Tình hình Trung Đông leo thang, các mối đe dọa thuế quan từ Mỹ, khủng hoảng năng lượng toàn cầu, biến đổi khí hậu và làn sóng AI đang cùng lúc đặt ra thách thức cho một khu vực vốn được xem là ổn định.
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 không đơn thuần là câu chuyện quản trị rủi ro – đây là thời khắc ASEAN phải hình dung lại mô hình phát triển của mình, nơi khả năng chống chịu đi liền với tăng trưởng, và sự đoàn kết nội khối trở thành nền tảng cho chủ quyền quốc gia của từng thành viên.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Majo George, Trưởng khoa kinh tế Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM, nhận định Đông Nam Á đang đứng trước một thời khắc mang tính định hình, khi câu chuyện tăng trưởng quen thuộc trước đây dần nhường chỗ cho những thảo luận về khả năng chống chịu.
Thông điệp xuyên suốt chương trình nghị sự lần này rất rõ ràng: đoàn kết giữa các nước thành viên đã không còn là khát vọng, mà trở thành đòi hỏi sống còn cho vận hành kinh tế.
Theo TS George, tinh thần ấy được thể hiện qua ba ưu tiên lớn của hội nghị: tăng cường khả năng chống chịu trong các lĩnh vực năng lượng, an ninh lương thực và ứng phó thiên tai; củng cố sự ổn định của chuỗi cung ứng và đẩy mạnh liên kết kinh tế nội khối; bảo vệ người dân và giữ vững ổn định khu vực trong những giai đoạn khủng hoảng.
“Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 48 không đơn thuần là câu chuyện quản trị rủi ro, mà là câu chuyện hình dung lại mô hình phát triển của ASEAN cho tương lai. Những thách thức mà ASEAN đang đối mặt là có thật và cấp bách, nhưng chúng cũng mở ra dư địa cho sự chuyển hóa.
Đó là tương lai nơi khả năng chống chịu đi liền với tăng trưởng, sự đoàn kết củng cố chủ quyền quốc gia và khả năng tự cường không những không thay thế mà còn bổ trợ cho hội nhập toàn cầu” – TS George nhấn mạnh.
Nhìn từ cấu trúc lịch sử, một chuyên gia người Malaysia chuyên nghiên cứu về ASEAN nhắc lại rằng hiệp hội ra đời chính từ những cuộc cạnh tranh nước lớn – không khác mấy so với những gì đang diễn ra hiện nay.
Bản chất của ASEAN, vì thế, là sự liên kết của những nước nhỏ trước những điểm yếu chung. Khi đối mặt với các cú sốc lớn như khủng hoảng nhiên liệu toàn cầu, không nước nào đủ sức chịu đựng một mình. Khả năng chống chịu, theo ông, phải là bài toán tập thể – và đó chính là thứ mà ASEAN đã âm thầm xây dựng suốt nhiều thập niên qua.
Trong bức tranh chung đó, vai trò của Việt Nam nổi bật nhờ sự nhất quán, uy tín và tầm nhìn chiến lược rõ ràng. Kể từ khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam luôn đặt ASEAN ở vị trí trung tâm trong chính sách đối ngoại, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực. Đến nay, vai trò ấy đã trưởng thành theo chiều sâu mới: Việt Nam không chỉ tham gia vào chương trình nghị sự ASEAN, mà còn góp phần định hình chương trình nghị sự đó.
“Sức mạnh của ASEAN lâu nay luôn nằm ở sự đa dạng, nhưng thành công kế tiếp của khối sẽ phụ thuộc vào sự đoàn kết. Trong hành trình ấy, vai trò của Việt Nam vừa tinh tế vừa quan trọng. Đó không phải tiếng nói lớn nhất trong phòng họp, mà là tiếng nói luôn kêu gọi sự gắn kết, hợp tác và rõ ràng về chiến lược. Bởi trong một thế giới đầy bất định hôm nay, dẫn dắt không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với hiện diện nổi bật, mà đôi khi là chỉ ra phương hướng” – TS George nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, ông Keith Leong – nhà nghiên cứu trưởng tại KRA Group – nhìn nhận ASEAN vẫn là một khu vực ổn định và năng động về kinh tế, với hai “tài sản” chiến lược đáng kể nhất là eo biển Malacca và Biển Đông. Khu vực này ngày càng đóng vai trò thiết yếu với chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu và là một chiến trường trong cuộc đua khoáng sản thiết yếu. Bên cạnh đó vẫn còn nhiệm vụ bảo đảm tăng trưởng liên tục cho tổng cộng hơn 680 triệu người dân.
“Việt Nam trong vai trò “ông lớn” sản xuất mới nổi của khu vực đang tìm cách vươn lên trong chuỗi giá trị và là hiện thân cho cả các thách thức lẫn tiềm năng dồi dào của khu vực. ASEAN có triển vọng trở thành một “cường quốc” tầm trung giữ vai trò quyết định, song điều này đòi hỏi sự đoàn kết và quản lý liên tục những lợi ích đôi khi mâu thuẫn giữa các nước thành viên” – ông Leong đánh giá.
Vị chuyên gia người Malaysia chuyên nghiên cứu về ASEAN nhận xét: “Không có nơi nào mà cấu trúc khu vực lại quan trọng như đối với Việt Nam. Xét về tốc độ tăng trưởng và quy mô tham vọng, Việt Nam có thể được xem là điểm sáng kinh tế nổi bật nhất khu vực.
Nhưng cửa sổ dân số vàng đang dần khép lại đồng nghĩa với việc các điều kiện duy trì tăng trưởng nhanh sẽ không tồn tại mãi. Vào lúc này, Việt Nam phải hành động khẩn trương, tận dụng mọi đòn bẩy sẵn có để giữ vững đà tăng trưởng.
Đó cũng chính là khi ASEAN trở nên giá trị nhất – mang lại sự ổn định và niềm tin từ bên ngoài, cho phép một nền kinh tế năng động như Việt Nam duy trì sự tập trung vào mục tiêu tăng trưởng”.
Chia sẻ với báo chí, Thứ trưởng Ngoại giao Đặng Hoàng Giang cho biết chuyến công tác của Thủ tướng Lê Minh Hưng tại Cebu mang ý nghĩa đặc biệt: đây là chuyến công tác nước ngoài đầu tiên và là lần đầu tiên Thủ tướng dự Hội nghị Cấp cao ASEAN trên cương vị người đứng đầu Chính phủ.
Tại hội nghị, Việt Nam tập trung vào ba ưu tiên:
Thứ nhất, phối hợp chặt chẽ với các nước ASEAN thúc đẩy triển khai hiệu quả các ưu tiên của năm Chủ tịch ASEAN 2026 và Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045, hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN tự cường, năng động, sáng tạo và lấy người dân làm trung tâm.
Thứ hai, cùng ASEAN thúc đẩy duy trì môi trường hòa bình, an ninh và ổn định; đề cao thượng tôn pháp luật quốc tế và chủ nghĩa đa phương; tăng cường liên kết nội khối, đồng thời mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, qua đó củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực.
Thứ ba, tham gia tích cực vào các nội dung ưu tiên của hội nghị, đặc biệt là các vấn đề cấp bách liên quan đến an ninh năng lượng, an ninh lương thực và hỗ trợ công dân. Việt Nam đã chủ động nghiên cứu, chuẩn bị các đề xuất, sáng kiến cụ thể, thiết thực nhằm nâng cao năng lực ứng phó chung của ASEAN trước các biến động và thách thức ngày càng phức tạp từ bên ngoài.
Dọc chiều dài lịch sử, phương Nam không chỉ là không gian địa lý mà còn là biểu tượng của ý chí mở cõi, của tinh thần vượt khó và hội nhập. Nói đến phương Nam là nói đến một phần căn cốt của dân tộc, nơi hội tụ và lan tỏa những giá trị làm nên bản sắc Việt Nam. Từ sau công cuộc Đổi mới, phương Nam nhanh chóng khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế. Các trung tâm lớn như TP.HCM, vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL đóng góp tỷ trọng lớn trong GDP quốc gia.
Đáng chú ý, trong bối cảnh đất nước tái định vị không gian phát triển, việc tổ chức lại các đơn vị hành chính, quy hoạch vùng và liên kết vùng đã mở ra dư địa mới cho phương Nam, tạo nền tảng cho một không gian phát triển liên thông, đồng bộ. Song hành với đó là làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn. Hàng loạt dự án trọng điểm như cao tốc Bắc - Nam phía đông đoạn qua miền Trung và Nam bộ, sân bay quốc tế Long Thành, các tuyến vành đai TP.HCM, hệ thống cảng biển nước sâu… đang từng bước hoàn thiện.
Điều làm nên sức sống bền bỉ và khác biệt của phương Nam không chỉ nằm ở tài nguyên hay vị trí địa lý, mà chính là con người. Người phương Nam - cũng như con dân nước Việt, qua bao thế hệ, luôn mang trong mình tinh thần sáng tạo, nghĩa tình, phóng khoáng và hào sảng.
Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của chuyển đổi số, kinh tế xanh và phát triển bền vững, phương Nam đang đứng trước những cơ hội lớn, đồng thời cũng đối mặt không ít thách thức. Nhưng với nền tảng đã được tích lũy suốt hơn nửa thế kỷ, cùng với quyết tâm chính trị cao và sự năng động vốn có, phương Nam hoàn toàn có thể vượt qua khó khăn để bứt phá.
Xuất bản ấn phẩm đặc biệt đúng vào dịp kỷ niệm 51 năm đất nước thống nhất và ngày Quốc tế Lao động 1.5, Thanh Niên mong muốn cho bạn đọc thấy một phương Nam đang vươn mình mạnh mẽ, cùng góp phần định hình tương lai của đất nước. Đó không chỉ là sự phát triển về kinh tế, mà còn là hành trình khẳng định vị thế, bản lĩnh và khát vọng của một vùng đất luôn đi đầu trong đổi mới, sáng tạo.
Ngày 9.5, Khoa Răng hàm mặt Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch phối hợp Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương TP.HCM tổ chức hội nghị khoa học công nghệ lần thứ 19 năm 2026, với chủ đề "Cập nhật quan điểm phối hợp liên chuyên khoa trong điều trị răng hàm mặt".
Hội nghị có sự tham gia của 500 nhà chuyên môn trong nước cùng các báo cáo viên đến từ Úc, nhằm cập nhật các xu hướng điều trị hiện đại trong lĩnh vực răng hàm mặt. Nội dung chương trình tập trung vào điều trị đa chuyên ngành, bao gồm phẫu thuật hàm mặt, chỉnh hình răng mặt, nội nha, nha chu, phục hình và điều trị khe hở môi - vòm miệng…
Trước đó, ngày 8.5, là tiền hội nghị chuyên đề về chỉnh hình răng hàm mặt và hội thảo "Định hướng đào tạo bác sĩ nội trú răng hàm mặt".
Tại đây, phó giáo sư - tiến sĩ Nguyễn Đăng Thoại, Phó hiệu trưởng phụ trách điều hành Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho biết trong bối cảnh hiện nay, hệ thống đào tạo y khoa ở Việt Nam đặt ra yêu cầu rõ ràng: đào tạo phải gắn với năng lực thực hành, bảo đảm tính liên thông và đáp ứng nhu cầu của hệ thống y tế.
Trước yêu cầu đó, nhà trường xác định nâng cao chất lượng đào tạo bác sĩ nội trú là nhiệm vụ trọng tâm. Trường đang rà soát, cập nhật chương trình; tăng cường gắn kết với cơ sở thực hành; tiếp cận các mô hình đào tạo hiện đại, phù hợp định hướng của Bộ Y tế. Mục tiêu không chỉ là đào tạo đủ số lượng, mà là đào tạo bác sĩ có năng lực hành nghề vững, thích ứng môi trường làm việc và có trách nhiệm với người bệnh, cộng đồng.
Trong tiến trình đó, Khoa Răng hàm mặt của nhà trường đã phối hợp chặt chẽ với Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương TP.HCM và Bệnh viện Răng hàm mặt TP.HCM để nâng cao chất lượng đào tạo thực hành và chuẩn hóa năng lực lâm sàng. Sự gắn kết càng hiệu quả khi lãnh đạo hai bệnh viện trực tiếp tham gia phát triển khoa, tạo sự liên thông giữa nhà trường và bệnh viện.
Theo tiến sĩ - bác sĩ Lê Trung Chánh, Giám đốc Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương TP.HCM, trong bối cảnh hiện nay, đào tạo sau đại học, đặc biệt là đào tạo bác sĩ nội trú, đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao. Người bác sĩ nội trú không chỉ cần giỏi kỹ thuật lâm sàng, mà còn phải có tư duy hệ thống, khả năng xử trí các ca bệnh phức tạp và định hướng phát triển chuyên môn lâu dài.
Theo ông Chánh, với Khoa Răng hàm mặt Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, việc xây dựng chương trình đào tạo nội trú phải gắn chặt với định hướng đào tạo chuyên khoa sâu. Trong thời gian tới, chương trình sẽ từng bước tiếp cận theo hệ thống các lĩnh vực chuyên sâu về răng hàm mặt, hướng đến một cấu trúc đào tạo toàn diện, hiện đại.
Trong cấu trúc đó, đào tạo nội trú giữ vai trò là giai đoạn trung tâm - nơi người học chuyển từ năng lực hành nghề cơ bản sang năng lực chuyên sâu, đồng thời hình thành tư duy lâm sàng nâng cao, khả năng quản lý ca bệnh phức tạp và định hướng phát triển nghề nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, việc xây dựng một chương trình đào tạo nội trú chất lượng là một thách thức lớn, ngay cả với những đơn vị có bề dày đào tạo. Điều này đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc, sự phối hợp chặt chẽ và đặc biệt là sự chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ sở đào tạo.
Trước đó, ngày 7.5, Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương TP.HCM tiếp đoàn chuyên gia chăm sóc sức khỏe răng miệng Úc - Việt Nam đến thăm và làm việc.
Hai bên đã trao đổi nhiều nội dung chuyên môn: chỉnh hình răng mặt, răng trẻ em, nha chu, chữa răng nội nha, phẫu thuật chỉnh hình và điều trị toàn diện khe hở môi - vòm miệng.
Các chuyên gia cũng phối hợp đội ngũ bác sĩ của bệnh viện trong hội chẩn, lập kế hoạch điều trị và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn đối với các ca bệnh phức tạp.
Sự phối hợp chặt chẽ trong đào tạo, trao đổi chuyên môn và hội chẩn, điều trị giữa bệnh viện và đoàn chuyên gia tiếp tục khẳng định mối quan hệ hợp tác chuyên môn trong thời gian qua. Qua đó đã mở rộng cơ hội kết nối học thuật và cập nhật các xu hướng, kỹ thuật điều trị tiên tiến của thế giới trong lĩnh vực răng hàm mặt, hướng đến nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe răng miệng và mang lại thêm nhiều cơ hội điều trị hiệu quả cho người bệnh.
Ngày 4-5, theo thông tin từ Bộ Tài chính, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s đã nâng triển vọng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam từ "Ổn định" lên "Tích cực", đồng thời khẳng định xếp hạng ở mức Ba2.
Động thái này cho thấy niềm tin gia tăng vào khả năng cải thiện chất lượng tín nhiệm của Việt Nam trong bối cảnh nền tảng kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định và các cải cách thể chế đang phát huy hiệu quả.
Theo Moody’s, việc nâng triển vọng phản ánh niềm tin vào khả năng cải thiện hồ sơ tín nhiệm của Việt Nam trong trung hạn.
Tổ chức này đánh giá chất lượng thể chế và quản trị đang được cải thiện rõ rệt nhờ các cải cách hành chính, pháp luật và khu vực công triển khai từ cuối năm 2024.
Quá trình tái cấu trúc thể chế, tinh gọn bộ máy, tăng phối hợp giữa các cơ quan được kỳ vọng giúp nâng hiệu quả phê duyệt dự án, cải thiện môi trường quản lý và giảm rủi ro. Đây là yếu tố quan trọng góp phần củng cố ổn định kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục được tăng cường thông qua đẩy mạnh số hóa, đầu tư hạ tầng, nâng chất lượng nguồn nhân lực và phát triển thị trường vốn.
Moody’s cũng cho rằng rủi ro từ các biện pháp bảo hộ thương mại của Hoa Kỳ đã giảm so với dự báo trước đó, trong khi tăng trưởng kinh tế và dòng vốn FDI của Việt Nam vẫn duy trì tích cực, củng cố vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việc giữ nguyên mức xếp hạng Ba2 cho thấy các nền tảng tín nhiệm cốt lõi của Việt Nam vẫn vững chắc.
Động lực tăng trưởng mạnh, cơ cấu xuất khẩu đa dạng, nhu cầu nội địa phục hồi và dòng vốn đầu tư nước ngoài ổn định tiếp tục hỗ trợ kinh tế.
Ở góc độ tài khóa, Moody’s đánh giá đây vẫn là điểm mạnh khi nợ Chính phủ duy trì ở mức thấp, khả năng trả nợ tốt và mức độ phụ thuộc vào vốn nước ngoài giảm, qua đó hạn chế rủi ro ngoại tệ và tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Tổ chức này cũng nhận định Việt Nam có khả năng thích ứng tốt trước biến động giá năng lượng, chi phí vận chuyển và áp lực lạm phát nhờ nền tảng tăng trưởng ổn định và bộ đệm kinh tế đối ngoại vững.
Tuy nhiên Moody’s lưu ý một số rủi ro còn tồn tại, gồm hệ thống ngân hàng, thị trường bất động sản và những điểm nghẽn thể chế, có thể ảnh hưởng đến khả năng nâng hạng trong thời gian tới.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, việc được nâng triển vọng lên "Tích cực" cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với nỗ lực điều hành và cải cách của Việt Nam.
Theo đánh giá, Việt Nam hiện là quốc gia duy nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương được Moody’s xếp triển vọng ở mức này.
Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với Moody’s và các tổ chức quốc tế để cập nhật thông tin, phục vụ quá trình đánh giá tín nhiệm quốc gia trong thời gian tới.