Theo Quyết định 963 của Bộ Công Thương ban hành ngày 22/4, giờ cao điểm được dồn vào buổi tối từ 17h30 đến 22h30 hàng ngày (chủ nhật không có giờ cao điểm), còn thấp điểm 0-6h.
Tuy nhiên, thay đổi này hiện chưa được Bộ Công Thương áp dụng thực tế, nên giờ cao điểm vẫn chia làm 2 khung như trước (9h30-11h30 và 17h-22h hàng ngày, trừ chủ nhật), còn thấp điểm 22h-4h.
Theo quy định Thông tư 60/2025, các khung giờ cao – thấp điểm và bình thường chỉ được thay đổi khi cơ quan quản lý có đợt điều chỉnh giá điện bình quân. Song, tại dự thảo sửa đổi Thông tư 60, Bộ Công Thương đề nghị bỏ quy định chuyển tiếp này. Điều này đồng nghĩa, khung giờ điện cao điểm (17h30-22h30, trừ chủ nhật), thấp điểm 0-6h hàng ngày có thể được áp dụng ngay trong mùa nắng nóng năm nay.
Khung giờ cao, thấp điểm chủ yếu áp dụng với nhóm khách hàng dùng điện cho sản xuất, kinh doanh. Hộ gia đình dùng điện sinh hoạt không chịu ảnh hưởng bởi khung giờ này, mà theo biểu giá bán lẻ bậc thang hiện hành.
Hiện có khoảng 1,25 triệu công tơ điện của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đang áp dụng cơ chế này, liên quan trực tiếp đến đo đếm, lập hóa đơn và thanh toán điện năng.
Bộ Công Thương cho rằng việc sớm áp dụng khung giờ điện cao điểm mới (5 giờ một ngày), thấp điểm (6 giờ mỗi ngày) sẽ phản ánh đúng cung – cầu điện, khuyến khích khách hàng dịch chuyển sử dụng điện khỏi giờ cao điểm để giảm áp lực hệ thống.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, từ năm 2019 – thời điểm điện mặt trời phát triển mạnh, tỷ trọng tiêu thụ điện công nghiệp tăng từ 30% lên hơn 50% tổng sản lượng điện. Trong khi đó, điện dùng trong sinh hoạt gia đình giảm từ khoảng 50% xuống còn gần 30%.
Khung giờ cao – thấp điểm và bình thường theo Quyết định 963, từ 22/4:
Tuần trước, Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO) cũng đề xuất áp dụng khung giờ cao, thấp điểm mới ngay trong tháng 6. Tương tự, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng kiến nghị áp dụng ngay khung giờ điện mới trong mùa khô năm nay để góp phần giảm nguy cơ mất cân bằng cung – cầu điện, nhất là vào cao điểm chiều tối.
Năm nay, Bộ Công Thương dự báo nguy cơ thiếu điện vào các đợt nắng nóng cao điểm mùa khô do nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh, và nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị, biến động giá nhiên liệu hay thời tiết cực đoan.
Ngày 26/5, công suất tiêu thụ điện lớn nhất của hệ thống điện quốc gia đạt 57.590 MW, tăng khoảng 470 MW so với cùng thời điểm trước đó một ngày. Miền Bắc ghi nhận mức tăng công suất tiêu thụ gần 900 MW, lên 29.385 MW.
NSMO dự báo công suất tiêu thụ điện cả nước tiếp tục tăng trong hôm nay. Trong đó, công suất tiêu thụ lớn nhất tại miền Bắc vào giờ cao điểm tối (17h-20h) có thể đạt 31.000-31.500 MW, tăng hơn 6.500-7.000 MW so với thời điểm trước đợt nắng nóng.
Tại cuộc họp ngày 26/5, Thứ trưởng Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết nền nhiệt cao kỷ lục kéo dài trên diện rộng từ đầu tháng 4 đến nay khiến tiêu thụ điện tăng mạnh, đặc biệt giai đoạn 23-27/5. Theo dự báo của cơ quan khí tượng trong nước và quốc tế, khả năng xuất hiện “siêu El Nino” từ tháng 7 lên tới 80%, kéo theo nguy cơ hạn hán, giảm lượng nước về hồ thủy điện và gia tăng nhu cầu sử dụng điện.
Bộ Công Thương cho biết các kịch bản vận hành điện năm 2026 đã tính tới phương án nhu cầu sử dụng tăng 8,5-14,2%. Tuy nhiên, với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%, nhu cầu điện thực tế có thể tăng tương ứng hoặc cao hơn, tạo áp lực lớn lên phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và năng lực điều độ hệ thống.
Nội dung nêu tại bản góp ý dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý thuế của Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).
Theo đó, VCCI đề nghị bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua phế liệu được khai và nộp thuế thay cho hộ, cá nhân kinh doanh ve chai, đồng nát.
Thực tế, ngành tái chế là mắt xích quan trọng trong phát triển kinh tế tuần hoàn, phù hợp chiến lược phát triển bền vững. Trong chuỗi này, lực lượng thu gom ve chai, phế liệu giữ vai trò đầu vào, đảm nhận khâu thu gom và phân loại ban đầu.
Tuy nhiên, theo VCCI, người thu gom phần lớn là cá nhân nhỏ lẻ, hiểu biết pháp luật hạn chế nên gặp khó trong nộp thuế, hóa đơn. Vì vậy, nhiều người lo ngại rủi ro pháp lý, ưu tiên bán cho các làng nghề phi chính thức thay vì doanh nghiệp tái chế.
Điều này khiến doanh nghiệp lĩnh vực này khó tiếp cận nguồn phế liệu trong nước, trong khi thị trường ngày càng yêu cầu tỷ lệ tái chế cao hơn. Về lâu dài, nguy cơ mất đơn hàng và suy giảm năng lực cạnh tranh của ngành tái chế có thể xảy ra. Ngược lại, Nhà nước cũng gặp khó trong quản lý thuế, tận dụng nguồn tài nguyên tái chế.
Ngoài lĩnh vực phế liệu, VCCI cũng góp ý về yêu cầu tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân phải khai thuế giá trị gia tăng (VAT) trên toàn bộ doanh thu, không phân biệt cách chia doanh thu giữa các bên.
Theo VCCI, quy định này chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế của mô hình hợp tác kinh doanh, đặc biệt với dịch vụ gọi xe công nghệ.
Hiện các nền tảng gọi xe thường hợp tác với tài xế theo tỷ lệ chia doanh thu, chẳng hạn doanh nghiệp hưởng 20%, tài xế nhận 80%. Tuy nhiên, theo dự thảo, doanh nghiệp có thể phải chịu VAT 10% trên toàn bộ doanh thu cuốc xe.
VCCI cho rằng điều này gây bất lợi vì doanh nghiệp chỉ thực nhận một phần doanh thu nhưng phải kê khai thuế toàn bộ giá trị giao dịch. Trong khi đó, phần doanh thu chia cho tài xế lại không có hóa đơn đầu vào phù hợp để khấu trừ thuế.
Với tài xế công nghệ, VCCI nhận định việc áp VAT 10% trên phần doanh thu của người lái xe cũng chưa phù hợp. Bởi đây chủ yếu là cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, nhiều trường hợp thuộc diện miễn hoặc nộp thuế theo tỷ lệ trên doanh thu. Theo quy định hiện hành, mức VAT áp dụng với cá nhân kinh doanh vận tải thường khoảng 3%.
Do đó, tổ chức này đề xuất sửa theo hướng doanh nghiệp nền tảng chỉ kê khai, nộp thay VAT cho cá nhân trên phần doanh thu được chia, khai và nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho tài xế.
Những ngày đầu tháng 6, tại thủ phủ trồng dứa gai Thanh Hóa ở xã Hà Long và phường Quảng Trung, nông dân đang thuê người tất bật thu hoạch giữa thời tiết nắng nóng gay gắt. Trên các triền đồi, dứa chín vàng phủ kín ruộng nhưng không còn cảnh thương lái tấp nập như mọi năm.
Giá giảm sâu, sức mua chậm khiến nhiều người thấp thỏm khi thành quả sau hơn một năm chăm sóc đứng trước nguy cơ thất thu.
Tại cánh đồng dứa ở thôn Khắc Dũng, xã Hà Long, ông Quách Văn Phan liên tục đi kiểm tra những luống dứa đã đến kỳ thu hoạch. Gia đình ông đầu tư khoảng 400 triệu đồng cho hơn 2 ha dứa, nhưng đến nay mới tiêu thụ được khoảng ba sào (tương đương 1.500 m2), thu về gần 50 triệu đồng.
Phần diện tích còn lại vẫn nằm ngoài đồng trong khi nhiều quả bắt đầu nám vỏ, hư hỏng do nắng nóng kéo dài. "Có lúc một kg dứa còn không bằng một bó rau ngoài chợ", ông Phan nói.
Theo ông, năm ngoái dứa loại đẹp có thời điểm bán được 14.000 đồng một kg, giá bình quân các loại khoảng 9.000 đồng một kg. Nhưng năm nay, 1 kg dứa loại một chỉ còn 6.000-7.000 đồng, những quả nhỏ hoặc bị nám gần như không có người mua. Giá giảm mạnh cùng lượng dứa hư hỏng khiến gia đình ông Phan nguy cơ thua lỗ hàng trăm triệu đồng.
Không xa ruộng dứa của ông Phan, bà Trần Thị Hồng cũng bất lực nhìn hàng nghìn quả dứa chín dần rồi hư hỏng ngoài đồng. Gia đình bà trồng khoảng 2 ha dứa nhưng gần một nửa diện tích bị ảnh hưởng do tiêu thụ chậm. "Dứa không bán được, gặp nắng nóng kéo dài nên nám rồi thối ngay trên ruộng", bà Hồng cho biết.
Theo bà, thiệt hại không chỉ nằm ở sản lượng quả mất đi. Nhiều cây dứa bị ảnh hưởng cũng không thể sử dụng phần ngọn để làm giống cho vụ tiếp theo, làm tăng thêm chi phí sản xuất đầu vào.
Toàn xã hiện có khoảng 700 ha dứa. Theo bà Phùng Thị Luyên, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Hà Long, giá giảm sâu cùng thời tiết bất lợi khiến nhiều hộ sản xuất rơi vào cảnh thua lỗ.
Nhiều hộ dân phải dùng lưới che nắng nhằm hạn chế tình trạng cháy quả nhưng kết quả không đáng kể. Dọc các tuyến đường liên thôn, nhiều đống dứa bị loại hoặc đổ bỏ vì không có người thu mua.
Ông Quách Văn Nhất, Trưởng thôn Khắc Dũng, cho biết chưa năm nào việc tiêu thụ dứa lại khó khăn như vậy. Lượng thương lái đến thu mua giảm mạnh khiến nhiều diện tích dứa chín quá lứa, mất giá trị thương phẩm. "Dứa đến kỳ thu hoạch nhưng không có người mua, người dân rất sốt ruột", ông Nhất nói.
Nguyên nhân chính khiến giá dứa giảm sâu là diện tích trồng tăng nhanh trong khi đầu ra vẫn phụ thuộc chủ yếu vào thương lái tự do, theo ông Trịnh Văn Chất, Trưởng phòng Trồng trọt, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thanh Hóa. Các chuỗi liên kết tiêu thụ và hợp đồng bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp còn hạn chế, khiến thị trường dễ rơi vào tình trạng cung vượt cầu khi sản lượng tăng mạnh.
Ngành nông nghiệp Thanh Hóa nhận định việc mở rộng diện tích dứa trong những năm gần đây xuất phát từ giai đoạn giá dứa gai tăng cao, có thời điểm lên tới 15.000-16.000 đồng một kg. Nhiều hộ dân đã chuyển đổi đất trồng mía sang trồng dứa, cùng với việc áp dụng kỹ thuật thâm canh tốt hơn giúp năng suất tăng đáng kể.
Theo quy hoạch trước đây, đến năm 2030, Thanh Hóa dự kiến phát triển khoảng 2.300 ha dứa. Tuy nhiên, sau khi quy hoạch này không còn hiệu lực, diện tích dứa trên địa bàn đã tăng lên khoảng 5.500 ha, gấp hơn hai lần so với định hướng ban đầu.
Ông Chất phân tích, hiện chi phí đầu tư cho một ha dứa khoảng 275 triệu đồng, bao gồm giống, phân bón, nhân công và chi phí đất đai. Với mức giá khoảng 5.000 đồng một kg, người trồng mới có thể hòa vốn. Nếu giá tiếp tục giảm hoặc sản lượng bị ảnh hưởng bởi thời tiết, nguy cơ thua lỗ là rất lớn.
Để giải quyết bài toán đầu ra, tỉnh Thanh Hóa vừa thu hút được hai nhà đầu tư lớn xúc tiến xây dựng nhà máy chế biến dứa quy mô lớn. Khi đi vào hoạt động, các nhà máy này dự kiến cần nguồn nguyên liệu tương đương 2.500 ha dứa, góp phần tiêu thụ sản lượng cho vùng nguyên liệu hơn 5.000 ha hiện nay.
Theo ông Chất, địa phương cũng đang triển khai các chính sách hỗ trợ tích tụ đất đai, phát triển vùng sản xuất tập trung, đồng thời yêu cầu các địa phương kiểm soát chặt việc mở rộng diện tích trồng mới, hướng dẫn người dân sản xuất rải vụ, quản lý nguồn giống và hỗ trợ phát triển cây giống nuôi cấy mô nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
Nhiều đại biểu quan tâm việc áp thuế với ô tô chạy bằng pin, dự thảo đề xuất tiếp tục ưu đãi mức thuế tiêu thụ đặc biệt từ 1-3% từ ngày 1-1-2026, sau đó điều chỉnh tăng mạnh lên mức 4-11% từ ngày 1-1-2031.
Đồng tình với chính sách miễn thuế với xe điện, đại biểu Phạm Văn Hòa (Đồng Tháp) cho rằng chính sách này giúp khuyến khích toàn dân sử dụng xe điện và chuyển đổi xanh. Tuy nhiên cần xem xét mặt trái của xe điện, khi các đô thị sử dụng xe nhiều hơn các tỉnh.
"Thực tế, các trạm sạc ở đô thị rất hạn chế. Nhiều chung cư tại Hà Nội và TP.HCM không cho sạc và để xe điện trong chung cư. Chưa kể, pin xe điện sau sử dụng có thể gây ra độc hại, đặt ra yêu cầu về xử lý. "Xe xăng không giảm thuế trong khi xe điện giảm nên cần phải có chính sách công bằng" - đại biểu Hòa nói.
Cùng quan điểm, đại biểu Đoàn Hùng Vũ (Đồng Tháp) cũng cho rằng tiếp tục ưu đãi thuế với xe điện là phù hợp khi ô nhiễm khí thải rất nghiêm trọng. Chính sách này cũng phù hợp định hướng tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường, thực hiện cam kết Net Zero và mở ra cơ hội phát triển ngành công nghiệp mới, thúc đẩy tăng trưởng.
Tuy nhiên quan tâm tới rủi ro ô nhiễm môi trường khi pin hư hỏng, hết hạn sử dụng, đại biểu Vũ cho rằng cùng với ưu đãi thuế, cần hỗ trợ phát triển trạm sạc, hạ tầng kỹ thuật và khuyến khích chuyển giao công nghệ sản xuất pin thân thiện môi trường. Ban hành quy định bắt buộc về thu hồi, tái chế pin, có điểm thu gom và đầu tư công nghệ tái chế...
Quan tâm tới lộ trình tăng thuế, đại biểu Tráng A Dương (Lào Cai) bày tỏ băn khoăn khi năm 2031 mức thuế tăng mạnh từ 4-11%. Theo ông, đây là mức điều chỉnh khá đột ngột, có thể làm gián đoạn phát triển của thị trường xe điện vốn đang hình thành và cần được nuôi dưỡng.
Cùng đó, quy định đang áp dụng chung với các loại xe có mục đích sử dụng khác nhau, như xe chở người và xe chở hàng... Do đó cần rà soát để đảm bảo tính chất công bằng về mục đích sử dụng, tránh việc áp dụng mức thuế chưa đảm bảo tính chất tiêu dùng và mục đích kinh doanh.
“Cần đặt thuế tiêu thụ đặc biệt trong tổng thể chính sách khác như phí trước bạ, hạ tầng sạc, tiêu chuẩn về môi trường. Nếu chỉ ưu đãi cho giai đoạn đầu tư, tăng thuế trong khi điều kiện hỗ trợ khác chưa hoàn thiện thì hiệu quả chính sách sẽ bị hạn chế" - đại biểu nêu.
Đồng tình, đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc (TP.HCM) cho rằng với biên độ thuế suất sau ưu đãi tăng gấp 3-4 lần tiềm ẩn nhiều vấn đề. Đó là tình trạng bất ổn thị trường, tâm lý mua chạy thuế, tạo 'sốt ảo' vào thời điểm cuối năm 2030 và nguy cơ sụt giảm nghiêm trọng sức mua, đóng băng thị trường từ đầu năm 2031 do giá xe tăng đột biến.
Thêm nữa, việc áp thuế cũng làm gián đoạn đầu tư hạ tầng trạm sạc, phá vỡ phương án tài chính, thu hồi vốn của các nhà đầu tư hạ tầng. Điều này dẫn đến nguy cơ đình trệ việc mở rộng mạng lưới trạm sạc.
Đại biểu cũng lo ngại việc áp thuế như trên gây suy giảm lợi thế thu hút FDI khi chu kỳ đầu tư dự án công nghiệp ô tô và pin lưu trữ thường kéo dài từ 7-10 năm. Biên độ biến động thuế quá lớn trong ngắn hạn (5 năm) sẽ làm giảm tính dự báo, khiến các nhà đầu tư quốc tế e ngại rủi ro và chuyển hướng dòng vốn.
Do đó đại biểu Trúc đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc điều chỉnh lộ trình tăng thuế theo cơ chế "bậc thang". Tức là thay vì áp dụng mức tăng đột biến vào năm 2031, cần chia nhỏ biên độ điều chỉnh tịnh tiến theo chu kỳ 2-3 năm.
Phương án này nhằm hạn chế cú sốc về giá, đảm bảo tính ổn định của thị trường, duy trì động lực phát triển hệ sinh thái giao thông xanh và bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước bền vững.