ gọn gàng và không để lại cảm giác "nặng tay". Với họ, QR đơn giản là tiện. Với nhiều người, có một áp lực thầm lặng trong việc bỏ phong bì mừng cưới: bao nhiêu là đủ? Có "lệch chuẩn" không? Có làm mất lòng không?
>> Áp lực 'trả nợ' từ thiệp mời cưới in mã QR
Khi mã QR xuất hiện, nó vô tình làm nhẹ đi phần nào sự lúng túng ấy, ít nhất là về mặt thao tác. Người ta không còn phải đứng giữa bàn tiệc, lén nhìn người khác mừng bao nhiêu để tự cân chỉnh mình. Ở phía người tổ chức, QR lại là một giải pháp gần như hoàn hảo: không lo thất lạc, không nhầm lẫn, không phải ngồi đếm từng phong bì sau tiệc. Mọi thứ gọn gàng, minh bạch, đúng tinh thần của một đời sống hiện đại.
Nhưng chính vì quá hợp lý, nó cũng đặt ra một câu hỏi cần được cân nhắc kỹ hơn: liệu sự hợp lý ấy có đang đi trước cảm xúc của người nhận? Bởi suy cho cùng, một đám cưới có thể cần sự rõ ràng để vận hành, nhưng vẫn cần sự tinh tế để giữ lại cảm giác mà người ta muốn nhớ về sau.
Càng đi qua nhiều đám cưới, tôi càng nhận ra không có một chuẩn mực duy nhất cho tất cả. Có những thứ tưởng như đối lập - truyền thống và hiện đại, kín đáo và rõ ràng - lại cùng tồn tại, mỗi bên hợp với một kiểu người, một hoàn cảnh. Vấn đề không nằm ở việc chọn bên nào, mà là hiểu mình đang đứng ở đâu trong bức tranh ấy?
Tôi từng dự một đám cưới ở quê, rất giản dị. Thiệp mời không có mã QR, không có số tài khoản, chỉ là lời mời chân thành. Khách đến, người mang nhiều, người mang ít, không ai hỏi, cũng không ai để ý. Nhưng cái đọng lại không phải là phong bì, mà là cách người ta nhìn nhau, một cái gật đầu, một nụ cười, đủ hiểu là mình có mặt ở đây vì nhau.
Rồi ở một lần khác, trong một đám cưới ở thành phố, mọi thứ gọn gàng, rõ ràng hơn. Thiệp được gửi online, QR đặt sẵn, lịch sự và tiện lợi. Người trẻ thấy thoải mái vì không phải đoán ý. Người tổ chức cũng nhẹ lòng vì mọi thứ được sắp xếp trật tự. Hai không gian, hai cách vận hành cảm xúc khác nhau và tôi thấy không bên nào sai, chỉ là mỗi bên giữ lại một kiểu ấm áp khác nhau.
Khi tôi đi câu cá biển về và tổ chức nướng mọi, không nêm nếm bất cứ thứ gì, mời đứa em qua nhà, trong sân vườn chúng tôi vừa nướng cá vừa ăn. Mùi cá biển tươi trên than hồng bốc lên, đứa em bảo sao ngon quá. Một cảm giác tươi ngon như nghe mùi gió biển đâu đây.
Nhưng khi ăn, đứa em này lại chê nhạt nhẽo. Lẽ ra trước khi nướng phải ướp gia vị và cần làm một bát nước chấm thật đậm đà.
Chuyện này làm tôi thắc mắc rằng phải chăng nhiều người đã bị hỏng khẩu vị vì ngày thường ăn phải những món ăn nêm nếm đậm đà, sử dụng gia vị một cách vô tội vạ?
Các món ăn của gia đình tôi khi nấu chỉ cho thêm một chút muối, ngoài ra không nêm nếm những gia vị nào khác.
Trên thực tế, từ tô phở cho tới nấu ăn bếp nhà, nhiều người nấu ăn cứ phải nêm nếm cho thật đậm đà... Nhưng chính cái thói quen nêm nếm vô tội vạ ấy lại đang âm thầm làm hỏng khẩu vị và cả cách chúng ta cảm nhận món ăn.
Chúng ta vẫn thường nhầm lẫn giữa ngon và đậm. Một món ăn nhiều gia vị chưa chắc đã ngon, nhưng một món ăn giữ được vị tự nhiên thì gần như chắc chắn là dễ ăn.
Con cá tươi nướng chỉ cần chút muối vẫn khiến người ta xuýt xoa. Bát canh rau đơn giản, nếu nguyên liệu đủ tốt, khi húp một thìa nước canh thấy vị khoan khoái, người cũng nhẹ nhõm.
Nhưng trong nhịp sống hiện đại, nhiều người dường như không còn đủ kiên nhẫn để cảm nhận những điều đơn giản ấy. Gia vị trở thành lối tắt cho vị giác. Thiếu một chút mặn thì thêm nước mắm, thêm muối, thiếu ngọt thì cho đường, chưa đã miệng thì thêm bột nêm, mì chính..
Và cứ thế, món ăn dần bị phủ kín bởi các lớp vị nhân tạo, đến mức không còn nhận ra nguyên liệu ban đầu có vị gì.
Đáng nói hơn, việc nêm nếm quá tay không chỉ dừng lại ở thói quen cá nhân, mà còn tạo ra một vòng lặp khẩu vị. Ăn mặn quen thì sẽ thấy nhạt là dở. Ăn nhiều gia vị quen thì món tự nhiên lại bị cho là thiếu hấp dẫn.
Một hệ quả khác ít được nhắc đến là sự lãng phí. Như câu chuyện những chén nước mắm pha đầy ắp, thêm đủ thứ tỏi, ớt, sa tế... nhưng chỉ chấm vài lần rồi bỏ lại. Hay những bát phở bị vắt quá nhiều chanh, chan quá nhiều tương, để rồi chính người ăn cũng không thể ăn hết. Đó không chỉ là lãng phí vật chất, mà còn là sự thiếu tôn trọng công sức của người nấu.
Nấu ăn không phải là cuộc thi xem ai cho nhiều gia vị hơn, mà là cách để tôn trọng nguyên liệu và giữ gìn khẩu vị tự nhiên. Ăn uống cũng không chỉ để no hay đã miệng, mà còn là cách rèn luyện sự tiết chế.