Theo ông Nguyễn Tân Thịnh – Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), quá trình xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư do sáp nhập đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy được chia thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu là trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan, đơn vị phải tiến hành kiểm kê, rà soát toàn bộ tài sản, xây dựng phương án đối với từng cơ sở nhà, đất, xác định cơ sở nào tiếp tục sử dụng, cơ sở nào điều chuyển, chuyển giao hoặc xử lý theo hình thức khác.
Giai đoạn thứ hai là khi bộ máy mới bắt đầu vận hành. Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm cơ sở vật chất để chính quyền hoạt động thông suốt, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính.
“Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn 3, tức là tiếp tục rà soát lại toàn bộ tài sản sau sắp xếp. Những tài sản tiếp tục sử dụng thì phải rà soát theo quy định về tiêu chuẩn, định mức. Còn những cơ sở dôi dư thì phải xử lý và đưa vào khai thác”, ông Thịnh cho biết.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, 2 giai đoạn đầu đã được thực hiện thành công. Trong giai đoạn 3, việc xử lý tiếp tục được chia thành 2 bước. Bước thứ nhất là xử lý theo quy định của pháp luật về tài sản công, xác định tài sản nào giữ lại, tài sản nào thanh lý, điều chuyển, chuyển giao về địa phương hoặc thu hồi. Đến nay, 34/34 địa phương đã hoàn thành bước này.
Tuy nhiên, nhiều cơ sở sau khi hoàn thành bước một vẫn phải tiếp tục xử lý ở bước hai mới có thể đưa vào khai thác và xử lý triệt để. Có những cơ sở được chuyển sang làm trạm y tế nên có thể sử dụng ngay. Nhưng cũng có những cơ sở sau khi thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương thì địa phương phải tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất, cho thuê nhà, chuyển đổi công năng hoặc bố trí cho mục đích sử dụng khác. Theo ông Thịnh, đây chính là phần việc cần tập trung xử lý trong thời gian tới.
Theo báo cáo của các địa phương đến ngày 27/4, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý là 11.396 cơ sở. Trong đó, 9.228 cơ sở do địa phương quyết định thu hồi, chuyển giao và 2.168 cơ sở do các cơ quan Trung ương chuyển giao về địa phương.
Đến nay, có 5.065 cơ sở hoàn thành xử lý hoặc được đưa vào khai thác. Như vậy, còn 6.331 cơ sở tiếp tục phải xử lý hoặc khai thác, trong đó 2.585 cơ sở đã có phương án xử lý, khai thác, còn 3.746 cơ sở chưa có phương án.
Theo ông Nguyễn Tân Thịnh, cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn của Trung ương đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Tuy nhiên, kết quả xử lý giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt đáng kể. Cùng một khuôn khổ pháp lý nhưng có địa phương xử lý rất nhanh, có địa phương vẫn còn nhiều cơ sở tồn đọng, kể cả các địa phương có điều kiện tương đồng. Điều đó cho thấy yếu tố quyết định nằm ở cách tổ chức thực hiện.
Theo ông Thịnh, bên cạnh những khó khăn khách quan, thực tế triển khai tại các địa phương cũng phát sinh nhiều tình huống khác nhau. Có địa phương chỉ dôi dư vài chục hoặc vài trăm cơ sở, nhưng cũng có nơi dôi dư tới hàng nghìn cơ sở. Có nơi điều kiện thị trường thuận lợi, nhưng cũng có địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa nên việc khai thác hoặc cho thuê tài sản gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, một số nơi còn lúng túng trong quá trình vận hành thực tế. Có những đơn vị ban đầu muốn sử dụng các trụ sở lớn, khang trang của huyện hoặc tỉnh cũ, nhưng khi đi vào hoạt động mới phát sinh chi phí vận hành lớn, vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế. Có nơi tập trung toàn bộ cơ sở nhà, đất dôi dư để cấp xã xử lý nhưng chưa tính đến khả năng thực hiện của từng địa phương.
Bên cạnh đó còn có những khó khăn do lịch sử sử dụng nhà, đất để lại như bị lấn chiếm, thiếu hồ sơ pháp lý hoặc tài sản được xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác nên việc xử lý cần thêm thời gian.
Đánh giá về kết quả xử lý thời gian qua, ông Nguyễn Tân Thịnh cho biết một số địa phương như Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội có cách làm khá hiệu quả.
Theo ông, điểm chung của các địa phương này là có sự vào cuộc rất quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và huy động được cả hệ thống chính trị tham gia. “Xử lý tài sản công không phải riêng ngành tài chính làm được, mà liên quan tới quy hoạch, đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế… nên phải có nhiều cơ quan cùng phối hợp”, ông Thịnh nói.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, cách làm hiệu quả hiện nay là Sở Tài chính chủ trì, phối hợp cùng các sở, ngành xuống tận xã hoặc cụm xã để rà soát từng cơ sở cụ thể.
Các đơn vị cùng trao đổi, thống nhất phương án xử lý đối với từng cơ sở: cơ sở nào chuyển sang trường học, cơ sở nào phục vụ y tế, cơ sở nào làm nhà ở tái định cư, vườn hoa, công viên hoặc phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời xác định rõ hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục triển khai.
“Nhiều lãnh đạo địa phương vào cuộc rất sát. Có nơi lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp xuống hiện trường, xem bản đồ, kiểm tra thực tế rồi quyết định ngay phương án tại hiện trường nên tiến độ xử lý rất nhanh”, ông Thịnh cho biết.
Theo ông, các địa phương làm tốt còn rất linh hoạt trong chuyển đổi công năng. Những cơ sở gần trường học được ưu tiên phục vụ giáo dục; gần cơ sở y tế được chuyển sang phục vụ y tế.
Có nơi phá dỡ công trình cũ để làm công viên, sân chơi công cộng hoặc mở rộng hạ tầng hiện có, đáp ứng yêu cầu ưu tiên bố trí, sắp xếp nhà, đất dôi dư cho giáo dục, y tế, thể dục thể thao và các mục đích công cộng khác.
“Quảng Ninh thậm chí còn tận dụng một số cơ sở làm nơi giới thiệu sản phẩm địa phương hoặc bố trí nhà ở tái định cư phục vụ các dự án. Khi địa phương chủ động, linh hoạt thì tốc độ xử lý sẽ nhanh hơn rất nhiều”, ông Thịnh cho biết.
Ông Nguyễn Tân Thịnh cho rằng, cơ chế hiện hành về cơ bản vẫn đủ để xử lý tài sản công trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đợt sắp xếp lần này có đặc điểm khác biệt là số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư phát sinh rất lớn trong thời gian ngắn, trong khi yêu cầu đặt ra là phải xử lý nhanh.
Kết luận số 27 của Ban Bí thư về tình hình chủ yếu các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026 đã nêu rõ yêu cầu hoàn thành việc xử lý, sắp xếp, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư trong quý II/2026.
Trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết đặc thù về cơ chế đẩy nhanh tiến độ khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư để trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Tinh thần xuyên suốt của dự thảo là tăng phân cấp, rút ngắn thủ tục, đơn giản hóa quy trình nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quản lý chặt chẽ tài sản công. Định hướng mới không chỉ tập trung vào bảo toàn tài sản trên hồ sơ mà đặt trọng tâm vào hiệu quả khai thác thực tế và khả năng nhanh chóng đưa tài sản quay trở lại phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế cho thuê tài sản công theo hướng linh hoạt hơn. Bộ Tài chính đề xuất đơn giản hóa việc xác định giá cho thuê, không bắt buộc thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định phức tạp như hiện nay; đồng thời phân cấp cho đơn vị quản lý nhà hoặc Chủ tịch UBND cấp xã quyết định giá thuê trong một số trường hợp.
Trường hợp đấu giá không thành, địa phương có thể điều chỉnh giảm giá để sớm đưa tài sản vào khai thác thay vì tiếp tục để trống kéo dài. Với các cơ sở nhà, đất được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương khai thác, Bộ Tài chính đề nghị thực hiện theo hướng “làm đến đâu ban hành giá cho thuê đến đó”, không chờ hoàn thiện đồng bộ toàn bộ cơ chế.
Dự thảo cũng cho phép bên thuê được chủ động cải tạo, sửa chữa tài sản phục vụ nhu cầu sử dụng nếu không ảnh hưởng kết cấu công trình; chi phí do bên thuê tự chịu và có thể được xem xét kéo dài thời gian thuê trong trường hợp có đầu tư lớn.
Để rút ngắn thời gian xử lý, Bộ Tài chính đề xuất cho phép chuyển giao nhà, đất theo nguyên trạng, kể cả khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện hoặc tài sản đang bị lấn chiếm. Các tồn tại liên quan sẽ tiếp tục được xử lý trong quá trình quản lý sau đó thay vì phải hoàn tất toàn bộ hồ sơ mới được bàn giao.
Tuần qua, thị trường cà phê thế giới biến động chưa từng thấy khi có đến 2 phiên tăng dựng đứng và 3 phiên giảm sâu xen kẽ. Kết quả, giá cà phê robusta tăng 136 USD/tấn và arabica tăng đến 727 USD/tấn. Tại VN, cà phê Tây nguyên có giá dao động quanh mức 95.500 đồng/kg, tăng khoảng 2.500 đồng/kg so với tuần trước đó. Đây là mức giá cao nhất trong nhiều tháng qua nên các nhà vườn đã bán bớt một phần lượng hàng dự trữ để tái đầu tư. Đáng chú ý, cà phê của VN có chứng nhận EU về chống phá rừng (EUDR) xuất vào EU hiện cao hơn thị trường đến 50 USD/tấn.
Trong khi thế giới vẫn đang quay cuồng trong "cơn bão giá" cà phê những ngày qua thì ông Đỗ Hà Nam, Phó chủ tịch Hiệp hội Cà phê - ca cao VN (VICOFA), lại khá ung dung. Lý do là một phần với kinh nghiệm của doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực này, sau 2 năm (2024 - 2025) sốt giá cà phê thì chuyện hạ nhiệt trong nửa đầu năm nay theo ông là bình thường. Nhưng điều quan trọng hơn, giai đoạn sắp tới sẽ là cơ hội vàng với cà phê VN.
Ông Nam phân tích: Theo kế hoạch, từ ngày 1.1.2027, EU sẽ chính thức áp dụng quy định chống phá rừng (EUDR). Quy định này đúng ra đã được áp dụng từ ngày 1.1.2025, nhưng do một số nước chưa có sự chuẩn bị tốt nên bị trì hoãn. Đến thời điểm này, VN vẫn là nguồn cung tuân thủ quy định này nghiêm túc nhất. Chính vì vậy, sắp tới khi EUDR đi vào thực thi, cà phê VN sẽ được đặt vào vị thế "một mình một chợ".
"Ngay thời điểm này, chúng tôi xuất khẩu cà phê có chứng nhận EUDR vào EU với giá cao hơn thị trường 50 USD/tấn. Khi quy định chính thức có hiệu lực, cơ hội của ngành cà phê VN là rất lớn", ông Đỗ Hà Nam cho biết.
Ông Thái Anh Tuấn, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV XNK 2.9 Đắk Lắk (Simexco DakLak), cũng bày tỏ sự lạc quan vì dù châu Âu chưa chính thức áp dụng nhưng nhiều khách hàng ở thị trường này vẫn đang nhập các sản phẩm cà phê có EUDR. Thông qua phần mềm, khách hàng có thể truy xuất nguồn gốc cà phê đến tận vùng trồng.
"Chúng tôi đã áp dụng quy định này khi EU mới bắt đầu triển khai và hiện tại đang sẵn sàng thực hiện. Tính đến cuối năm 2026, doanh nghiệp đã phối hợp với Sở NN-MT tỉnh xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng với 20.000 hộ dân. Ngoài việc tuân thủ tiêu chuẩn EUDR ở châu Âu, doanh nghiệp cũng đang đẩy mạnh chế biến sâu để nâng cao giá trị sản phẩm. EU là thị trường lớn nhất của VN nói chung và Simexco DakLak nói riêng nên chúng tôi hoàn toàn tự tin", ông Tuấn nói.
Mặc dù đang đứng trước triển vọng tăng giá nhưng tỷ trọng cà phê VN tại thị trường châu Âu vẫn còn rất khiêm tốn. Số liệu từ Liên đoàn Cà phê châu Âu (European Coffee Federation - ECF) cho biết, quy mô toàn bộ chuỗi giá trị ngành cà phê của EU+ (gồm EU và Vương quốc Anh, Na Uy và Thụy Sĩ) đạt gần 667 tỉ USD. Trong khi đó năm 2025, xuất khẩu cà phê của VN sang EU đạt khoảng 666.000 tấn, trị giá 3,6 tỉ USD. EU chiếm gần 41% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước. Điều này cho thấy dư địa của cà phê VN tại thị trường EU vẫn còn rất lớn. Chúng ta vừa có thể tăng số lượng, vừa tăng giá trị thông qua việc nâng cao chất lượng, chế biến sâu, bao bì mẫu mã sản phẩm.
Không chỉ cà phê mà sản xuất xanh trở thành xu thế tất yếu với hầu hết các thị trường và các loại nông sản nói chung. Đơn cử với EU, ngoài quy định EUDR với cà phê thì còn có IUU (chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định) với thủy sản. Các thị trường quan trọng khác như Mỹ và Trung Quốc cũng có những quy định tương tự với một số mặt hàng nông lâm thủy sản. Ở góc độ nguồn cung, VN cũng đã tích cực tuân thủ các quy định trên một cách tốt nhất. Ngoài ra, chúng ta cũng đang chủ động xây dựng các tiêu chuẩn xanh cho một số mặt hàng chiến lược của mình như gạo phát thải thấp bằng đề án 1 triệu hecta. Đây chính là tấm "hộ chiếu xanh" để nông sản Việt dễ dàng xâm nhập sâu vào thị trường quốc tế.
Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả VN (VINAFRUIT), cho biết dù rau quả VN không nằm trong nhóm các loại nông sản bị quy định EUDR điều chỉnh nhưng với xu hướng mở rộng phạm vi áp dụng thì chúng ta cũng phải chủ động chuẩn bị. Vì hiện nay xu hướng "tiêu dùng xanh" tại EU đang phát triển mạnh và đòi hỏi hàng hóa phải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường và sức khỏe.
"EU liên tục rà soát và thắt chặt hạn mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật MRLs. Chỉ cần một lô hàng bị phát hiện vượt ngưỡng, toàn bộ chuỗi xuất khẩu của doanh nghiệp, thậm chí là quốc gia, sẽ bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt. Trong khi đó, người tiêu dùng EU chuộng các sản phẩm có bao bì tự hủy sinh học, quy trình canh tác tiết kiệm nước, giảm phát thải nhà kính. Nông sản của chúng ta chỉ có thể bán vào các chuỗi siêu thị lớn của EU với các chứng nhận như GlobalGAP, Organic (hữu cơ), hay Smeta (trách nhiệm xã hội); nếu không sẽ chỉ bán được ở các chợ đầu mối của một số nước trong khu vực", ông Đặng Phúc Nguyên nói thẳng.
Theo Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả VN, với xu hướng khí hậu biến đổi như hiện nay và với việc châu Âu ngày càng nóng thì những nhóm trái cây giàu nước, có khả năng giải nhiệt sẽ là những sản phẩm tăng trưởng tốt. Cụ thể như chanh dây (chanh leo) là một trong những loại trái cây nhiệt đới tăng trưởng mạnh nhất tại EU. Người tiêu dùng rất thích sử dụng làm nước giải khát, pha chế cocktail hoặc làm kem, sữa chua. EU đã nhập khẩu mạnh cả quả tươi lẫn nước cốt chanh dây đông lạnh (puree). Bên cạnh đó là nhiều loại rau quả nhiệt đới khác như thanh long, chanh không hạt, dừa tươi… Ngoài các sản phẩm tươi sống, thị trường châu Âu và các nước phát triển khác như Mỹ, Hàn Quốc rất ưa chuộng những sản phẩm chế biến sẵn và có tính tiện dụng cao như xoài cắt hạt lựu, chanh dây viên đông lạnh, dứa cấp đông... Khách mua về chỉ cần xay với sữa hoặc làm kem là có ngay món giải nhiệt, không lo bị hỏng. Doanh nghiệp phải nắm bắt được xu hướng thị trường để đẩy mạnh bán hàng vào các quốc gia này.
Chuyến tàu khách liên vận quốc tế Hà Nội - Đồng Đăng (Lạng Sơn) - Nam Ninh (Trung Quốc) được Tổng công ty Đường sắt VN (VNR) chính thức khôi phục từ tháng 5.2025, sau 5 năm gián đoạn vì đại dịch Covid-19. Sau gần 1 năm vận hành trở lại, tuyến tàu đã phục vụ hơn 25.000 lượt khách, riêng 3 tháng đầu năm nay đạt hơn 4.800 lượt khách.
Sau khi đến Nam Ninh, hành khách có thể tiếp tục hành trình tới các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Quảng Châu hay Thâm Quyến nhờ mạng lưới tàu cao tốc hiện đại của nước này, hoặc nối chuyến sang nước thứ 3. Ngành đường sắt hai nước cũng đã tổ chức chạy thẳng tàu từ ga Gia Lâm đến ga Bắc Kinh và ngược lại, với 2 chuyến tàu mỗi tuần xuất phát từ Hà Nội vào tối thứ ba, thứ sáu hằng tuần và đến ga Bắc Kinh Tây vào thứ năm, chủ nhật hằng tuần.
Với đường biên giới dài, hoạt động giao thương, du lịch qua các khu vực cửa khẩu giữa VN và Trung Quốc rất sôi động. Ngoài du lịch đường bộ, đường sắt trở thành phương tiện lựa chọn cho nhiều hành khách Trung Quốc sang VN sau khi nối lại tuyến liên vận. Trung Quốc hiện là thị trường khách du lịch lớn nhất tới VN với 1,4 triệu lượt khách trong quý 1/2026.
Đặc biệt, với lượng hàng hóa xuất nhập khẩu rất lớn, các tuyến đường sắt liên vận quốc tế vận chuyển hàng hóa đang hoạt động hết công suất, như tuyến liên vận từ ga Kép (Bắc Giang cũ, nay là Bắc Ninh) đến Đồng Đăng (Lạng Sơn) để kết nối qua Trung Quốc. Tuyến liên vận từ ga Cao Xá (Hải Dương cũ, nay là Hải Phòng) đi Đồng Đăng - Bằng Tường (Quảng Tây, Trung Quốc) đi sâu vào nội địa Trung Quốc hoặc quá cảnh sang các nước Trung Á, Nga, EU.
Chia sẻ với Thanh Niên, ông Hoàng Gia Khánh, Tổng giám đốc VNR, cho biết các tuyến liên vận quốc tế từ nội địa VN quá cảnh sang Trung Quốc chỉ theo 2 hướng: từ Hà Nội - Đồng Đăng sang Bằng Tường, hoặc Hà Nội - Lào Cai sang Hà Khẩu. Tuy nhiên, hạ tầng đang là nút thắt lớn nhất do khổ đường sắt không tương thích. Hiện chỉ có tuyến Đồng Đăng - Bằng Tường kết nối thẳng (nhờ chung khổ đường sắt 1.435 mm), trong khi các tuyến kết nối khác phải đổi tàu vận chuyển do đường sắt phía VN là khổ 1.000 mm, phía Trung Quốc là khổ 1.435 mm.
Tuy nhiên, hạn chế kết nối do hạ tầng sẽ được khắc phục trong tương lai gần. Tín hiệu vui là cuối tháng 12.2025, dự án đầu tư tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng đã chính thức khởi công thành phần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, đánh dấu bước khởi động của dự án đường sắt được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho hành lang kinh tế phía bắc kết nối Trung Quốc. Theo quy hoạch được Quốc hội phê duyệt, tuyến đường sắt này dài gần 391 km, nối từ Lào Cai đến ga Lạch Huyện (Hải Phòng), được đầu tư theo tiêu chuẩn điện khí hóa, khổ 1.435 mm, tốc độ thiết kế tối đa 160 km/giờ.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã cùng chứng kiến lễ ký kết hai văn kiện trong lĩnh vực hợp tác đường sắt, gồm giấy chứng nhận bàn giao kết quả dự án viện trợ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và bản ghi nhớ về hợp tác đào tạo nhằm nâng cao năng lực nguồn nhân lực đường sắt VN.
Thông tin với báo chí sau chuyến đi, Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết, việc tiếp nhận báo cáo nghiên cứu khả thi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở để hai bên triển khai đàm phán, ký kết các hiệp định như Hiệp định xây dựng công trình cầu đường sắt qua biên giới giữa ga Lào Cai và ga Hà Khẩu Bắc, Hiệp định vay vốn cho dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Phía VN cũng sẽ tiến hành thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư theo quy định, làm cơ sở lựa chọn nhà thầu, phấn đấu khởi công tuyến vào cuối năm 2026.
Bộ Xây dựng cũng đang thúc đẩy triển khai các tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội, Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng kết nối với phía Trung Quốc. Trong đó, ưu tiên hoàn thành sớm quy hoạch tuyến đường sắt Đồng Đăng - Hà Nội, làm cơ sở lập và hoàn thành báo cáo nghiên cứu tiền khả thi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án giai đoạn 2026 - 2027 để sớm khởi công xây dựng.
Theo Cục Đường sắt VN, việc đầu tư 3 tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn và Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái sẽ tạo kết nối liền mạch giữa hệ thống đường sắt hai nước. Đặc biệt, cả 3 tuyến đều có thể mở rộng kết nối tới châu Âu, thúc đẩy các đoàn tàu liên vận Việt - Trung - châu Âu. Với tốc độ trung bình
160 km/giờ và hệ thống đường ray khổ đôi được đầu tư mới, không chỉ hiện đại hóa mạng lưới đường sắt VN mà còn thúc đẩy kết nối với mạng lưới giao thông đường sắt ASEAN.
Còn theo lãnh đạo Bộ Xây dựng, hợp tác đường sắt với Trung Quốc sẽ mở ra không gian phát triển mới, tạo thuận lợi cho thương mại, đầu tư, thúc đẩy liên kết kinh tế và giao lưu nhân dân giữa hai nước; đặc biệt là phát triển hoạt động vận tải hàng hóa liên vận quốc tế bằng đường sắt qua Trung Quốc và quá cảnh Trung Quốc sang các nước thứ 3 như các nước EU, Nga, Mông Cổ, các nước Trung Á…
Chiến lược phát triển đường sắt VN đến năm 2030, tầm nhìn 2050 tập trung hiện đại hóa mạng lưới, ưu tiên đường sắt tốc độ cao và các tuyến kết nối liên vùng, quốc tế, đồng thời đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và phát triển công nghiệp đường sắt trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Với tốc độ phát triển đường sắt hàng đầu thế giới cả về quy mô và công nghệ, Trung Quốc sẽ hỗ trợ VN tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản lý, vận hành và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ hiện đại trong lĩnh vực đường sắt.
"Đây là yếu tố nền tảng, tạo tiền đề quan trọng để phát triển ngành công nghiệp đường sắt trong nước, bao gồm lắp ráp, bảo trì thiết bị, từng bước sản xuất linh kiện, thiết bị, tiến tới tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu", Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết.
Theo dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế 2025 do Bộ Tài chính trình đang được Bộ Tư pháp thẩm định, bổ sung cơ chế xử lý mạnh hơn với doanh nghiệp chây ì nghĩa vụ thuế hoặc ngừng hoạt động nhưng không hoàn tất thủ tục pháp lý.
Theo dự thảo, doanh nghiệp, hợp tác xã có thể bị cơ quan thuế yêu cầu mở thủ tục phá sản trong hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất là không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 3 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Đồng thời, doanh nghiệp không thực hiện thủ tục xin khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Trường hợp thứ hai là doanh nghiệp thuộc diện bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. Dù cơ quan thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác trong thời gian từ 3 năm trở lên, khoản nợ thuế vẫn không thể thu hồi.
Quy định mới hướng tới nhóm doanh nghiệp ngừng hoạt động thực tế nhưng chưa hoàn tất thủ tục giải thể hoặc chấm dứt hiệu lực pháp lý liên quan đến thuế. Đây là nhóm tồn tại phổ biến nhiều năm qua, gây khó khăn cho công tác quản lý người nộp thuế và xử lý nợ đọng ngân sách.
Dự thảo cũng quy định rõ nguyên tắc kiểm tra thuế theo Luật Quản lý thuế 2025. Theo khoản 1 Điều 22, cơ quan quản lý thuế phải áp dụng quản lý rủi ro và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra.
Việc kiểm tra được định hướng ưu tiên thực hiện trực tuyến, từ xa trên dữ liệu điện tử. Cơ quan thuế phải bảo đảm không cản trở hoạt động bình thường của người nộp thuế trong quá trình kiểm tra.
Nội dung kiểm tra tập trung đánh giá tính đầy đủ, chính xác, trung thực của việc kê khai, nộp thuế và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp. Hoạt động kiểm tra không được trùng lặp về nội dung, phạm vi và thời gian với cơ quan thanh tra, kiểm tra hoặc Kiểm toán Nhà nước, trừ trường hợp xuất hiện dấu hiệu vi phạm cần kiểm tra lại.
Với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, cơ quan thuế sẽ kiểm tra việc xác định giá giao dịch theo nguyên tắc giao dịch độc lập và dựa trên bản chất kinh tế của hoạt động phát sinh. Các giao dịch liên kết làm giảm nghĩa vụ thuế nhưng không đúng nguyên tắc độc lập sẽ không được công nhận khi xác định nghĩa vụ thuế.
Theo các chuyên gia, chính sách này cần được tuyên truyền rộng rãi nhằm đánh động đến những người nộp thuế khác biết và nhanh chóng hoàn thành nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước. Nếu không họ cũng chịu chung số phận như những người nộp thuế bị tòa án tuyên bố phá sản.
Theo thống kê, hiện tổng số người nộp thuế ở trạng thái không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký có nợ thuế khoảng 963.500 trường hợp, gồm 325.500 doanh nghiệp và 638.000 hộ kinh doanh.