Mọi việc bắt đầu từ cách đây khoảng một năm. Tôi nhận được thông báo từ FIFA là đợt mở bán vé World Cup đầu tiên sắp bắt đầu. Như mọi người hâm mộ khác, tôi chăm chỉ đi nộp đơn để được bốc thăm. Tất nhiên là tôi không được chọn.
Sau đó đợt thứ hai lại mở. Lần này tôi huy động toàn bộ danh tính của đại gia đình, nộp gần chục cái đơn, nhưng cũng không được gì.
Tôi là thành viên chính thức của hội ủng hộ liên đoàn bóng đá Mỹ, hằng năm đều có đóng phí và vẫn luôn được ưu tiên khi mua vé của mấy trận bóng đá có tuyển Mỹ. Liên đoàn cũng mở một lượt nộp đơn bốc thăm cho các thành viên, tôi cũng nộp và tôi vẫn rớt.
Trong khi đó, các thông tin về chuyện vé xem World Cup bị ế lại bắt đầu tràn ra trên các tờ báo thể thao hàng đầu ở Mỹ. The Athletic báo cáo rằng trận ra quân của Mỹ với Paraguay, sẽ diễn ra trên sân Sofi Stadium ở Los Angeles, bán hoài không hết vé. Chắc là chuyện đó có thật.
Mặc dù tôi sống ở miền nam California và đã xác định sẽ đi xem ở Sofi nhưng tôi tuyệt nhiên không nộp đơn xin mua vé trận này. Nguyên nhân là vì nó mắc, mắc vô lý, giống như một cái tát vào mặt của những người hâm mộ bóng đá lâu năm.
Cụ thể, giá hạng nhất là 2.700 USD hạng nhì là 1.920 USD, và hạng ba là 1.108 USD. Với cách phân chia thứ hạng của FIFA thì chỗ nào có thể nhìn thấy được cả sân cũng là hạng nhất, hạng nhì thì chắc bạn nhìn chéo góc qua được, còn hạng ba thì đố bạn nhìn thấy được nửa sân.
Để so sánh sự vô lý của mức giá này, tôi xin chia sẻ giá vé trận Mỹ và Hà Lan năm 2022, đây là trận vòng 1/16. Vé thấp nhất trận này chỉ có 130 USD, do các cổ động viên Mỹ đã tới sân báo cáo.
Ai có xem bóng đá thì cũng biết là trận Mỹ với Paraguay có chất lượng chuyên môn e là còn thấp hơn một trận giữa hai đội nửa cuối ở Serie A. Bảo một người hâm mộ bóng đá lâu năm bỏ ra gần ba nghìn đô để xem hai đội chiếu dưới đá bóng thì ai mà chịu cho được.
Các thông tin cho thấy rằng trận Mỹ với Paraguay chỉ mới bán được chừng 50.000 vé, trong khi sân có 70.000 chỗ ngồi. Trên các sàn bán vé sang tay như Ticketmaster và Stubhub, vé của trận này bắt đầu được rao bán với giá thấp hơn giá gốc của FIFA.
Đại khái là có những người ở các nước khác hay ở nơi ngoài Los Angeles nộp đơn mua vé trận này với ý đồ bán lại, giờ thì tổ trác.
FIFA cũng bắt đầu trở mặt với những người diễn trò phe vé. Đợt bán vé “Last minute sale” đã được mở, và tôi đã lên xem thử. Giá vé vẫn như cũ, nhưng FIFA chỉ mở một khu vực nhất định trên sân rồi đóng lại, theo kiểu “mua đi, không lại hết”. Mục tiêu là cố gắng vớt vát giá cao cho đến phút cuối cùng.
Các vé bán lại của nhiều trận càng lúc càng nhiều, tới cả trận Thụy Sĩ gặp Bosnia hay Bỉ gặp Iran cũng bắt đầu có người bán lỗ. Đại khái là người phe vé thì nhiều nhưng những người dám bỏ tiền ra mua vé để đi xem thì ít.
Ngay cả các khách sạn cũng báo cáo rằng tình hình đặt phòng khá ế ẩm. Wall Street Journal cũng đăng bài về việc các chủ nhà đăng phòng lên AirBnB cho đợt World Cup cũng ế dài dài. Tất cả đều nói lên rằng, người dân trên thế giới chẳng mấy ai đủ giàu để bị bóc lột theo kiểu Mỹ.
Đại khái thì tính toán của FIFA là như thế này. Sân có 70.000 chỗ. Nếu bạn bán vé trung bình 1.000 USD mỗi vé mà bán được 40000 vé thì sẽ thu về 40 triệu USD. Còn bán 500 USD mỗi vé mà bán được 70.000 vé thì thu về được có 35 triệu USD. FIFA chỉ cần bán 40.000 vé với giá cắt cổ, còn lại thì dần dần tới lúc gần sẽ xả thêm hàng, kết cục thì lời vẫn là lời. Đây là cách tính toán “vắt kiệt túi” của khách hàng, một chiêu trò trong kinh doanh đậm chất Mỹ.
Mặt khác, FIFA lại diễn trò “tạo sự khan hiếm”, chỉ bán một số vé nhất định cho các cổ động viên địa phương ở mỗi trận, khiến cho những người như tôi, chỉ nộp đơn xin mua các vé ở địa phương mình sống, không mua được vé. Mục tiêu là ép buộc người mua đi mua vé với giá chuẩn của FIFA và dụ dỗ các phe vé xông vào. Người lỗ sau cùng là các bác phe vé.
Tới lúc này thì tôi đã bắt đầu nhận ra lợi thế sân nhà của bản thân. Tôi chẳng cần đặt khách sạn đặt vé máy bay gì cả. Khả năng lớn là tôi sẽ “ngồi đồng” xem tình hình phe vé mấy trận đầu thế nào, liệu FIFA có nhận ra sự tham lam trống rỗng của họ không, liệu các bác phe vé có cuống lên không.
Hy vọng là tôi sẽ săn được mấy cái “vé ngộp” để đi xem World Cup cho đỡ tức.
Bố tôi là con trai trong gia đình có bảy anh em, sáu chị em gái và một mình bố là con trai. Từ nhỏ, tôi đã nghe ông bà nội nói với bố mẹ rằng: "Sau này nhà đất để cho con, nên giờ phải lo cho các chị em".
Các cô đi lấy chồng, bố mẹ tôi phải chuẩn bị của hồi môn. Hồi tôi học lớp 2, mẹ mới dành dụm mua được chiếc xe đạp cho tôi đi học. Tôi chạy được vài hôm thì chiếc xe được mang cho cô út làm của hồi môn khi lấy chồng.
Sau này các cô cần tiền mua nhà đất, bố mẹ tôi tiếp tục cho mượn. Gia đình tôi chăm sóc ông bà, sống cạnh ông bà, gánh vác việc lớn nhỏ trong nhà như một điều mặc nhiên.
Rồi bố mẹ tôi mua thêm 500 m2 đất sát bên nhà ông bà nội năm 1998. Sau đó đi làm ăn xa, phần đất này nhập chung vào sổ của ông bà cho tiện quản lý. Khi đó chẳng ai nghĩ phải giấy tờ rõ ràng với người thân trong gia đình. Đó là sai lầm lớn nhất.
Năm 2015, ông nội mất, có để lại di chúc với người làm chứng. Nhưng việc sang tên không thực hiện được vì bà nội đã mất năng lực nhận thức. Từ đó đến nay, gia đình tôi vẫn nuôi bà, lo toàn bộ chi phí, nhưng muốn làm bất cứ thủ tục gì cũng phải đi xin chữ ký từng người.
Chỉ cần một người sai giấy tờ hoặc không hợp tác là mọi thứ đình trệ. Gần đây, người cô thứ 5 của tôi mất đột ngột, để lại khối tài sản lớn mà không có di chúc. Theo luật, bà nội tôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng hai người con của cô.
Từ đây, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Một người anh họ (con của cô Hai) làm đơn kiện vì cho rằng gia đình anh ta có quyền hưởng một phần di sản mà bà ngoại (của anh ấy, tức bà nội tôi) nhận được.
Hành động này giống như một tín hiệu cho cả dòng họ: Hóa ra chỉ cần nghiên cứu luật thừa kế cho kỹ, là có thể nhận tiền rất lớn, bất kể trước đó có chăm sóc, giúp đỡ hay gắn bó gì hay không.
Những người từng ký giấy từ chối tài sản bắt đầu thay đổi ý định. Người ta quay sang yêu cầu chia lại mảnh đất hơn 1.000 m2 của ông bà nội, dù một nửa trong đó là đất bố mẹ tôi bỏ tiền mua từ nhiều năm trước.Tất cả những chuyện "ai nuôi ông bà", "ai hy sinh nhiều hơn", "ai từng được hỗ trợ khi ra riêng" bỗng trở nên vô nghĩa.
Tôi băn khoăn rằng vấn đề thừa kế, theo quy định hiện nay gần như không phản ánh được công sức và trách nhiệm thực tế trong gia đình Việt Nam.
Người chăm sóc cha mẹ nhiều nhất chưa chắc được bảo vệ nhiều hơn. Người từng nhận hỗ trợ lớn trước đây cũng không bị tính đến khi chia di sản. Mọi thứ cuối cùng chỉ còn phụ thuộc vào tên trên giấy tờ và thứ tự hàng thừa kế.
Nghịch lý là để tránh tranh chấp, các gia đình giờ buộc phải sống với nhau như những đối tác pháp lý:
- Cho mượn tiền phải ký giấy.
- Mua đất phải tách riêng.
- Chăm sóc cha mẹ cũng nên ghi nhận chi phí, và mọi tài sản đều cần rạch ròi từ đầu.
Nếu không, đến khi đất đai tăng giá lên vài chục tỷ đồng, tình thân rất khó chống lại lòng tham và cảm giác "mình bị thiệt".
Có lẽ, phải chọn một trong hai điều:
- Hoặc luật thừa kế cần thay đổi để ghi nhận rõ hơn yếu tố đóng góp và trách nhiệm gia đình.
- Hoặc anh em ruột phải chấp nhận sống lạnh lùng, sòng phẳng với nhau ngay từ đầu.
Bởi trong thời buổi này, chỉ cần một chữ "tin nhau" thôi là không còn đủ nữa.
Tôi có cô chú ngoài 50 tuổi, mưu sinh bằng một cửa hàng tạp hóa nhỏ nằm trên vỉa hè một con phố trung tâm Hà Nội. Cửa hàng chật hẹp nên bao năm nay, phần lớn hàng hóa đều được bày tràn ra khoảng vỉa hè phía trước cửa. Khách quen chỉ cần tấp xe sát lề đường, gọi với vào là mua được đồ. Nhờ tiện lợi như thế mà cửa hàng lúc nào cũng đông khách, đủ nuôi sống cả gia đình.
Nhưng từ khi Hà Nội đồng loạt siết chặt trật tự đô thị, xử lý tình trạng lấn chiếm vỉa hè, cuộc sống của cô chú bắt đầu đảo lộn. Hàng hóa buộc phải dọn hết vào trong nhà. Từ ngoài đường nhìn vào, cửa hàng trở nên mờ nhạt và khó nhận biết hơn trước. Người đi đường ít ghé lại, khách cũng giảm dần. Tháng vừa rồi, doanh thu của cô chú giảm gần một nửa.
Mỗi lần gọi điện, cô chú đều than thở "mất ăn, mất ngủ" vì lo. Hai người không có lương hưu, cả nhà chỉ trông chờ vào quầy tạp hóa nhỏ ấy. Ở tuổi ngoài 50, việc chuyển nghề hay tìm sinh kế mới đâu còn dễ dàng. Nghe cô chú kể, tôi thực sự thương và hiểu cho nỗi vất vả của những người phải bám vào từng mét vỉa hè để kiếm sống qua ngày.
Nhưng nếu nhìn rộng hơn một chút, tôi cũng hiểu vì sao thành phố phải làm quyết liệt? Vỉa hè ở các đô thị Việt Nam vốn đã rất nhỏ. Nếu người dân tiếp tục bày hàng hóa, dựng mái che, treo bảng hiệu, đỗ xe kín lối thì người đi bộ sẽ đi ở đâu? Bao năm qua, chuyện lấn chiếm vỉa hè dường như đã trở thành thói quen. Một người lấn ra thì nhiều người khác cũng làm theo. Người này dựng mái bạt, người kia kê thêm quầy hàng. Dần dần, nhiều nơi vỉa hè biến mất hoàn toàn, thậm chí còn lấn xuống lòng đường gây cản trở giao thông mà không ít người xem đó là điều bình thường.
Điều đáng nói là tâm lý "ai cũng làm nên mình làm" khiến việc vi phạm kéo dài hàng chục năm. Nếu quản lý nửa vời, cho thuê hay thu phí sử dụng tạm thời mà thiếu kiểm soát chặt chẽ thì tình trạng lấn chiếm sẽ càng dễ biến tướng. Hôm nay cho bày ra một mét, ngày mai sẽ lấn thêm hai mét. Cuối cùng, lợi ích cá nhân lại đè lên lợi ích cộng đồng.
>> Xe hơi bị viết xước 'trả thù' vì đỗ trước quán trà đá vỉa hè
Tôi từng sang Bangkok (Thái Lan) và rất ấn tượng khi thấy vỉa hè ở đó gần như dành trọn cho người đi bộ. Hàng quán được sắp xếp vào khu vực riêng, có quy định rõ ràng. Người kinh doanh hiểu giới hạn của mình, còn người dân có không gian để đi bộ an toàn. Không cần nói đến những nước phát triển xa xôi, ngay một quốc gia Đông Nam Á gần Việt Nam cũng đã làm được điều mà chúng ta vẫn còn loay hoay.
Từ ngày nhiều tuyến phố ở Hà Nội thông thoáng hơn, tôi nhận ra lợi ích rất rõ ràng. Cháu tôi có thể đi bộ đến trường trên vỉa hè thay vì phải né xe máy dưới lòng đường. Ba mẹ tôi buổi tối có chỗ tản bộ an toàn hơn. Những điều tưởng nhỏ ấy thực ra lại là nhu cầu rất cơ bản của một đô thị văn minh.
Tôi biết sẽ có nhiều người như cô chú tôi chịu ảnh hưởng trong giai đoạn đầu. Và thành phố cũng cần tính đến giải pháp hỗ trợ sinh kế, quy hoạch khu buôn bán phù hợp để người lao động nhỏ lẻ không bị dồn vào đường cùng. Nhưng nếu chỉ vì khó khăn trước mắt mà tiếp tục chấp nhận cảnh đường phố nhếch nhác, lộn xộn, người đi bộ bị đẩy xuống lòng đường thì vòng luẩn quẩn ấy sẽ còn kéo dài mãi.
Vỉa hè sinh ra để phục vụ cộng đồng, không phải để trở thành tài sản riêng của bất kỳ ai. Một nền kinh tế không thể dựa mãi vào việc tận dụng sự lộn xộn và dễ dãi trong quản lý đô thị. Tôi thương cô chú mình, nhưng tôi cũng muốn con cháu sau này được sống trong những thành phố có trật tự, an toàn và văn minh hơn. Muốn thay đổi, chắc chắn sẽ có những xáo trộn và hy sinh nhất định. Nhưng nếu không bắt đầu quyết liệt từ hôm nay, chúng ta sẽ còn để sự nhếch nhác ấy kéo dài đến bao giờ?
Tôi hy vọng Hà Nội rồi đến TP HCM sẽ đủ kiên trì để làm được điều mà người dân đã mong đợi suốt nhiều năm qua: trả lại vỉa hè đúng nghĩa cho người đi bộ.
Ngày nay, không khó để bắt gặp cảnh một hành khách trên phương tiện công cộng thản nhiên bật loa ngoài để "cày" TikTok với các bản nhạc EDM giật cục liên tục, hay một người khách tại quán cà phê vô tư mở video Youtube với âm lượng cực đại, hoặc một người nhà bệnh nhân bật loa ngoài nói chuyện oang oang trong hành lang bệnh viện.
Những người ấy, dù vô tình hay hữu ý, đều đang biến không gian chung thành phòng khách của riêng mình, bất chấp sự chịu đựng của những người xung quanh. Sau tiếng ồn từ karaoke và loa kéo, thì tiếng ồn phát ra từ những chiếc điện thoại cá nhân đã và đang trở thành một vấn nạn thực sự.
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ, nơi chiếc điện thoại là vật bất ly thân. Nhưng dường như, cùng với sự tiện lợi của công nghệ, khái niệm về "không gian chung’", về "việc tránh làm phiền người khác" và về "phép lịch sự" lại có vẻ đang dần trở nên mờ nhạt.
Nhiều người có thể biện minh rằng: "Tôi có quyền dùng điện thoại". Đúng, không ai có thể tước đi quyền sử dụng thiết bị của bạn. Nhưng, quyền tự do cá nhân chỉ thực sự văn minh khi nó không xâm phạm đến không gian riêng tư, sự nghỉ ngơi và nhu cầu tĩnh lặng của người khác.
Khi bạn bật loa ngoài ở nơi công cộng, bạn không chỉ đang nghe một mình, mà bạn đang ép cả những người xung quanh - những người vốn không có nhu cầu nghe thứ bạn đang nghe - phải "thưởng thức" cùng bạn. Đó là sự chịu đựng bất đắc dĩ khi không gian vốn của chung lại bị chiếm dụng bởi sự ồn ào của một số ít người.
Đã có nhiều lần tôi tự hỏi: Tại sao một số người lại khó chấp nhận việc đeo tai nghe - một thiết bị nhỏ bé nhưng chứa đựng sự tử tế tối thiểu? Phải chăng sự tiện lợi cá nhân đã lấn át đi ý thức cộng đồng?
Để thay đổi thực trạng này, tôi cho rằng cần bắt đầu từ những thay đổi nhỏ nhưng quyết liệt:
Xây dựng "văn hóa tai nghe": Đây cần trở thành một quy tắc ứng xử cơ bản, giống như việc không chen lấn hay không xả rác. Mỗi người hãy tự giác sử dụng tai nghe khi xem video, nghe nhạc hay gọi điện ở nơi công cộng. Đó là biểu hiện của cư xử văn minh.
Sự chung tay của các cơ sở dịch vụ: Các quán cà phê, đơn vị vận tải công cộng hay các đơn vị cung cấp phòng chờ nên mạnh dạn đặt những tấm biển nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng rõ ràng: "Vui lòng sử dụng tai nghe", "Vui lòng giữ yên lặng" hoặc in rõ các lời nhắc nhở này trên vé hoặc menu.
Ngoài ra, có thể in poster hoặc chiếu các đoạn clip nhắc nhở về việc không làm ồn trên các màn hình công cộng như cách các hãng hàng không nhắc nhở về quy tắc an toàn đầu các chuyến bay.
Khi người dùng mua dịch vụ, họ đã chấp nhận quy tắc này. Nhân viên phục vụ khi nhắc nhở không còn là "người đi dạy đời", mà chỉ đơn thuần là "người thực thi nội quy". Điều này có thể bảo vệ nhân viên khỏi sự phản kháng của khách hàng.
Dù sao, đừng ngại nhắc nhở khách hàng ồn ào, vì chính những người khách văn minh khác sẽ ủng hộ bạn.
- Chia vùng: Tại các không gian công cộng nhất định, hãy chia thành các khu vực khác nhau: vùng Yên tĩnh (Quiet Zone) là vùng tập trung, yêu cầu tuyệt đối tai nghe và vùng Giao lưu (Social Zone) là vùng có thể thoải mái trò chuyện.
Khi một người chọn ngồi vào khu vực Yên tĩnh, họ đã tự ký một "hợp đồng ngầm" là họ sẽ tôn trọng không gian chung. Khi đó, nếu họ bật loa ngoài hoặc gây ồn ào, những người xung quanh có quyền nhắc nhở cực kỳ hợp lý dựa trên quy định của khu vực đó, không còn là sự can thiệp cá nhân có thể dẫn tới gây gổ nữa.
- Sự dũng cảm lên tiếng: Nếu chúng ta cứ im lặng chịu đựng, hành vi này sẽ trở thành bình thường mới. Một ánh mắt ngạc nhiên hoặc một lời nhắc nhở lịch sự: "Bạn có thể vặn nhỏ âm lượng được không?", đôi khi đã đủ để người kia giật mình nhận ra hành vi của họ đang gây phiền toái.