Chiều 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về kế hoạch đầu tư công trung hạn. Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị, lâu nay chính sách về đấu thầu được thiết kế để giảm giá, nhằm tiết kiệm ngân sách, qua đó tăng hiệu quả đầu tư.
Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố tích cực, ông Tân nói thực tế qua nhiều năm cho thấy “dự án đấu thầu càng bỏ giá thấp, càng có xu hướng chất lượng thấp, tiến độ chậm, công trình dở dang kéo dài”.
Ông dẫn chứng với một dự án thoát nước 1.000 tỷ đồng sử dụng vốn ODA, mức giảm giá trung bình của gói thầu xây lắp khoảng 24%, có gói giảm 40%, giúp ngân sách tiết kiệm 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi đi vào triển khai, những gói thầu thấp bị kéo dài thời gian, khiến dự án chậm tiến độ 3 năm, gây thiệt hại lớn.
“Nguyên nhân là giá thấp, nên nhà thầu làm không có lãi hoặc lỗ nên ưu tiên dự án khác. Đầu tư khó khăn cũng khiến dự án phát sinh nhiều thủ tục”, đại biểu nêu.
Tương tự, tại một dự án xây 6 phòng học với mức đầu tư 8 tỷ đồng cũng do nhà thầu bỏ giá thấp thực hiện. Theo ông Tân, nhà thầu năng lực yếu nên gần 4 năm mới hoàn thành, gây bất tiện lớn cho nhà trường.
Trước thực tế này, Phó chủ tịch Quảng Trị đề nghị cần sửa luật liên quan, trong đó tăng mức chỉ định thầu với công trình có tiêu chuẩn đồng nhất, ví dụ phòng học từ 2 tỷ có thể tăng lên 10 tỷ đồng.
Từ nay đến 2030, Chính phủ đề xuất tổng vốn đầu tư công là 8,22 triệu tỷ đồng – gấp 2,7 lần thực hiện 5 năm trước. Trong đó ngân sách trung ương 3,8 triệu tỷ và địa phương 4,22 triệu tỷ đồng.
Bà Phạm Thúy Chinh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy “giải ngân sang hiệu quả cao”. Bởi theo bà, thực tế nhiều năm qua, vốn không phải vấn đề lớn mà ở khâu chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng chậm, năng lực thực hiện dự án còn hạn chế, dẫn đến lãng phí nguồn lực.
Đồng thời, bà đề nghị áp dụng cơ chế giải ngân theo kết quả đầu ra, thiết lập nguyên tắc không đạt mục tiêu giai đoạn trước thì không bố trí vốn cho giai đoạn sau. Tỷ lệ giải ngân, hiệu quả dự án cần được công khai để tránh đầu tư dàn trải.
“Việc đánh giá dự án đầu tư công phải bắt buộc theo các chỉ tiêu tài chính như tỷ suất hoàn vốn, điểm hòa vốn, hiệu quả kinh tế – xã hội”, bà Chinh cho hay.
Ở khía cạnh này, Phó chủ tịch Quảng Trị Hoàng Xuân Tân cho rằng cần tăng trách nhiệm của chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu có năng lực.
Đối với địa phương, nhất là đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, các đại biểu gợi ý vận dụng linh hoạt các công cụ tài chính như mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), trái phiếu chính quyền địa phương… Việc này nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực tại chỗ và thúc đẩy phát triển bền vững.
Giải trình sau đó, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công là “yêu cầu bắt buộc”. Với quy trình đấu thầu hiện kéo dài 6 tháng đến 1 năm, Bộ trưởng Tuấn nói sẽ yêu cầu các đơn vị rà soát khâu triển khai, các vướng mắc về mặt bằng, tiêu chuẩn định mức, giá vật liệu xây dựng.
Ông cho biết trong tuần này Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ chỉ đạo một hội nghị toàn quốc nhằm rà soát lại toàn bộ việc giải ngân đầu tư công. Việc rà soát tiến hành từ quy trình thủ tục, gồm thủ tục hành chính khâu chuẩn bị đầu tư.
Trong phiên họp thường niên của Techcombank ngày 25/4, 266 cổ đông - đại diện cho 76% cổ phần có quyền biểu quyết - dành sự quan tâm lớn đến tình hình cho vay với nhóm bất động sản của nhà băng.
"Hiện nhóm bất động sản chiếm hơn 50% tổng dư nợ vay, ngân hàng có biện pháp nào để quản trị rủi ro?", một cổ đông đặt vấn đề.
Tổng giám đốc Jens Lottner cho biết nhà băng này không cho vay bất động sản "bất chấp", chỉ ưu tiên các chủ đầu tư có năng lực và dòng tiền ổn định. Cách làm này giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro ngay từ đầu.
"Rủi ro từ các khoản vay với nhóm địa ốc rất thấp", ông Jens Lottner nói.
Chủ tịch Techcombank Hồ Hùng Anh bổ sung, ngân hàng duy trì chiến lược "rủi ro thấp, hiệu quả cao" (low risk, high return).
"Chúng tôi không cho vay, tài trợ những dự án pháp lý không đầy đủ, thiếu tính thanh khoản", tỷ phú Hồ Hùng Anh nói, thêm rằng nhà băng có thể thu hồi gốc các khoản nợ xấu địa ốc sau 2-3 năm.
Theo báo cáo tài chính quý I/2026, Techcombank ghi nhận các tổ chức kinh tế liên quan bất động sản vay gần 199.000 tỷ đồng, tương đương trên 26,4% tổng dư nợ của ngân hàng. Mức này giảm khoảng 2% so với cuối năm ngoái.
Bên cạnh đó, ngân hàng cho các cá nhân vay hơn 331.826 tỷ đồng. Trong đó, phần lớn là khoản cho vay khách hàng mua bất động sản, theo tỷ phú Hồ Hùng Anh.
Hồi tháng 2, lãi suất cho vay mua bất động sản tại một chi nhánh của Techcombank ở mức 8,5-9,5% một năm, trong 6-12 tháng đầu tiên. Sau thời gian ưu đãi, mức lãi cộng thêm 3-4% so lãi suất với huy động.
Tại phiên họp thường niên, các cổ đông cũng bày tỏ quan tâm đến chiến lược của Techcombank ở mảng tài sản mã hóa.
CEO Jens Lottner chia sẻ, tài sản mã hóa được nhiều người Việt quan tâm, nên vấn đề quản trị rủi ro vô cùng quan trọng. "Tuy nhiên, tôi cho rằng số người có lãi trên thị trường này rất ít", ông nói.
Ông nói thêm nếu được cơ quan quản lý cấp phép, ngân hàng sẽ cung cấp các dịch vụ cơ bản và an toàn nhất dựa trên nền tảng bảo mật xây dựng nhiều năm qua.
Techcombank "lấn sân" vào lĩnh vực tài sản số thông qua Công ty cổ phần Giao dịch Tài sản mã hóa Techcom (TCEX). Về cơ cấu cổ đông, TCBS, công ty con của Techcombank, hiện nắm 9,9% vốn TCEX. Ngoài ra, ông Nguyễn Xuân Minh, Chủ tịch TCBS, cũng sở hữu 89% vốn.
Chia sẻ tại sự kiện Gateway to Vietnam 2026 diễn ra ngày 3/6, ông Bradley Warden, Giám đốc điều hành kiêm Quản lý danh mục cấp cao tại Nomura Asset Management International, cho rằng AI khác với các chu kỳ công nghệ trước ở chỗ không chỉ bổ sung thêm công cụ cho con người, mà đưa năng lực suy luận và xử lý thông tin vào nhiều quy trình khác nhau.
Theo ông, nếu máy tính cá nhân, điện thoại thông minh hay điện toán đám mây chủ yếu tạo ra các lớp công cụ mới, AI có thể tác động rộng hơn khi được tích hợp vào hạ tầng tính toán, dữ liệu, bộ nhớ, phần mềm và vận hành doanh nghiệp.
Với Việt Nam, câu chuyện AI không nhất thiết bắt đầu từ việc sở hữu những doanh nghiệp giống Nvidia hay Micron. Cơ hội có thể nằm ở các ngành có khả năng ứng dụng AI vào vận hành, phân tích dữ liệu, phục vụ khách hàng, quản trị rủi ro và tối ưu chi phí.
Thứ nhất, ở nhóm công nghệ, Tập đoàn FPT là doanh nghiệp hưởng lợi trong nhóm ứng dụng. Dù vậy, doanh nghiệp Việt này theo chuyên gia vẫn còn ở giai đoạn bắt đầu về AI, vấn đề quan trọng cần quan tâm là khả năng sinh lời trong lĩnh vực công nghệ.
Ông Phạm Lưu Hưng, Giám đốc SSI Research, cho biết thêm Việt Nam không cần cạnh tranh trực diện với Mỹ hay Trung Quốc trong cuộc đua xây dựng các mô hình AI nền tảng, vốn đòi hỏi nguồn vốn đầu tư, hạ tầng tính toán và nhân lực công nghệ quy mô lớn.
Ngược lại, cơ hội phù hợp hơn với Việt Nam nói chung và FPT nói riêng nằm ở tầng ứng dụng, nơi doanh nghiệp sử dụng AI để cải thiện quy trình kinh doanh, tự động hóa vận hành và tạo ra hiệu quả tài chính cụ thể.
Bên cạnh mảng công nghệ, lĩnh vực dịch vụ tài chính (bao gồm ngân hàng, chứng khoán, quản lý tài sản và các hoạt động liên quan đến dữ liệu khách hàng) cũng xuất hiện cơ hội tăng trưởng trong làn sóng bùng nổ công nghệ, AI.
Tại Việt Nam, một số ngân hàng như Techcombank, VPBank, MB… đã có thể “nhúng” AI vào các quy trình như cá nhân hóa đề xuất cho khách hàng. Đây là các ứng dụng có thể tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh.
Trong lĩnh vực chứng khoán, AI có thể hỗ trợ môi giới, chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu thị trường, báo cáo nghiên cứu, quản trị rủi ro, back-office và phát triển sản phẩm số.
Hiện nay, việc lập trình (coding) không còn là điểm nghẽn lớn nhất, doanh nghiệp phải học cách quản trị các điểm nghẽn mới như kiểm tra, xác minh kết quả, hướng dẫn AI đúng cách và đảm bảo công nghệ tạo ra sản phẩm đúng nhu cầu.
Ngoài dịch vụ tài chính, bán lẻ và tiêu dùng cũng là nhóm có thể hưởng lợi nhờ sở hữu lượng dữ liệu lớn về khách hàng, giao dịch, hàng tồn kho và vận hành chuỗi cửa hàng.
Ngoài ra, nhóm doanh nghiệp sở hữu hạ tầng, khu đất hoặc khu công nghiệp cũng đang phục vụ nhu cầu công nghệ mới.
Trong bối cảnh AI kéo theo nhu cầu về bán dẫn, data center và năng lực tính toán, các doanh nghiệp khu công nghiệp như Kinh Bắc hoặc Viglacera là những cái tên đáng chú ý. Bởi các doanh nghiệp phát triển khu công nghiệp được chọn là nơi đặt cơ sở của nhiều doanh nghiệp bán dẫn và công nghệ như Intel, Hana Micron, Samsung.
Data center cũng trở thành lớp hạ tầng quan trọng khi các doanh nghiệp có nhu cầu xử lý dữ liệu trong nước. Do việc sử dụng các mô hình AI như Claude, Gemini hay ChatGPT gặp giới hạn nhất định do dữ liệu nhạy cảm và yêu cầu không đưa thông tin ra ngoài Việt Nam, nhiều bên chọn phương án thuê hạ tầng máy chủ nội địa. Điều này mở ra nhu cầu mới về năng lực tính toán nội địa và hạ tầng dữ liệu cho các ngành có yêu cầu bảo mật cao như tài chính.
Năng lượng cũng là một lĩnh vực đáng chú ý. AI cần năng lực tính toán lớn, trong khi data center tiêu thụ nhiều điện và đòi hỏi nguồn cung ổn định. Theo ông Phạm Lưu Hưng, năng lượng có thể được xem là nhóm hưởng lợi từ điểm nghẽn hạ tầng khi AI mở rộng.
Nhìn chung, làn sóng AI có thể không tạo ra một “Nvidia Việt Nam” trong ngắn hạn; nhưng khi AI dịch chuyển từ tầng mô hình nền tảng sang tầng ứng dụng, cơ hội có thể phân bổ rộng hơn sang những ngành có dữ liệu, khách hàng, quy trình vận hành và hạ tầng cần được tối ưu.
Chia sẻ tại tọa đàm kết quả điều tra hộ kinh doanh ngày 23/4, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh "tâm lý phòng thủ" của hộ kinh doanh trước sức ép thị trường và khó khăn pháp lý.
Kết quả khảo sát hơn 1.000 hộ kinh doanh trong 3 tháng qua của VCCI cho thấy chỉ 1,8% dự định mở rộng hoạt động, hơn 60% duy trì quy mô hiện tại và 33% thu hẹp. Thậm chí, một số hộ dự tính giải thể trong hai năm tới.
Xu hướng kém lạc quan này một phần do hoạt động kinh doanh yếu trong năm qua. Hơn 81% hộ cho biết doanh thu giảm, dẫn tới ba phần tư hộ vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng. "Mức này đủ để tồn tại, nhưng khó tích lũy hay chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhận định.
Với các hộ kinh doanh, khó khăn về pháp lý là yếu tố áp lực nhất với họ (73%), ảnh hưởng lớn hơn vấn đề nguyên liệu đầu vào trước biến động trong nước và xung đột Trung Đông (59%).
Về nghĩa vụ thuế, hơn 36% hộ không biết hoặc ở mức "có nghe nói" tới hóa đơn điện tử. Một phần ba hộ thiếu thiết bị, hạ tầng Internet. Nhiều hộ không biết sửa hoặc xử lý lỗi kỹ thuật trong quá trình áp dụng hóa đơn điện tử.
Cũng theo khảo sát của VCCI, hơn 80% hộ "né" chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp vì lo ngại thủ tục, chi phí bảo hiểm xã hội cao và bị thanh, kiểm tra nhiều hơn. Ông Phạm Ngọc Thạch cho biết tính theo doanh thu, nhóm có quy mô từ 500 triệu đến 3 tỷ đồng có xu hướng không muốn lên doanh nghiệp.
Chỉ 16% hộ có ý định chuyển đổi thành doanh nghiệp trong hai năm tới. Động lực chuyển đổi đến từ nhu cầu phát triển thực chất, như muốn có pháp nhân khi giao kết hợp đồng, mở rộng quy mô, vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, VCCI cho rằng rào cản chuyển đổi đang lớn hơn nhiều so với động lực, khi hơn 90% hộ lo ngại thủ tục thuế và kế toán phức tạp hơn.
Ông Tuấn nhận định điều này khiến ý định đầu tư, mở rộng của hộ kinh doanh giảm đáng kể. "Môi trường thể chế có thể vô tình khiến hộ kinh doanh duy trì quy mô nhỏ, phòng thủ và né tránh tăng trưởng", ông nói.
Phó tổng thư ký VCCI cho rằng các quy định về thuế, kế toán và hóa đơn điện tử cần được đơn giản hóa cho phù hợp với năng lực thực tế của hộ kinh doanh. Điều này đặc biệt cấp thiết với những hộ siêu nhỏ, chủ hộ lớn tuổi hoặc ở nông thôn
Hiện Bộ Tài chính đề xuất ngưỡng doanh thu chịu thuế lên 1 tỷ đồng, nhưng bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho rằng đây chưa phải là giải pháp cốt lõi. Theo bà, hộ kinh doanh không phải không muốn đóng thuế, điều họ cần là giải pháp tuân thủ dễ dàng, minh bạch, đặc biệt về giới hạn xử phạt. Họ cần được hỗ trợ để kinh doanh chuẩn, quản trị tốt, từ đó "lớn hơn".
"Họ sợ ranh giới xử phạt mong manh, bước qua một đồng là thành vi phạm", bà nói.
Ở khía cạnh này, ông Phạm Ngọc Thạch đồng tình chính sách hiệu quả không chỉ là quản lý chặt hơn, cần giúp hộ kinh doanh đủ tự tin để tồn tại, phục hồi và trưởng thành.