Bà Thạch Thị Út là người dân tộc Khmer, quê gốc ở Trà Vinh. Bà chỉ nhớ mình năm nay khoảng 56 tuổi. Từ nhỏ, bà đã theo cha mẹ rời quê lên vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàu cũ, nay thuộc TP.HCM, để mưu sinh. Cả gia đình sống cuộc đời làm thuê, ở trọ khắp nơi, nay đây mai đó, không nơi ổn định.
“Ba mẹ tôi làm được gì thì làm nấy để nuôi con. Chúng tôi cứ đi hết nơi này đến nơi khác. Sau này mới về xã Châu Pha sinh sống đến giờ”, bà Út kể.
Cuộc sống nghèo khó, di chuyển liên tục khiến giấy tờ tùy thân của gia đình bà dần thất lạc. Khi cha mẹ mất đi, những đứa con cũng không còn biết bắt đầu từ đâu để tìm lại danh tính pháp lý của mình bởi… không giấy khai sinh, không chứng minh nhân dân, không hộ khẩu.
Dù không có bất kỳ giấy tờ nào, bà Út vẫn lập gia đình, sinh con, rồi có cháu ngoại. Con gái bà nay gần 30 tuổi nhưng cũng chưa từng có giấy khai sinh. Cháu ngoại lớn lên trong cảnh tương tự.
Suốt nhiều năm, gia đình bà sống bằng lao động phổ thông, làm thuê đủ nghề để tồn tại. Họ ít khi dám đi xa, không dám tiếp xúc nhiều với cơ quan hành chính vì mặc cảm không có giấy tờ tùy thân. Những điều tưởng như bình thường với nhiều người như đi làm ở công ty, mua bán tài sản, khám chữa bệnh hay đăng ký kết hôn… với họ lại là điều vô cùng xa vời.
Ngày Công an xã Châu Pha thông báo bà được đến làm căn cước công dân theo chương trình cấp căn cước cho nhân khẩu đặc biệt, bà Út gần như không tin vào tai mình. “Tôi vui quá, cả đêm không ngủ được”, bà xúc động nói.
Niềm vui ấy không chỉ dành cho riêng bà, mà còn cho cả gia đình khi nhiều người thân của bà cũng được hỗ trợ làm giấy khai sinh và căn cước công dân. Sau hàng chục năm sống trong cảnh không giấy tờ, cuối cùng họ cũng có cơ hội được công nhận là một công dân đúng nghĩa.
Ngồi cạnh bà Út là bà Thạch Thị Liên, chị ruột của bà, năm nay đã 74 tuổi. Ở tuổi gần đất xa trời, bà Liên cũng lần đầu tiên được gọi đi làm căn cước công dân.
Bà kể khi còn nhỏ từng có chứng minh nhân dân, nhưng cuộc sống lang bạt cùng gia đình khiến giấy tờ thất lạc hết. Sau khi cha mẹ qua đời, chị em bà sống nương tựa lẫn nhau, đi đâu cũng có nhau nhưng chẳng ai có nổi một giấy tờ tùy thân.
“Không có giấy tờ, cuộc sống khó khăn lắm, kể không hết được. Bao nhiêu quyền lợi của một công dân bình thường mình đều không có”, bà Liên chia sẻ.
Lời nói của người phụ nữ già nua khiến nhiều người lặng đi. Bởi đằng sau câu chuyện ấy là cả một quãng đời dài sống trong thiệt thòi, mặc cảm và bị từ chối nhiều cơ hội chỉ vì không thể chứng minh mình là ai.
Không có giấy tờ tùy thân đồng nghĩa với việc không thể tiếp cận nhiều quyền lợi cơ bản của xã hội. Người không căn cước khó xin việc ổn định, khó vay vốn, khó khám chữa bệnh theo bảo hiểm, không thể đăng ký kết hôn hay làm giấy khai sinh cho con.
Vui hơn trúng số độc đắc
Những thiệt thòi ấy hiện rõ nhất trong câu chuyện của anh Thạch Văn Hậu, cháu của bà Liên và bà Út. Năm nay 44 tuổi, có vợ và con trai đã 20 tuổi, nhưng anh vẫn chưa từng có căn cước công dân.
Anh Hậu kể mình từng nhiều lần xin vào công ty làm việc nhưng đều không thể gắn bó lâu dài vì không có giấy tờ tùy thân. “Tôi nói giấy tờ đang làm, nhưng nói dối hoài đâu có được. Cuối cùng cũng phải nghỉ việc”, anh buồn bã nói.
Không chỉ khó khăn trong công việc, cuộc sống thường ngày của anh cũng đầy những tình huống éo le. Bạn bè trêu chọc vì không có căn cước công dân, thậm chí nghi ngờ anh là người “trốn trại”. Mỗi lần đi xe máy của vợ bị cảnh sát giao thông kiểm tra, anh cũng không thể chứng minh mối quan hệ hôn nhân vì hai người chưa đăng ký kết hôn.
“Tôi và vợ sống với nhau hơn 20 năm mà vẫn chưa có tờ giấy đăng ký kết hôn”, anh nghẹn ngào.
Ngồi cầm tờ giấy khai sinh vừa được cấp trên tay, anh Hậu xúc động nhớ lại ngày mới cưới vợ. Khi cha vợ nói sẽ cho hai vợ chồng đất, ông yêu cầu anh đưa chứng minh nhân dân để làm thủ tục. Nhưng anh không có. “Cha vợ tỏ ra khó chịu, bảo gia đình tôi sao kỳ vậy. Nghe buồn lắm”, anh kể.
Trong ánh mắt người đàn ông ngoài 40 tuổi là sự mặc cảm kéo dài suốt nhiều năm vì thân phận không giấy tờ của mình. Anh nói điều khiến anh đau nhất không phải là nghèo khó, mà là cảm giác không được công nhận. “Một con người mà đến giấy tờ tùy thân cũng không có thì ai chấp nhận mình được”, anh chia sẻ.
Chính vì thế, ngày được thông báo lên làm căn cước công dân, anh Hậu vui mừng đến bật khóc. Vợ anh, chị Nguyễn Thị Hồng, cũng không giấu được xúc động.
“Khi công an xã vào khu trọ báo tin chồng tôi được làm căn cước, tôi muốn khóc luôn. Tôi gọi điện cho chồng, hai vợ chồng cùng khóc”, chị Hồng kể.
Có lẽ với nhiều người, khó hiểu vì sao một tấm thẻ căn cước lại khiến cả gia đình xúc động đến vậy. Nhưng với những người đã sống gần nửa đời người không giấy tờ, đó là niềm hạnh phúc quá lớn. Nó không chỉ là một tấm thẻ nhựa, mà là sự công nhận danh tính, là cánh cửa mở ra những quyền lợi mà họ chưa từng được hưởng.
Ánh mắt anh Hậu đỏ hoe khi nói về dự định sau khi có căn cước công dân. “Tôi vui còn hơn trúng số độc đắc. Có căn cước rồi, tôi với vợ sẽ đi đăng ký kết hôn. Tôi nợ vợ tờ giấy đăng ký kết hôn hơn 20 năm rồi”.
Câu nói giản dị nhưng khiến nhiều người xúc động. Bởi phía sau nó là sự chờ đợi kéo dài hơn hai thập kỷ của một người phụ nữ và là nỗi day dứt âm thầm của một người đàn ông luôn cảm thấy mình chưa thể cho vợ một danh phận đúng nghĩa.
Chương trình hỗ trợ cấp căn cước công dân cho nhân khẩu đặc biệt không chỉ giúp người dân có giấy tờ tùy thân, mà còn trả lại cho họ quyền được sống bình thường như bao công dân khác. Khi có căn cước, họ có thể đăng ký kết hôn, làm giấy khai sinh cho con cháu, xin việc ổn định, tham gia bảo hiểm y tế, thực hiện các giao dịch dân sự và tiếp cận nhiều chính sách an sinh xã hội.
Những giọt nước mắt của bà Út, bà Liên hay anh Hậu trong ngày đi làm căn cước công dân không chỉ là niềm vui cá nhân. Đó còn là niềm hạnh phúc của những con người lần đầu tiên được gọi tên trong hệ thống quản lý dân cư, lần đầu tiên cảm nhận đầy đủ giá trị của hai chữ “công dân”.
Sau hàng chục năm sống không giấy tờ, cuối cùng họ cũng có thể ngẩng cao đầu nói rằng mình có tên tuổi, có thân phận.
Ngày 4.6, Phòng CSGT Công an TP.HCM cho biết lực lượng vừa mở đường đưa quả tim hiến tặng đến bệnh viện để ghép tạng cứu người.
Theo đó, khoảng 19 giờ ngày 3.6, Phòng CSGT Công an TP.HCM tiếp nhận đề nghị hỗ trợ từ Bệnh viện Nhân dân 115 về việc vận chuyển khẩn cấp một quả tim hiến tặng đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM để thực hiện ca ghép cho bệnh nhân đang chờ đợi sự sống.
Ngay sau khi nhận được thông tin, Đội Tuần tra dẫn đoàn thuộc Phòng CSGT đã nhanh chóng triển khai phương án hộ tống. Một xe mô tô chuyên dụng cùng 2 cán bộ, chiến sĩ được điều động tham gia dẫn đường cho xe vận chuyển tạng.
Dù thời điểm này nhiều tuyến đường đang trong giờ cao điểm buổi tối với lưu lượng phương tiện đông đúc, CSGT đã phối hợp Đội CSGT Bàn Cờ và Đội CSGT Chợ Lớn tổ chức điều tiết, phân luồng giao thông.
Nhờ đó, quãng đường từ Bệnh viện Nhân dân 115 đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM được hoàn thành chỉ trong 4 phút, bảo đảm tuyệt đối yêu cầu về thời gian đối với công tác ghép tạng.
Theo đó, Đội Tuần tra dẫn đoàn thuộc Phòng CSGT bố trí 1 xe mô tô chuyên dụng cùng 2 cán bộ, chiến sĩ tham gia hộ tống xe chuyên dụng vận chuyển quả tim từ Bệnh viện Nhân dân 115 đến Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM.
Thời điểm thực hiện nhiệm vụ cũng là lúc nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố đang trong giờ cao điểm buổi tối, lưu lượng phương tiện đông đúc. Để hành trình được thông suốt, lực lượng CSGT đã chủ động phối hợp với Đội CSGT Bàn Cờ và Đội CSGT Chợ Lớn tổ chức điều tiết, phân luồng giao thông trên các tuyến xe đi qua.
Nhờ sự phối hợp khẩn trương và đồng bộ giữa các đơn vị, xe vận chuyển tim hiến tặng đã di chuyển an toàn, nhanh chóng đến bệnh viện tiếp nhận, bảo đảm yêu cầu về thời gian để kịp thực hiện ca ghép.
Hành trình đặc biệt này là cuộc chạy đua với thời gian nhằm giành lại cơ hội sống cho người bệnh, đồng thời giúp nối dài nghĩa cử cao đẹp của người hiến tạng và gia đình. Sự hỗ trợ trách nhiệm, tận tâm của lực lượng CSGT đã góp phần đưa món quà sự sống đến đúng nơi cần đến, lan tỏa những giá trị nhân văn trong cộng đồng.
Đối với nhiều người Việt Nam, được chụp một tấm hình dưới lá cờ Tổ quốc đã là niềm tự hào, còn với ông Nguyễn Hoàng Lương (74 tuổi, ở phường Quảng Trị), niềm tự hào ấy còn sâu sắc hơn. Bởi chính ông đã miệt mài làm nên lá cờ đang tung bay trên kỳ đài Hiền Lương suốt gần 20 năm qua.
Trong căn nhà nhỏ của ông Lương, những cuộn vải đỏ, vải vàng được xếp gọn gàng trong gian phòng. Chiếc máy may hướng ra phía cửa đón thêm ánh sáng, ông Lương đang hoàn thiện 3 lá cờ Tổ quốc để gửi cho Ban quản lý Di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải kịp treo trong những ngày tháng 4 lịch sử.
"Tôi làm công việc này gần 20 năm rồi, còn nghề thợ may thì từ khi còn là trai trẻ. Cơ duyên tình cờ đưa công việc này đến với tôi, bởi lúc đó cũng ít người dám nhận làm lá cờ to như thế. Tôi thì sẵn sàng bởi hiểu rằng đây là một công việc rất vinh dự", ông Lương nói.
Năm 2001, Khu di tích Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Một năm sau, tỉnh Quảng Trị cũ đã đầu tư 45 tỉ đồng để bảo tồn, tôn tạo lại di tích kéo dài đến năm 2007 thì hoàn thiện. Cũng trong giai đoạn này, những cán bộ, nhân viên tại di tích bắt đầu tìm kiếm người may được lá cờ có kích thước lớn như lá cờ được treo trong những ngày tháng đất nước còn bị chia cắt.
Khi cơ duyên đến, ông Lương không ngần ngại nắm lấy.
"Ban đầu, các nhân viên ở di tích liên hệ với một người bạn cũng là đồng nghiệp trong nghề với tôi. Nhưng vì lá cờ quá to nên người bạn ấy không nhận rồi giới thiệu cho tôi. Biết kích thước lá cờ gần 80 m2 tôi cũng đắn đo, vì quá lớn. Nhưng với tay nghề và hiểu được đây là một vinh dự to lớn, tôi đồng ý nhận may", ông Lương kể lại.
Lá cờ Tổ quốc treo tại kỳ đài Hiền Lương - Bến Hải có chiều dài 10,5 m, rộng 7,2 m, tổng diện tích gần 80 m2 nên rất cần số lượng vải lớn và nhiều ngày công tỉ mỉ. Thế nhưng, suốt gần 2 thập kỷ qua, ông Lương vẫn đều đặn hoàn thiện những lá cờ đúng hẹn, đúng số lượng để bên dòng sông Bến Hải chưa từng thiếu vắng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay.
Anh Nguyễn Quý Lâm (43 tuổi, con trai ông Lương) cho biết anh từ nhỏ cũng muốn theo nghiệp bố: "Tôi đang là giáo viên nhưng vẫn thích nghề của bố, bởi ngoài là công việc kiếm thêm thu nhập thì còn mang ý nghĩa rất sâu sắc. Thời gian gần đây, khi bố lớn tuổi, tôi vẫn thường giúp những công đoạn khó nhất".
Chia sẻ về cách may cờ ở Hiền Lương, ông Lương cho biết mất khoảng 7 - 10 ngày để hoàn thiện. Thời trai trẻ, một mình ông có thể làm nhanh hơn, nhưng theo thời gian sức khỏe ông suy giảm cần thêm sự hỗ trợ của con cái.
Để làm nên một lá cờ treo tại kỳ đài Hiền Lương cần tới gần 80 m² vải. Phần nền đỏ được ghép từ nhiều mảnh vải nhỏ, từng đường chỉ phải thật chắc chắn để khi lá cờ tung bay trong gió mạnh cũng không bị rách.
Sau khi ghép xong nền đỏ, 2 bố con mượn khoảng sân tại một trường mầm non gần nhà để trải cờ ra, dùng khung tre hình ngôi sao đo và cắt phần vải vàng thành hình ngôi sao rồi tiếp tục may ghép với vải đỏ. Đây cũng là công đoạn vất vả nhất.
"Tôi làm nghề này không biết đã trải qua bao nhiêu đời hiệu trưởng ở trường mầm non rồi, bao nhiêu đời lãnh đạo của di tích rồi. Nhưng lúc nào họ cũng tạo điều kiện và tin tưởng vào sản phẩm tôi làm. Giờ có tuổi không làm nổi nữa nhưng cái nghề này ý nghĩa, tôi đang chỉ dẫn dần dần lại cho con cháu để tiếp tục duy trì", ông Lương nói.
Không chỉ may lá cờ treo tại kỳ đài Hiền Lương, ông Lương còn là người làm nên lá cờ Tổ quốc tung bay trên cột cờ ở đảo Cồn Cỏ.
Trong tháng 4 này, Di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải vừa mở cửa đón khách trở lại sau đợt trùng tu lớn, cầu Hiền Lương được sơn mới, khuôn viên dưới chân kỳ đài được chỉnh trang khang trang hơn. Dẫu khoác lên diện mạo mới, nơi đây vẫn vẹn nguyên những giá trị lịch sử thiêng liêng mà trong đó cầu Hiền Lương và lá cờ Tổ quốc trên kỳ đài đã trở thành biểu tượng của khát vọng thống nhất đất nước.
Bà Nguyễn Thị Tố Hoài, Trưởng ban quản lý Di tích quốc gia đặc biệt Đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải, luôn đánh giá cao tay nghề và sự tận tâm của ông Lương.
"Những lá cờ do ông Lương may luôn khiến chúng tôi rất hài lòng, từ từng đường kim mũi chỉ cho đến màu sắc. Suốt nhiều năm qua, ông luôn đáp ứng tốt mọi yêu cầu của di tích. Chúng tôi sẽ tiếp tục tạo điều kiện để hợp tác lâu dài, để bên dòng Bến Hải luôn có lá cờ Tổ quốc đẹp nhất tung bay giữa bầu trời", bà Nguyễn Thị Tố Hoài nói.