Làm bài thi thử môn tiếng Anh của cụm trường THPT số 1 Hà Nội hồi đầu tháng, Đức Dũng, học sinh lớp 12, với 6.5 IELTS (7.0 phần Đọc), thừa nhận khá chật vật.
Dũng kể thường hiểu được 80-85% các bài đọc, nhưng với đề thi này, sau hơn 20 phút (gần một nửa thời gian làm bài), em vẫn chưa hoàn thành một trong hai bài đọc. Ở bài số 1 với 10 câu hỏi, ngay từ đầu đã xuất hiện loạt từ như climatic perturbations (biến động khí hậu), transmuting (biến đổi), terrestrial biotopes (sinh cảnh trên cạn),… mà Dũng nhận xét là “khủng”. Nam sinh đành “khoanh lụi” mấy câu.
“Em thấy ngộp và siêu thiếu thời gian”, Dũng chia sẻ.
Ở Thanh Hóa, Quỳnh, học sinh lớp 12, với chứng chỉ 7.5 IELTS (tương đương trình độ C1) với kỹ năng Đọc đạt tuyệt đối 9.0, cũng lúng túng với đề thi thử lần 2 của Sở Giáo dục và Đào tạo. Bài đọc có nhiều từ khó, như crystallized (kết tinh), algorithmic sociality (tính xã hội thuật toán), social proofing (bằng chứng xã hội),…
“Nếu không phải học sinh chuyên Anh hoặc chưa từng học IELTS thì khó hiểu được”, nữ sinh nhận xét.
Các đề thi này gần đây thu hút nhiều thảo luận trên các diễn đàn, phần lớn e ngại về độ khó. Một số giáo viên và chuyên gia ngôn ngữ đặt câu hỏi về sự cần thiết của việc đưa các thuật ngữ hiếm gặp vào bài ôn tập, kiểm tra dành cho học sinh phổ thông.
Anh Ngô Huy Tú, giảng viên tiếng Anh tại trường Đại học Đại Nam, tác giả sách IELTS Key Writing, đánh giá bài đọc của cụm trường số 1 ở Hà Nội có mức độ từ vựng cực khó, do có những thuật ngữ khoa học, triết học phức tạp, hoặc từ dài, hiếm gặp và có gốc La-tinh, Hy Lạp. Những từ này ở mức C2, cao nhất theo Khung tham chiếu châu Âu (CEFR).
Ngoài ra, các cấu trúc danh từ hóa được sử dụng với tần suất “cực đại”, tăng độ nén thông tin và độ khó của văn bản lên hơn nhiều so với các bài đọc hiểu trong kỳ thi IELTS (thường ở mức B2-C1) hoặc với mức B1 ở phổ thông.
Nếu dùng công cụ thống kê của từ điển Oxford, một số từ xuất hiện không tới một lần trên mỗi một triệu từ trong tiếng Anh viết hiện đại, như chimerical (hư không), sequestration (sự cô lập), hyperthermia (tăng thân nhiệt),…
Việc ra bài đọc khó trong các tài liệu ôn tập không phải là hiếm gặp. Cô Trần Hoa, giáo viên tiếng Anh ở Hà Nội, thường chữa đề thi thử ở các tỉnh cho học sinh ôn luyện, không ít lần “nhăn nhó” vì thấy quá rắc rối.
“Quá nhiều từ cấp độ C1-C2, còn cấu trúc câu thì rườm rà không cần thiết. Học sinh có lẽ phải cần tới 60-70 phút mới làm kịp”, cô nói.
Các giáo viên nhìn nhận lý do có thể vì đề thi tốt nghiệp THPT năm 2025 môn tiếng Anh từng gây sốc, cả nước chỉ có 141 em đạt điểm 10, trong hơn 350.000 thí sinh.
Trả lời VnExpress, ông Nguyễn Thế Hải, chuyên viên tiếng Anh của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa, ghi nhận các ý kiến về độ khó. Ông cho hay đề thi thử được chọn từ một bộ đề do các giáo viên cốt cán của tỉnh xây dựng, “bám rất sát cấu trúc của Bộ năm vừa rồi”.
“Đề năm ngoái có dung lượng từ vựng lớn và khó. Nên đề thi thử được thiết kế để giúp các em có nhiều va chạm với độ khó của đề thi thật, từ đó điều chỉnh định hướng ôn tập”, ông nói.
Do tiếng Anh là môn lựa chọn, theo ông Hải, những học sinh khá, giỏi mới đăng ký. Vì thế, đề thi của Bộ ra như vậy cũng đặt các em theo đúng năng lực, sở trường.
Ở Hà Nội, một số trường thuộc cụm 1 không đưa ra bình luận.
Trong nghiên cứu “Phân tích độ khó và yêu cầu từ vựng của đoạn văn đọc trong bài thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT tại Việt Nam”, hồi đầu năm, TS Cao Thị Hồng Phương (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) và TS Nguyễn Thị Mỹ Hằng (Đại học Đà Nẵng), chỉ ra rằng nguyên nhân sâu xa của xu hướng tăng độ khó là kỳ thi tốt nghiệp gánh mục tiêu kép: vừa xét tốt nghiệp THPT, vừa dùng tuyển sinh đại học.
Do đó, nếu đề quá dễ thì không thể phân loại, nhưng nếu quá khó sẽ vượt năng lực trung bình của học sinh phổ thông, gây áp lực tâm lý cho các em.
Cô Hoa đánh giá hướng ra đề mới như hiện nay là tốt, yêu cầu học sinh thực sự hiểu, dịch và suy luận từ bài đọc thay vì dựa vào các mẹo ngữ pháp. Thứ cần điều chỉnh là nội dung của đề.
“Người ra đề cần đặt mình vào vị trí của thí sinh, tự phản biện để điều chỉnh câu hỏi”, cô nói. Cô khuyên học sinh muốn bứt phá trong thời điểm nước rút chú trọng vào từ vựng và phần đọc hiểu.
Còn anh Tú tin bài thi thật sẽ không khó như bài thi thử của cụm trường THPT số 1 ở Hà Nội, hy vọng chuyên gia sẽ cân nhắc, đo lường chính xác hơn về độ tin cậy và tính hợp lệ của đề thi.
Với các đề lấy nguồn từ nghiên cứu khoa học, theo anh Tú nên cắt giảm lượng từ vựng chuyên ngành và dùng lối diễn đạt thông dụng. Bởi mục đích của chúng là phổ biến kiến thức, để người đọc có thể hiểu thay vì đánh đố họ.
Quỳnh cho hay yên tâm vì có chứng chỉ IELTS 7.5 để quy đổi điểm khi xét tuyển đại học, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điểm thi. Dũng thì chưa quyết sẽ dùng cách nào, song đang tập trung học từ vựng nhiều hơn để đạt điểm tốt nhất trong kỳ thi tốt nghiệp – diễn ra sau hơn 10 ngày nữa.
Sáng nay (17.4), ĐH Quốc gia TP.HCM chính thức công bố điểm thi đánh giá năng lực (V-ACT) của hơn 133.000 thí sinh trên cả nước. Tính đến đầu giờ chiều nay, theo khảo sát của Thanh Niên với một số trung tâm luyện thi, ít nhất trăm sĩ tử có điểm chung là kết quả tiếng Việt thấp nhất so với các phần thi khác là toán, tiếng Anh, tư duy khoa học. Hiện tượng này cũng diễn ra với những thí sinh có tổng điểm từ 1.000 trở lên.
Tuy nhiên, cũng có số ít trường hợp thí sinh có kết quả thi tiếng Việt cao hơn các phần khác trong quá trình khảo sát.
Đáng chú ý, nhiều thí sinh đạt điểm phần thi tiếng Anh ở mức tối đa là 300, trong khi điểm tiếng Việt lại nằm "chót bảng" trong 4 phần. Trường hợp nổi bật nhất là thủ khoa thi đợt 1 năm nay - em Trần Hoàng Thiên Phúc, học sinh lớp 12 Toán 2 Trường Phổ thông Năng khiếu (ĐH Quốc gia TP.HCM) - với điểm phần tiếng Anh, tư duy khoa học đều là 300, toán đạt 264 còn tiếng Việt "về cuối" ở mốc 234.
"Nhiều học sinh của tôi cũng có kết quả thi phần tiếng Việt thấp nhất trong 4 phần, thậm chí cách phần thi thấp thứ hai khoảng 30-40 điểm", thạc sĩ Bùi Văn Công, giáo viên chuyên luyện thi V-ACT trực tuyến cho học sinh ở nhiều địa phương, chia sẻ.
Theo thầy Công, tiếng Việt là phần thi có điểm thấp nhất trong 4 phần không đồng nghĩa với việc năng lực tiếng Việt của thí sinh đó giảm sút, mà có thể do độ khó không đồng đều giữa các phần trong đề thi. Nam giáo viên cho rằng phần tiếng Việt ở kỳ thi năm 2026 thiên về suy luận chứ không còn quá chú trọng đến cảm nhận văn chương, đọc hiểu văn bản đơn thuần như trước. Điều này có thể khiến nhiều bạn gặp thử thách.
Chưa kể phần tiếng Việt năm nay còn có nhiều câu ngoài nội dung trước giờ hay ra đề, như câu hỏi về niêm luật trong thơ Đường luật hoặc các câu hỏi về lỗi chính tả, theo thầy Công. Còn thầy Đặng Duy Hùng, quản lý hệ thống luyện thi Helius Education tại TP.HCM, đánh giá phần tiếng Việt tuy hay và pha trộn nhiều màu sắc khác nhau, song lại nặng về đọc ngữ liệu nên chiếm nhiều thời gian làm bài hơn so với mọi năm.
"Nhìn chung, phần khó ở đề năm nay xoay cực từ khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội", thầy Hùng nhìn nhận.
Huỳnh An Khang, với tổng điểm 1.006 - trong đó tiếng Anh đạt 278 điểm, tư duy khoa học 253, toán 248 và tiếng Việt 227 - chia sẻ thêm rằng phần thi tiếng Việt đặc biệt thử thách ở những câu hỏi về kiến thức, nhất là kiến thức tích lũy từ các lớp dưới chứ không phải trọng tâm giảng dạy ở chương trình học lớp 12. Nam sinh học lớp 12 ở Trường THPT Phú Nhuận (TP.HCM) kể sẽ tiếp tục dự thi đợt 2 tổ chức vào tháng 5 tới để cải thiện điểm số.
Trong khi đó, T., một thí sinh tại TP.HCM, cho biết đa phần các bạn chung lớp đều có điểm tiếng Việt là điểm thấp nhất. "Riêng em có kết quả tiếng Việt cao hơn các phần khác", nam sinh đạt 283 điểm tiếng Việt và tổng điểm 1.043 chia sẻ.
Chia sẻ góc nhìn khác, thầy Lê Văn Minh (KST), giáo viên luyện thi V-ACT tại Trung tâm Alpha (TP.Đà Lạt), cho biết không chỉ mới đây mà từ lâu thầy đã trăn trở về vấn đề sử dụng tiếng Việt ở học sinh THCS, THPT. "Tôi nhận ra càng về sau, các bạn càng bị 'hạn chế' về năng lực và cách sử dụng ngôn ngữ Việt. Ngoài đời sống thực tế cũng vậy chứ không riêng gì trong các bài thi mang tính học thuật như V-ACT", thầy Minh nói.
Nam giáo viên cũng thông tin hầu hết học sinh trong khóa thầy đứng lớp đều có điểm tiếng Anh cao hơn tiếng Việt.
"Tôi thật sự buồn vì lẽ ra tiếng Việt nên là phần kiến thức khiến các bạn cảm thấy hứng thú thay vì vô tình trở thành rào cản", thầy Minh bộc bạch.
Để cải thiện, thầy Minh chia sẻ trong mỗi lần soạn đề đều cố gắng đưa ngữ liệu về việc bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt để nhắc nhở học sinh. Ngoài ra, thầy còn khuyến khích các bạn trau dồi vốn từ ngữ thông qua việc chăm chỉ đọc, xem thơ ca, truyện, kịch...
"Tôi chỉ hy vọng thay đổi được góc nhìn của một vài bạn thôi là vui lắm rồi", thầy nói.
Trước đó, Thanh Niên từng đăng tải loạt bài về việc một bộ phận người trẻ dùng tiếng Việt một cách méo mó, lệch chuẩn, từ sử dụng "teencode" hoặc những từ nửa Anh nửa Việt cho tới nói năng những cụm vô nghĩa như "tung tung tung sahur", "tralalero tralala"... Điều này trải rộng từ học sinh tiểu học, THCS, THPT đến sinh viên ĐH.
"Thoạt nghe tưởng là vui vẻ, hài hước nhưng lâu dài tạo thành thói quen, các con quên mất luôn từ thông dụng vẫn hay dùng trong tiếng Việt hằng ngày", cô Nguyễn Thị Phương Đài, giáo viên Trường tiểu học Trần Khánh Dư (P.Tân Định, TP.HCM), chia sẻ với Thanh Niên hồi cuối năm 2025. "Tôi nhận thấy càng ngày, kỹ năng diễn đạt thành câu văn, bài văn của nhiều học sinh càng kém đi vì bây giờ nhiều bạn chỉ xem video ngắn", cô Đài nói thêm.
Nội dung nằm trong chỉ thị của Thủ tướng ngày 18/5 về việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, giáo dục nghề nghiệp năm 2026.
Thủ tướng đánh giá kỳ thi những năm qua ngày càng nghiêm túc, cơ bản đáp ứng được mục tiêu đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông và yêu cầu tuyển sinh, nhưng vẫn còn hạn chế. Cụ thể, với tuyển sinh có hiện tượng tuyển vượt quá quy định đảm bảo chất lượng. Việc quy đổi điểm ở một số trường còn bất hợp lý.
Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tỉnh, thành có kế hoạch, phương án tổ chức kỳ thi, tuyển sinh và phân công nhiệm vụ theo tinh thần đảm bảo 6 rõ: rõ người, rõ việc, thời gian, trách nhiệm, sản phẩm và thẩm quyền để lãnh đạo.
Việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT cần giảm áp lực, chi phí, đảm bảo độ tin cậy để các trường đại học, cao đẳng sử dụng trong tuyển sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo phải xây dựng đề thi đảm bảo chất lượng, bảo mật, có độ phân hóa phù hợp. Đồng thời, Bộ chỉ đạo các cơ sở đào tạo công bố phương thức và tuyển sinh bảo đảm thống nhất, công bằng, khách quan theo hướng đánh giá đúng năng lực của người học, bảo đảm kiểm soát thống nhất chất lượng đầu vào, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số".
Trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố một số thay đổi trong tuyển sinh nhằm tăng chất lượng đầu vào. Như với xét học bạ, các trường cần lấy điểm trung bình chung 6 học kỳ của tối thiểu ba môn, bắt buộc có Toán hoặc Văn với trọng số tính điểm xét không thấp hơn 10/30. Đồng thời, thí sinh phải có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp (theo tổ hợp hoặc Toán, Văn và một môn khác) tối thiểu là 15/30. Năm ngoái, Bộ chỉ yêu cầu xét điểm cả năm lớp 12 với trọng số tối thiểu 25%.
Bộ cũng siết việc xét điểm cộng và quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ. Trong đó, điểm khuyến khích với chứng chỉ quốc tế tối đa là 1,5, giảm một nửa so với năm ngoái. Nếu quy đổi chứng chỉ, các trường phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch, đã quy đổi thì không cộng điểm khuyến khích.
Ngoài ra, Bộ siết số lượng nguyện vọng của thí sinh (còn 15 thay vì không giới hạn), số phương thức xét tuyển của các trường (tối đa 5).
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay diễn ra ngày 11-12/6. Thí sinh biết điểm vào ngày 1/7 và đăng ký, điều chỉnh nguyện vọng đại học từ ngày 2/7 đến 17h ngày 14/7. Thí sinh biết kết quả đỗ - trượt từ 17h ngày 9/8 đến 13/8.
Danh sách do Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, công bố cho thấy trong số này có khoảng 2.500 chương trình từ 192 trường đạt tiêu chuẩn trong nước.
Số còn lại của 66 đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định của các tổ chức nước ngoài, như AUN-QA (Mạng lưới Đảm bảo chất lượng các trường đại học ASEAN), HCERES (Hội đồng cấp cao về đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp), ABET (Hội đồng Kiểm định Kỹ thuật và Công nghệ Mỹ), FIBAA (Quỹ Kiểm định các chương trình Quản trị kinh doanh quốc tế)...
Theo nghị định của Chính phủ về học phí, mức trần (mức cao nhất được thu) năm học 2026-2027 là 1,71 đến 3,5 triệu đồng mỗi tháng, áp dụng với các trường công chưa tự chủ. Nhóm tự chủ, tùy mức độ có thể thu học phí cao hơn trần 2-2,5 lần.
Với chương trình đạt kiểm định, các trường được tự quyết học phí.
Ngoài chương trình đào tạo, Bộ cũng cập nhật danh sách 17 trường đạt tiêu chuẩn kiểm định nước ngoài, không tăng so với năm ngoái. Số cơ sở đạt tiêu chuẩn của các tổ chức kiểm định trong nước là 206 đại học và 12 cao đẳng sư phạm.
Theo Luật giáo dục đại học, việc kiểm định là bắt buộc và định kỳ, nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Các trường có thể chọn tổ chức kiểm định, trong danh mục được cấp phép (gồm 13 tổ chức nước ngoài, 8 trong nước). Mỗi tổ chức có tiêu chí đánh giá, trọng số và chi phí khác nhau.
Cả nước hiện có khoảng 240 cơ sở giáo dục đại học. Thông thường, mỗi trường có vài chục chương trình đào tạo, một số ít lên tới hàng trăm. Số chương trình đạt kiểm định, được thu học phí vượt trần đều tăng hàng năm.