Báo cáo mới nhất của Cushman & Wakefield Việt Nam cho thấy thị trường nhà ở Hà Nội đang ngày càng được dẫn dắt bởi xu hướng mở rộng ra vùng ven, với các khu dân cư mới, các cực đô thị quy mô lớn và những hành lang hạ tầng được kỳ vọng sẽ đóng vai trò lớn hơn trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Thủ đô.
Báo cáo đánh giá, thị trường đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, trong đó tăng trưởng tương lai được kỳ vọng sẽ mở rộng xa hơn khỏi lõi đô thị truyền thống. Nếu thập kỷ vừa qua được đánh dấu bởi đà tăng giá mạnh ở cả phân khúc căn hộ và nhà liền thổ, thì chặng tiếp theo của thị trường nhiều khả năng sẽ ngày càng được định hình bởi xu hướng giãn nở ra khu vực ngoại ô, sự hình thành của các hành lang phát triển mới và sự xuất hiện của những cực đô thị quy mô lớn trên phạm vi Hà Nội mở rộng.
Theo Cushman & Wakefield Việt Nam, trong 10 năm qua (từ 2015 đến nay), thị trường căn hộ Hà Nội đã ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể, với tổng nguồn cung tăng 2,9 lần và giá sơ cấp trung bình tăng 288%. Đà tăng bền bỉ của giá sơ cấp trong giai đoạn này một phần đến từ sự thiếu hụt nguồn cung nhà ở có mức giá phải chăng.
Không chỉ thay đổi về giá và nguồn cung, thị trường căn hộ Hà Nội còn trải qua một sự dịch chuyển mang tính cấu trúc rộng hơn. Các dự án nhà ở đã dần mở rộng từ mô hình khu đô thị ban đầu sang một phổ vị trí đa dạng hơn, bao gồm khu vực ngoại ô, phía tây, các khu vực thứ cấp và những vị trí gắn với trung tâm. Điều này cho thấy thị trường đang ngày càng vận động theo hướng đa cực.
Xu hướng đó được dự báo sẽ còn rõ nét hơn trong thập kỷ tới. Nguồn cung căn hộ tại khu vực Hà Nội mở rộng được dự báo tăng từ tối thiểu 440.000 căn thuộc 710 dự án vào năm 2025 lên ít nhất 760.000 căn thuộc 1.150 dự án vào năm 2035. Phần lớn nguồn cung mới này được kỳ vọng sẽ xuất hiện tại các khu dân cư mới nằm cách trung tâm thành phố hơn 30km, trong khi nhiều cực đô thị quy mô lớn cũng sẽ gia nhập thị trường và góp phần hình thành các đô thị vệ tinh trong tương lai. Báo cáo xác định các tuyến đường vành đai, cầu mới và việc triển khai Luật Đất đai 2024 từ năm 2026 là những động lực quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo này.
Thị trường tăng ở nhiều phân khúc
Thị trường bất động sản Hà Nội quý I/2026 ghi nhận xu hướng tái cấu trúc rõ nét ở hầu hết phân khúc, với dòng vốn và nguồn cung dịch chuyển ra ngoài khu vực trung tâm. Đáng chú ý, nguồn cung nhà ở “dạt” ra vùng ven, phụ thuộc hạ tầng.
Các chuyên gia của Công ty Savills Việt Nam phân tích, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô ổn định, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) duy trì tích cực và quy hoạch Thủ đô theo hướng dài hạn, thị trường đang chuyển sang mô hình đa cực, phân tán, chú trọng chất lượng và trải nghiệm. Các khu vực ngoài lõi trung tâm ngày càng đóng vai trò quan trọng, nhờ hạ tầng cải thiện và nhu cầu thực gia tăng.
Quý I, thị trường căn hộ ghi nhận tâm lý thận trọng hơn, song nguồn cung mới vẫn là động lực chính của giao dịch và có tỷ lệ hấp thụ cao hơn trung bình. Phần lớn dự án mở bán nằm ngoài Vành đai 3, cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt ra khu vực vùng ven – nơi giá còn “dễ tiếp cận” hơn và được hỗ trợ bởi hạ tầng giao thông.
Savills dự báo, trong 9 tháng cuối của năm 2026, căn hộ hạng A và B sẽ chiếm ưu thế với khoảng 16.700 căn. Các địa phương lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh được kỳ vọng chia sẻ nhu cầu với Hà Nội nhờ hạ tầng phát triển và nguồn cung mới.
Thị trường nhà ở đang dịch chuyển mang tính cấu trúc từ nội đô ra ngoại thành, do hạn chế quỹ đất trung tâm và tác động của hạ tầng. Về dài hạn, tăng trưởng sẽ gắn với mô hình đô thị đa cực, phát triển theo các hành lang phía Bắc, Đông và Tây – bà Bà Đỗ Thu Hằng, Giám đốc cấp cao, Bộ phận Nghiên cứu và tư vấn Savills Hà Nội dự báo.
Phân khúc nhà liền thổ có diễn biến nguồn cung khác biệt, nhưng vẫn ghi nhận quỹ đạo tăng giá đáng chú ý. Trong kỳ đánh giá, tổng nguồn cung tăng 1,4 lần, trong khi giá sơ cấp trung bình tăng 257%. Dù tốc độ tăng nguồn cung thấp hơn so với phân khúc căn hộ, phân khúc này vẫn duy trì mức tăng giá trị mạnh mẽ.
Trong giai đoạn tới, nguồn cung nhà liền thổ tại khu vực Hà Nội mở rộng được dự báo tăng từ tối thiểu 132.000 căn thuộc 520 dự án vào năm 2025 lên ít nhất 210.000 căn thuộc 700 dự án vào năm 2035. Tương tự phân khúc căn hộ, nguồn cung nhà liền thổ trong tương lai được kỳ vọng sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài trung tâm thành phố, nhờ sự xuất hiện của các cực đô thị quy mô lớn và sự cải thiện của kết nối hạ tầng liên vùng. Các tuyến Vành đai 1, 2, 3 và 4, cùng với hệ thống đường cao tốc và metro, được báo cáo xác định là những động lực dài hạn quan trọng cho tăng trưởng giá trị.
Bà Nguyễn Ly Ly, Quản lý bộ phận nghiên cứu thị trường, Cushman & Wakefield Việt Nam cho biết, trong 10 năm qua, thị trường nhà ở Hà Nội đã đi qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ phục hồi sau giai đoạn kinh tế suy yếu và lãi suất cao, đến tăng trưởng mạnh, chững lại dưới tác động của Covid-19, siết pháp lý và tín dụng, trước khi bước vào giai đoạn phục hồi gần đây. Xuyên suốt chu kỳ đó, mặt bằng giá tiếp tục xu hướng đi lên.
Bà Ly Ly dự báo, trong giai đoạn tới, khi thị trường mở rộng ra các khu vực ngoài trung tâm và các cực đô thị mới hình thành rõ nét hơn, chúng tôi cho rằng sẽ có thêm dư địa để phát triển nguồn cung ở nhiều mức giá đa dạng hơn, qua đó mở ra cơ hội cho các sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu ở thực.
Thực tế cho thấy, sự hình thành các đô thị vệ tinh không chỉ giúp giảm áp lực dân số cho khu vực nội đô mà còn tạo ra các trung tâm kinh tế mới, nơi hội tụ đầy đủ các tiện ích sống, làm việc và giải trí. Đây là mô hình phát triển bền vững mà nhiều thành phố lớn trên thế giới đã áp dụng thành công, và Hà Nội đang từng bước đi theo hướng này.
Dự thảo nêu rõ, chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo độ tinh khiết của vàng tương ứng với hàm lượng vàng được quy định trong Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
Khi thực hiện phân hạng theo Kara, vàng trang sức, mỹ nghệ được phân hạng theo hạng thấp hơn liền kề với giá trị Kara thực tế xác định theo phân hạng danh định tại Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này (ví dụ vàng trang sức 21,5K thì xếp vào loại vàng 21K). Trường hợp phân hạng theo độ tinh khiết hoặc hàm lượng vàng thì công bố đúng giá trị thực tế (ví dụ vàng trang sức có hàm lượng vàng được xác định là 78,0 % thì công bố là 78,0 % hoặc 780).
Vàng trang sức, mỹ nghệ có nhiều hơn một bộ phận chính (ngoại trừ vật liệu hàn và các bộ phận phụ như: chốt, ốc vít… nếu có) là hợp kim vàng với giá trị phân hạng khác nhau theo quy định tại Bảng 3 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này sẽ được phân hạng theo thành phần có phân hạng thấp nhất và phải công bố rõ thành phần chính của vật liệu hàn và các bộ phận phụ (nếu có).
Vàng trang sức, mỹ nghệ được phép sử dụng kim loại nền bằng hợp kim khác với hợp kim vàng để tăng cường độ bền cơ lý mà hợp kim vàng không đáp ứng được.
Kim loại nền phải được xử lý bề mặt sao cho không gây nhầm lẫn về ngoại quan với thành phần là hợp kim vàng. Việc sử dụng kim loại nền khác với hợp kim vàng phải được nêu rõ trong công bố về thành phần của sản phẩm.
Sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ nếu có sử dụng vật liệu nhồi hoặc làm đầy chỗ trống phải được công bố cụ thể và công bố rõ sản phẩm không được làm toàn bộ từ hợp kim vàng.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về giới hạn thành phần độc hại thì vàng trang sức, mỹ nghệ (bao gồm cả kim loại nền, vật liệu phủ, vật liệu hàn, vật liệu gắn kết…) không được chứa các thành phần độc hại hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng vượt quá ngưỡng cho phép.
Giới hạn sai số của kết quả thử nghiệm xác định hàm lượng vàng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ phải bảo đảm yêu cầu quy định tại Bảng 4 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
Vàng trang sức, mỹ nghệ được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường phải bảo đảm chất lượng, hàm lượng vàng (trong sản phẩm hoặc trong thành phần có chứa vàng) của vàng trang sức, mỹ nghệ không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố.
Chất lượng vàng miếng, vàng nguyên liệu hàm lượng vàng từ 99,5% trở lên
Theo dự thảo, vàng miếng nhập khẩu, vàng nguyên liệu nhập khẩu phải có hàm lượng vàng từ 99,5% trở lên.
Vàng miếng được sản xuất, nhập khẩu, lưu thông trên thị trường; vàng nguyên liệu nhập khẩu phải bảo đảm chất lượng, hàm lượng vàng không được thấp hơn tiêu chuẩn, hàm lượng đã công bố. Giới hạn sai số của kết quả thử nghiệm xác định hàm lượng vàng đối với vàng miếng, vàng nguyên liệu phải bảo đảm yêu cầu quy định tại Bảng 4 Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư này.
Công bố tiêu chuẩn áp dụng
Vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng, vàng nguyên liệu quy định tại điểm 3 nêu trên lưu thông trên thị trường phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã công bố.
Nội dung tiêu chuẩn công bố áp dụng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng miếng, vàng nguyên liệu không được trái với các quy định tại Thông tư này và pháp luật có liên quan.
Việc công bố tiêu chuẩn áp dụng do tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công, nhập khẩu tự thực hiện thông qua hình thức ghi số hiệu tiêu chuẩn hoặc các đặc tính cơ bản theo một trong các cách sau đây: Công khai tại nơi kinh doanh; trên bao bì thương phẩm của sản phẩm vàng; trên nhãn hàng hóa của sản phẩm vàng (bao gồm cả nhãn điện tử); trên tài liệu kèm theo sản phẩm vàng; trên website, các nền tảng số khác, bảo đảm dễ truy cập, tra cứu và lưu trữ thông tin trong quá trình lưu thông sản phẩm.
Đặc biệt, dự thảo nhấn mạnh yêu cầu về an toàn sức khỏe: vàng trang sức, mỹ nghệ không được chứa các thành phần độc hại vượt ngưỡng cho phép, áp dụng cho cả vật liệu phủ, vật liệu hàn và chất gắn kết.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
Trong nhiều năm qua, không ít dự án bất động sản rơi vào trạng thái dở dang vì vướng mắc pháp lý kéo dài. Có dự án đã hoàn tất giải phóng mặt bằng, doanh nghiệp bỏ ra hàng nghìn tỷ đồng đầu tư hạ tầng, nhưng vẫn không thể triển khai tiếp do phát sinh sai phạm trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư, giao đất hoặc thủ tục pháp lý ở các giai đoạn trước.
Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù xử lý các tồn tại liên quan đến đất đai được xem là động thái đáng chú ý trong bối cảnh nền kinh tế cần thêm dư địa tăng trưởng và yêu cầu khơi thông nguồn lực đang trở nên cấp thiết.
Tại phiên thảo luận của Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước ngày 21/4/2026, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết hiện cả nước còn khoảng 4.489 dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài với khoảng 200.000 ha đất và 3,3 triệu tỷ đồng vốn đang bị "đóng băng", tương đương gần 3 lần quy mô vốn đầu tư công năm 2026.
Trong đó, khoảng 2.610 dự án được xác định cần cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ trong giai đoạn từ nay đến cuối năm 2026. Theo Bộ trưởng, các vướng mắc chủ yếu tập trung ở nhóm dự án liên quan sai phạm lịch sử, ách tắc về định giá đất, quy hoạch, thủ tục đầu tư, thanh tra, kiểm tra và chồng chéo pháp lý.
Bộ Tài chính cho rằng việc xử lý các dự án tồn đọng sẽ góp phần khơi thông nguồn lực lớn cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, xây dựng, tạo việc làm và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng trong thời gian tới.
Ông Nguyễn Văn Đính - Chủ tịch Hội Môi giới Bất động sản Việt Nam cho rằng trong bối cảnh thị trường bất động sản đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc và nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, việc ban hành Nghị quyết 29 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Theo ông Đính, nghị quyết không chỉ nhằm xử lý những tồn tại kéo dài của thị trường mà còn có thể tạo hiệu ứng khơi thông nguồn lực đất đai, tái kích hoạt dòng vốn và củng cố niềm tin đầu tư.
Một trong những điểm đáng chú ý của nghị quyết là thay đổi cách tiếp cận đối với các dự án vướng sai phạm. Thay vì chỉ tập trung xử lý trách nhiệm và "đóng băng" dự án như trước đây, cơ chế mới cho phép xem xét xử lý vi phạm đồng thời với việc đưa dự án trở lại hoạt động nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu Đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE), đây là sự chuyển hướng đáng chú ý trong tư duy chính sách, từ "đóng băng để xử lý" sang "xử lý để vận hành", mở ra khả năng tái khởi động nhiều dự án bị đình trệ trong thời gian dài.
VARS IRE cho rằng nếu quá trình tháo gỡ được triển khai hiệu quả, tác động sẽ không chỉ dừng ở thị trường bất động sản mà còn lan sang nhiều lĩnh vực liên quan như xây dựng, vật liệu, tài chính ngân hàng.
Trong thời gian qua, việc dự án chậm triển khai khiến dòng tiền bị ách tắc, doanh nghiệp suy giảm khả năng thanh toán, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng trong hệ thống tín dụng. Khi các dự án được tái khởi động, dòng vốn có cơ hội lưu thông trở lại, góp phần cải thiện thanh khoản cho doanh nghiệp và giảm áp lực lên hệ thống tài chính.
Ở góc độ pháp lý, chuyên gia cho rằng điểm cốt lõi của Nghị quyết 29 không nằm ở việc "nới lỏng" xử lý sai phạm, mà ở cách nhìn nhận bản chất của các tồn tại phát sinh trong nhiều giai đoạn pháp luật khác nhau.
Luật sư Phạm Thanh Tuấn - Đoàn Luật sư Tp.Hà Nội, chuyên gia pháp lý bất động sản nhận định trong nhiều năm qua, quy định liên quan đến lựa chọn nhà đầu tư, giao đất, đấu giá hay đấu thầu có sự thay đổi qua từng thời kỳ, trong khi cách hiểu và áp dụng pháp luật tại các địa phương chưa thống nhất.
Theo ông Tuấn, thực tế có nhiều dự án được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận đầu tư trong bối cảnh pháp luật còn khoảng trống hoặc chưa đồng bộ. Nhà đầu tư đã bỏ ra nguồn lực lớn để giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng và triển khai các bước chuẩn bị, nhưng sau kết luận thanh tra lại phát sinh vướng mắc liên quan đến thủ tục lựa chọn nhà đầu tư.
"Nếu áp dụng cứng nhắc các quy định pháp luật hiện hành để xử lý toàn bộ các trường hợp này sẽ không thực sự phù hợp, bởi nhiều sai phạm mang tính lịch sử, phát sinh trong bối cảnh pháp luật chưa hoàn thiện hoặc thiếu thống nhất", ông Tuấn cho biết.
Cũng từ những trường hợp như vậy, nhiều chuyên gia cho rằng cần có cơ chế xử lý riêng đối với các tồn tại mang tính lịch sử, thay vì áp dụng đồng loạt cách xử lý cứng nhắc cho mọi trường hợp sai phạm.
Dù mở ra nhiều kỳ vọng, hiệu quả của Nghị quyết 29 được cho là sẽ phụ thuộc lớn vào quá trình triển khai tại địa phương, đặc biệt là vai trò của UBND cấp tỉnh - cơ quan trực tiếp rà soát, phân loại và xử lý các dự án tồn đọng.
Theo đại diện VARS IRE, nếu địa phương chủ động, phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan và có hướng dẫn rõ ràng, quá trình tháo gỡ có thể được đẩy nhanh. Ngược lại, nếu tâm lý e ngại trách nhiệm vẫn tồn tại hoặc thiếu cơ chế thực thi thống nhất, nghị quyết sẽ khó đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Ông Nguyễn Văn Đính cũng cho rằng bên cạnh việc ban hành cơ chế đặc thù, cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành, xây dựng quy trình xử lý minh bạch và thành lập các tổ công tác chuyên trách tại địa phương nhằm rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ.
Một nội dung được nhiều chuyên gia nhấn mạnh là cơ chế định giá đất trong quá trình xử lý các dự án tồn đọng. Đây được xem là vấn đề nhạy cảm, cần được thiết kế minh bạch và nhất quán để vừa tránh thất thu ngân sách, vừa không tạo thêm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, yêu cầu tăng cường giám sát, kiểm toán độc lập và minh bạch thông tin cũng được đặt ra nhằm hạn chế nguy cơ lợi dụng chính sách để hợp thức hóa sai phạm hoặc trục lợi.
Theo vị chuyên gia, giá trị lớn nhất của Nghị quyết 29 không chỉ nằm ở việc tháo gỡ các dự án cụ thể, mà còn ở việc tạo tiền đề để rà soát những khoảng trống pháp lý tồn tại qua nhiều thời kỳ.
Công bố thông tin bất thường mới đây, PC1 cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ra các quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam, điều tra làm rõ hành vi phạm tội đối với 7 cá nhân là người nội bộ của công ty, trong đó có ông Trịnh Văn Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị PC1.
6 người còn lại gồm tổng giám đốc, 4 phó tổng giám đốc và kế toán trưởng của doanh nghiệp này.
Các hành vi vi phạm được đề cập là vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng và tham ô tài sản.
Có gần 60 năm hoạt động trong lĩnh vực xây lắp điện, suốt thời gian qua, PC1 đã tham gia nhiều dự án truyền tải điện quốc gia, điển hình như đường dây 500 kV mạch 3; đồng thời đóng vai trò tổng thầu EPC trong hàng loạt dự án điện khác.
Dự án đường dây 500 kV mạch 3 do Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) làm chủ đầu tư, có tổng chiều dài 519 km với tổng mức đầu tư hơn 22.300 tỉ đồng. Bắt đầu thi công từ ngày 25.1.2024, dự án chính thức được khánh thành ngày 29.8.2024.
Theo báo cáo về PC1 của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS), trong dự án đường dây 500 kV mạch 3 mở rộng, PC1 đã trúng nhiều gói thầu với tổng giá trị trúng thầu khoảng 2.083 tỉ đồng (khoảng 9,5% tổng giá trị dự án), bao gồm khối lượng công việc xây lắp, cung cấp cột thép, máy móc, thiết bị.
Hồi năm 2024, kết quả kinh doanh quý 1 của PC1 tăng trưởng tích cực nhờ vào sự phục hồi của mảng xây lắp và đóng góp doanh thu mới từ mảng khai khoáng. Doanh thu và lợi nhuận sau thuế của PC1 lần lượt đạt 2.165 tỉ đồng (tăng 44%) và 129 tỉ đồng (tăng 63%) so với cùng kỳ năm 2023.
Lượng công việc chuyển tiếp từ năm 2023 và thêm các gói thầu từ dự án đường dây 500 kV mạch 3 đã thúc đẩy doanh thu xây lắp, sản xuất công nghiệp và hàng hóa vật tư của PC1.
Trước đó, trong giai đoạn 2018 - 2020, PC1 là tổng thầu EPC các hạng mục bao gồm: dịch vụ pháp lý, thiết kế kỹ thuật, mua sắm, xây dựng, phát triển, sản xuất, lắp đặt, thử nghiệm, vận hành, COD (vận hành thương mại) cho loạt dự án nhà máy điện như: điện mặt trời Dầu Tiếng (500 MW); điện mặt trời BIM2, BIM3; điện mặt trời Đa Mi; dự án trạm biến áp 110 kV (63 MVA); điện gió Đầm Nại 2; điện gió Đại Phong (50 MW)…
Giai đoạn 2020 - 2021, PC1 là tổng thầu EPC cho nhiều dự án nhà máy điện như: điện gió Hàn Quốc - Trà Vinh (V1.1); điện gió Hưng Hải (100 MW); điện gió Tân Phú Đông (nearshore); điện gió Hanbaram 1, 2; điện gió IAPet Dak Doa (199 MW); điện gió Phong Huy (48 MW)...
Trong các dự án nêu trên, dự án Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng tại Tây Ninh gây ấn tượng hơn cả khi là dự án năng lượng sạch lớn nhất Đông Nam Á, do Tập đoàn B.Grimm Power (Thái Lan) và Tập đoàn Xuân Cầu (Việt Nam) là đồng chủ đầu tư.
Tổng vốn đầu tư hơn 12.700 tỉ đồng, khởi công tháng 6.2018 và hoàn thành vào tháng 3.2019, dự án gồm cụm 3 nhà máy điện mặt trời, gồm: Dầu Tiếng 1, Dầu Tiếng 2 và Dầu Tiếng 3 với công suất lắp máy lần lượt là 150 MW, 200 MW và 150 MW.
Trong dự án này, PC1 cũng thực hiện các hạng mục bao gồm: dịch vụ pháp lý, thiết kế kỹ thuật, mua sắm, xây dựng, phát triển, sản xuất, lắp đặt, thử nghiệm, vận hành, COD cho nhà máy điện.