Tại dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế gửi Bộ Tư pháp thẩm định, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung quy định tạm hoãn xuất cảnh với người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Theo đó, cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên, có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu sau 30 ngày kể từ khi nhận thông báo vẫn chưa nộp đủ.
Dự thảo giữ nguyên các trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh như hiện hành, gồm cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh nợ từ 50 triệu đồng hoặc đại diện, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã nợ từ 500 triệu đồng, quá hạn trên 120 ngày; người xuất cảnh định cư nước ngoài nhưng còn nợ thuế.
Như vậy, điểm mới là ngưỡng tạm hoãn xuất cảnh 1 triệu đồng lần đầu được áp dụng riêng với nhóm nợ thuế và không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký – dấu hiệu vi phạm nghĩa vụ kê khai, quản lý thuế.
Nói với VnExpress, ông Mạc Quốc Anh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Hà Nội (Hanoisme), nhìn nhận đề xuất siết quản lý với nhóm nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký là có cơ sở.
Thực tế, người nộp thuế không còn hoạt động tại địa điểm đăng ký kinh doanh có rủi ro cao trong quản lý thuế. Bởi khi họ đã rời khỏi địa chỉ đăng ký, cơ quan thuế khó liên hệ, xác minh, thu hồi nợ. Họ cũng có nguy cơ phát sinh tình trạng “doanh nghiệp ma”, sử dụng hóa đơn không hợp pháp hoặc để lại khoản nợ thuế rồi biến mất.
Song ông Mạc Quốc Anh cho rằng mức 1 triệu đồng là “rất thấp” do cấm xuất cảnh còn tác động trực tiếp đến quyền đi lại, hoạt động thương mại, công tác, ký kết hợp đồng, học tập, chữa bệnh, thăm thân của cá nhân. Vì vậy, chính sách phải bảo đảm đúng đối tượng, tương xứng với mức độ vi phạm và có cơ chế bảo vệ người nộp thuế thiện chí.
Ở góc độ khác, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty luật SBLaw, đánh giá đề xuất mới chưa phù hợp với bối cảnh hiện nay. Theo ông, xuất nhập cảnh là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo vệ, việc hạn chế chỉ nên thực hiện với những lý do thực sự đặc biệt, xác đáng.
Trong khi đó, khoảng trống nợ thuế từ 1-50 triệu đồng vẫn là con số nhỏ, không tương xứng với một biện pháp cưỡng chế mạnh tay. Quy định này có thể dẫn đến tâm lý lo lắng và tiêu cực cho cộng đồng kinh doanh, đặc biệt là với những người nợ thuế do sơ suất khi làm thủ tục đóng cửa doanh nghiệp.
“Để ra một quyết định tạm hoãn xuất cảnh cần sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế, xuất nhập cảnh và biên phòng. Chi phí để thực thi quy trình này có thể lớn hơn nhiều số tiền nợ thuế thu hồi được”, ông Hà nhận định.
Theo Bộ Tài chính, hiện có khoảng 963.500 người nộp thuế (gồm 325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh) không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng còn nợ thuế. Tổng nợ thuế là 32.130 tỷ đồng, gồm doanh nghiệp 29.815 tỷ đồng, hộ kinh doanh 2.315 tỷ đồng. Trong đó, khoảng 496.200 người nộp thuế nợ dưới 1 triệu đồng (chiếm 51,5%), với tổng số tiền khoảng 66 tỷ đồng.
Đến nay, khoảng 65.000 người nợ thuế không hoạt động tại địa điểm kinh doanh bị tạm hoãn xuất cảnh. Trong đó, hơn 7.100 người đã nộp tiền và được hủy bỏ biện pháp này.
Ông Mạc Quốc Anh cho rằng những con số này cho thấy việc siết nợ thuế với nhóm người nộp không còn hoạt động tại địa điểm đăng ký không chỉ là bài toán thu tiền, mà còn nhằm làm sạch dữ liệu, chuẩn hóa quản lý và nâng năng lực tuân thủ.
Thực tế, nhiều trường hợp hộ kinh doanh nhỏ chuyển địa điểm thuê mặt bằng, chưa cập nhật thông tin, hoặc cá nhân không biết còn khoản nợ nhỏ, lỗi do hệ thống dẫn đến không còn hoạt động kinh doanh tại địa điểm nhưng vẫn “treo” nợ thuế. Bên cạnh đó, thủ tục đóng mã số thuế, giải thể, tạm ngừng, chấm dứt hoạt động còn chưa thật sự đơn giản với khu vực nhỏ và siêu nhỏ, kéo theo nhiều khoản nợ thuế nhỏ, tiền chậm nộp, phạt hành chính có thể kéo dài nhiều năm.
Công tác dữ liệu sau đăng ký kinh doanh cũng chưa thật sự liên thông dẫn tới khi người nộp thuế thay đổi địa chỉ hoặc ngừng hoạt động, cơ quan thuế không có tín hiệu cảnh báo sớm. Đến khi kiểm tra mới phát hiện “không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký”, khoản nợ đã thành tồn đọng. Chưa kể, có trường hợp lập doanh nghiệp, phát hành hóa đơn, phát sinh nghĩa vụ thuế rồi bỏ địa chỉ, có người đứng tên hộ, sử dụng doanh nghiệp như một “vỏ pháp lý” để giao dịch ngắn hạn rồi để lại nợ thuế.
Từ đó, ông Quốc Anh cho rằng mức 1 triệu đồng không nên áp dụng như một ngưỡng tuyệt đối. Thay vào đó, chính sách có thể thiết kế theo hướng phân tầng rủi ro. Tức là, với khoản nợ nhỏ từ 1-5 triệu đồng, cơ quan quản lý ưu tiên cảnh báo, nhắc nợ, cập nhật thông tin, cho phép giải trình, nộp ngay qua eTax hoặc VNeID. Trường hợp có dấu hiệu bỏ trốn, lập doanh nghiệp “ma”, mua bán hóa đơn, chiếm dụng tiền thuế, nhà điều hành có thể áp dụng ngay cơ chế kiểm soát chặt, không chỉ nhìn vào số tiền.
“Chính sách thuế phải nghiêm, nhưng cũng cần công bằng để không biến một khoản nợ nhỏ, đôi khi do lỗi kỹ thuật hoặc thiếu thông tin, thành rào cản lớn với quyền đi lại, hoạt động kinh doanh chính đáng của người dân”, ông nói thêm.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Hà cho rằng cơ quan thuế cũng gặp khó khăn trong việc thông báo và truy thu nợ thuế đối với chủ hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp “ma”, do họ không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Nhiều người không có thói quen tra cứu thông tin này nên chỉ biết đến lệnh hoãn xuất cảnh khi ra đến sân bay. Điều này có thể khiến họ tổn thất chi phí vé, lưu trú đã đặt trước.
Theo đó, ông đề xuất quy định có thể áp dụng quy trình cưỡng chế từng bước, tức thông báo nhiều lần và phải chứng minh người nợ thuế đã nhận được thông tin và chây ì, thay vì tạm hoãn xuất cảnh ngay lập tức.
Chiều 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về kế hoạch đầu tư công trung hạn. Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, lâu nay chính sách về đấu thầu được thiết kế để giảm giá, nhằm tiết kiệm ngân sách, qua đó tăng hiệu quả đầu tư.
Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố tích cực, ông Tân nói thực tế qua nhiều năm cho thấy "dự án đấu thầu càng bỏ giá thấp, càng có xu hướng chất lượng thấp, tiến độ chậm, công trình dở dang kéo dài".
Ông dẫn chứng với một dự án thoát nước 1.000 tỷ đồng sử dụng vốn ODA, mức giảm giá trung bình của gói thầu xây lắp khoảng 24%, có gói giảm 40%, giúp ngân sách tiết kiệm 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi đi vào triển khai, những gói thầu thấp bị kéo dài thời gian, khiến dự án chậm tiến độ 3 năm, gây thiệt hại lớn.
"Nguyên nhân là giá thấp, nên nhà thầu làm không có lãi hoặc lỗ nên ưu tiên dự án khác. Đầu tư khó khăn cũng khiến dự án phát sinh nhiều thủ tục", đại biểu nêu.
Tương tự, tại một dự án xây 6 phòng học với mức đầu tư 8 tỷ đồng cũng do nhà thầu bỏ giá thấp thực hiện. Theo ông Tân, nhà thầu năng lực yếu nên gần 4 năm mới hoàn thành, gây bất tiện lớn cho nhà trường.
Trước thực tế này, Phó chủ tịch Quảng Trị đề nghị cần sửa luật liên quan, trong đó tăng mức chỉ định thầu với công trình có tiêu chuẩn đồng nhất, ví dụ phòng học từ 2 tỷ có thể tăng lên 10 tỷ đồng.
Từ nay đến 2030, Chính phủ đề xuất tổng vốn đầu tư công là 8,22 triệu tỷ đồng - gấp 2,7 lần thực hiện 5 năm trước. Trong đó ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ và địa phương 4,22 triệu tỷ đồng.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy "giải ngân sang hiệu quả cao". Bởi theo bà, thực tế nhiều năm qua, vốn không phải vấn đề lớn mà ở khâu chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng chậm, năng lực thực hiện dự án còn hạn chế, dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Đồng thời, bà đề nghị áp dụng cơ chế giải ngân theo kết quả đầu ra, thiết lập nguyên tắc không đạt mục tiêu giai đoạn trước thì không bố trí vốn cho giai đoạn sau. Tỷ lệ giải ngân, hiệu quả dự án cần được công khai để tránh đầu tư dàn trải.
"Việc đánh giá dự án đầu tư công phải bắt buộc theo các chỉ tiêu tài chính như tỷ suất hoàn vốn, điểm hòa vốn, hiệu quả kinh tế - xã hội", bà Chinh cho hay.
Ở khía cạnh này, Phó chủ tịch Quảng Trị Hoàng Xuân Tân cho rằng cần tăng trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu có năng lực.
Đối với địa phương, nhất là đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, các đại biểu gợi ý vận dụng linh hoạt các công cụ tài chính như mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), trái phiếu chính quyền địa phương... Việc này nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực tại chỗ và thúc đẩy phát triển bền vững.
Giải trình sau đó, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công là "yêu cầu bắt buộc". Với quy trình đấu thầu hiện kéo dài 6 tháng đến 1 năm, Bộ trưởng Tuấn nói sẽ yêu cầu các đơn vị rà soát khâu triển khai, các vướng mắc về mặt bằng, tiêu chuẩn định mức, giá vật liệu xây dựng.
Ông cho biết trong tuần này Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ chỉ đạo một hội nghị toàn quốc nhằm rà soát lại toàn bộ việc giải ngân đầu tư công. Việc rà soát tiến hành từ quy trình thủ tục, gồm thủ tục hành chính khâu chuẩn bị đầu tư.
Quốc hội dự kiến biểu quyết thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn vào ngày 24/4.
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam - Techcombank (TCB) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán, ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng đáng chú ý.
Theo đó, thu nhập lãi thuần trong năm 2025 đạt 38.155 tỉ đồng, tăng 7,5% so với năm trước, tiếp tục là nguồn đóng góp chủ lực vào tổng thu nhập của ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh ngoại hối ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ khi lãi thuần tăng gần gấp ba lần, từ 592 tỉ đồng năm 2024 lên 1.642 tỉ đồng.
Trong khi đó, mảng mua bán chứng khoán có sự phân hóa: lãi thuần từ chứng khoán kinh doanh giảm 36%, song lãi thuần từ chứng khoán đầu tư lại tăng hơn 20%, đạt 2.846 tỉ đồng.
Đáng chú ý, lãi thuần từ hoạt động khác tăng đột biến, từ 342 tỉ đồng lên 1.884 tỉ đồng, góp phần cải thiện đáng kể cơ cấu thu nhập ngoài lãi của ngân hàng.
Sau khi trừ chi phí và thuế, Techcombank ghi nhận lợi nhuận sau thuế năm 2025 đạt 25.954 tỉ đồng, tăng hơn 19% so với năm trước.
Kết quả này cho thấy hiệu quả hoạt động tiếp tục được củng cố, trong bối cảnh ngân hàng duy trì tăng trưởng ở nhiều mảng kinh doanh cốt lõi.
Báo cáo cũng cho biết, tổng số cán bộ nhân viên của ngân hàng và các công ty con tại thời điểm cuối 2025 là 12.705 người, tăng 857 người sau 1 năm.
Tổng thu nhập cho toàn bộ nhân viên được Techcombank chi trả ở mức 7.109 tỉ đồng. Do số người tăng lên, nhưng tổng chi trả thu nhập chỉ tăng không đáng kể, nên thu nhập bình quân nhân viên năm ngoái của Techcombank sụt giảm.
Theo Techcombank, thu nhập bình quân/tháng của mỗi người còn khoảng 48 triệu đồng, giảm 1 triệu đồng so với năm 2024.
Ngược lại, thù lao và tiền lương của ban lãnh đạo tiếp tục ghi nhận mức tăng ở nhiều vị trí.
Cụ thể, ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch Hội đồng quản trị, nhận 4,46 tỉ đồng trong năm 2025, tăng nhẹ khoảng 2,2% so với mức 4,36 tỉ đồng của năm trước.
Đáng chú ý, một số vị trí trong Hội đồng quản trị ghi nhận mức tăng hai chữ số. Trong đó, ông Nguyễn Thiều Quang - Phó Chủ tịch, nhận 2,37 tỉ đồng, tăng khoảng 39% so với năm 2024.
Một số lãnh đạo khác như ông Nguyễn Đăng Quang (Phó Chủ tịch thứ nhất) nhận 4 tỉ đồng, ông Nguyễn Cảnh Sơn nhận 3,88 tỉ đồng và ông Hồ Anh Ngọc nhận 2,769 tỉ đồng, đều tăng nhẹ so với năm trước.
Ở nhóm thành viên độc lập, ông Eugene Keith Galbraith tiếp tục là người có mức thù lao cao, đạt 7,17 tỉ đồng, tăng so với mức 6,75 tỉ đồng của năm 2024.
Ông Hoàng Huy Trung - Trưởng ban kiểm soát - nhận 5,166 tỉ đồng, tăng nhẹ so với năm trước.
Đáng chú ý, Tổng giám đốc Jens Lottner là người có thu nhập cao nhất trong ban lãnh đạo khi nhận hơn 27,5 tỉ đồng tiền lương trong năm 2025, tăng gần 1,9 tỉ đồng so với năm trước, tương ứng mức tăng khoảng 7,4%. Mức thu nhập này cao gấp khoảng 6 lần thù lao của Chủ tịch Hồ Hùng Anh.
Trước đó, Thủ tướng đã yêu cầu các bộ gồm: Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Xây dựng rà soát, nghiên cứu và có báo cáo hiện trạng các quy định, thủ tục hành chính, kết quả cắt giảm, đơn giản hóa thời gian qua.
Trong đó, đề xuất tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa đối với các nhóm quy định, thủ tục hành chính liên quan đến phòng cháy chữa cháy, cấp phép khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đánh giá tác động môi trường, cấp phép xây dựng.
Sau báo cáo của các bộ, Bộ Tư pháp đã rà soát độc lập, có Văn bản số 3185 ngày 12-5 báo cáo Thủ tướng kết quả rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa của bốn nhóm thủ tục hành chính trên.
Từ báo cáo trên, Thủ tướng yêu cầu bộ trưởng các bộ ngành trên chỉ đạo các đơn vị liên quan tiếp tục nghiên cứu các ý kiến hợp lý của Bộ Tư pháp để xây dựng và chủ động thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan theo thẩm quyền, hoàn thành trong tháng 5-2026.
Các bộ báo cáo cấp có thẩm quyền cắt giảm, đơn giản hóa đối với các phương án vượt thẩm quyền, hoàn thành trong tháng 6-2026;
Khẩn trương rà soát, hoàn thiện các phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan tại dự thảo Nghị quyết phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Các nội dung này gửi Bộ Tư pháp để hoàn thiện, trình Chính phủ.
Đồng thời, người đứng đầu Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp Bộ Xây dựng chỉ đạo rà soát, sửa đổi các quy chuẩn, tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy theo hướng phù hợp thực tiễn. Bảo đảm an toàn cho người, cho công trình và tiết kiệm tối đa cho chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình và cắt giảm tối đa chi phí tuân thủ cho tổ chức, cá nhân;
Rà soát, đơn giản hóa danh mục phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ thuộc diện cấp giấy phép trước khi lưu thông trên thị trường để tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân; báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15-6;
Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ đạo đơn vị liên quan nghiên cứu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục thành lập/mở rộng cụm công nghiệp theo hướng tăng cường liên thông, tích hợp, thực hiện thủ tục hành chính. Hoàn thiện dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 32 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp, trình Chính phủ ban hành trong tháng 5-2026;
Bộ trưởng Bộ Xây dựng chỉ đạo đơn vị liên quan rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng, trình Chính phủ ban hành trong tháng 5. Bộ phối hợp với Bộ Công an thực hiện nội dung nêu trên;
Bộ trưởng Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ, cơ quan chỉ đạo các đơn vị liên quan nghiên cứu, tham mưu cấp có thẩm quyền thống nhất một đầu mối quản lý khu công nghiệp và cụm công nghiệp. Trong quá trình xây dựng, ban hành các Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, hoàn thành trong tháng 5.