Theo ông Nguyễn Tân Thịnh – Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính), quá trình xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư do sáp nhập đơn vị hành chính và tinh gọn bộ máy được chia thành 3 giai đoạn.
Giai đoạn đầu là trước khi sắp xếp tổ chức bộ máy, các cơ quan, đơn vị phải tiến hành kiểm kê, rà soát toàn bộ tài sản, xây dựng phương án đối với từng cơ sở nhà, đất, xác định cơ sở nào tiếp tục sử dụng, cơ sở nào điều chuyển, chuyển giao hoặc xử lý theo hình thức khác.
Giai đoạn thứ hai là khi bộ máy mới bắt đầu vận hành. Yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm cơ sở vật chất để chính quyền hoạt động thông suốt, cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính.
“Hiện nay, chúng ta đang ở giai đoạn 3, tức là tiếp tục rà soát lại toàn bộ tài sản sau sắp xếp. Những tài sản tiếp tục sử dụng thì phải rà soát theo quy định về tiêu chuẩn, định mức. Còn những cơ sở dôi dư thì phải xử lý và đưa vào khai thác”, ông Thịnh cho biết.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, 2 giai đoạn đầu đã được thực hiện thành công. Trong giai đoạn 3, việc xử lý tiếp tục được chia thành 2 bước. Bước thứ nhất là xử lý theo quy định của pháp luật về tài sản công, xác định tài sản nào giữ lại, tài sản nào thanh lý, điều chuyển, chuyển giao về địa phương hoặc thu hồi. Đến nay, 34/34 địa phương đã hoàn thành bước này.
Tuy nhiên, nhiều cơ sở sau khi hoàn thành bước một vẫn phải tiếp tục xử lý ở bước hai mới có thể đưa vào khai thác và xử lý triệt để. Có những cơ sở được chuyển sang làm trạm y tế nên có thể sử dụng ngay. Nhưng cũng có những cơ sở sau khi thu hồi hoặc chuyển giao về địa phương thì địa phương phải tiếp tục thực hiện các thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất, cho thuê nhà, chuyển đổi công năng hoặc bố trí cho mục đích sử dụng khác. Theo ông Thịnh, đây chính là phần việc cần tập trung xử lý trong thời gian tới.
Theo báo cáo của các địa phương đến ngày 27/4, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư đã được thu hồi, chuyển giao về địa phương quản lý, xử lý là 11.396 cơ sở. Trong đó, 9.228 cơ sở do địa phương quyết định thu hồi, chuyển giao và 2.168 cơ sở do các cơ quan Trung ương chuyển giao về địa phương.
Đến nay, có 5.065 cơ sở hoàn thành xử lý hoặc được đưa vào khai thác. Như vậy, còn 6.331 cơ sở tiếp tục phải xử lý hoặc khai thác, trong đó 2.585 cơ sở đã có phương án xử lý, khai thác, còn 3.746 cơ sở chưa có phương án.
Theo ông Nguyễn Tân Thịnh, cơ chế, chính sách và các văn bản hướng dẫn của Trung ương đã được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với mô hình tổ chức mới.
Tuy nhiên, kết quả xử lý giữa các địa phương vẫn có sự khác biệt đáng kể. Cùng một khuôn khổ pháp lý nhưng có địa phương xử lý rất nhanh, có địa phương vẫn còn nhiều cơ sở tồn đọng, kể cả các địa phương có điều kiện tương đồng. Điều đó cho thấy yếu tố quyết định nằm ở cách tổ chức thực hiện.
Theo ông Thịnh, bên cạnh những khó khăn khách quan, thực tế triển khai tại các địa phương cũng phát sinh nhiều tình huống khác nhau. Có địa phương chỉ dôi dư vài chục hoặc vài trăm cơ sở, nhưng cũng có nơi dôi dư tới hàng nghìn cơ sở. Có nơi điều kiện thị trường thuận lợi, nhưng cũng có địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa nên việc khai thác hoặc cho thuê tài sản gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, một số nơi còn lúng túng trong quá trình vận hành thực tế. Có những đơn vị ban đầu muốn sử dụng các trụ sở lớn, khang trang của huyện hoặc tỉnh cũ, nhưng khi đi vào hoạt động mới phát sinh chi phí vận hành lớn, vượt quá nhu cầu sử dụng thực tế. Có nơi tập trung toàn bộ cơ sở nhà, đất dôi dư để cấp xã xử lý nhưng chưa tính đến khả năng thực hiện của từng địa phương.
Bên cạnh đó còn có những khó khăn do lịch sử sử dụng nhà, đất để lại như bị lấn chiếm, thiếu hồ sơ pháp lý hoặc tài sản được xây dựng trên đất của tổ chức, cá nhân khác nên việc xử lý cần thêm thời gian.
Đánh giá về kết quả xử lý thời gian qua, ông Nguyễn Tân Thịnh cho biết một số địa phương như Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội có cách làm khá hiệu quả.
Theo ông, điểm chung của các địa phương này là có sự vào cuộc rất quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương và huy động được cả hệ thống chính trị tham gia. “Xử lý tài sản công không phải riêng ngành tài chính làm được, mà liên quan tới quy hoạch, đất đai, xây dựng, giáo dục, y tế… nên phải có nhiều cơ quan cùng phối hợp”, ông Thịnh nói.
Theo lãnh đạo Cục Quản lý công sản, cách làm hiệu quả hiện nay là Sở Tài chính chủ trì, phối hợp cùng các sở, ngành xuống tận xã hoặc cụm xã để rà soát từng cơ sở cụ thể.
Các đơn vị cùng trao đổi, thống nhất phương án xử lý đối với từng cơ sở: cơ sở nào chuyển sang trường học, cơ sở nào phục vụ y tế, cơ sở nào làm nhà ở tái định cư, vườn hoa, công viên hoặc phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời xác định rõ hồ sơ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục triển khai.
“Nhiều lãnh đạo địa phương vào cuộc rất sát. Có nơi lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp xuống hiện trường, xem bản đồ, kiểm tra thực tế rồi quyết định ngay phương án tại hiện trường nên tiến độ xử lý rất nhanh”, ông Thịnh cho biết.
Theo ông, các địa phương làm tốt còn rất linh hoạt trong chuyển đổi công năng. Những cơ sở gần trường học được ưu tiên phục vụ giáo dục; gần cơ sở y tế được chuyển sang phục vụ y tế.
Có nơi phá dỡ công trình cũ để làm công viên, sân chơi công cộng hoặc mở rộng hạ tầng hiện có, đáp ứng yêu cầu ưu tiên bố trí, sắp xếp nhà, đất dôi dư cho giáo dục, y tế, thể dục thể thao và các mục đích công cộng khác.
“Quảng Ninh thậm chí còn tận dụng một số cơ sở làm nơi giới thiệu sản phẩm địa phương hoặc bố trí nhà ở tái định cư phục vụ các dự án. Khi địa phương chủ động, linh hoạt thì tốc độ xử lý sẽ nhanh hơn rất nhiều”, ông Thịnh cho biết.
Ông Nguyễn Tân Thịnh cho rằng, cơ chế hiện hành về cơ bản vẫn đủ để xử lý tài sản công trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, đợt sắp xếp lần này có đặc điểm khác biệt là số lượng cơ sở nhà, đất dôi dư phát sinh rất lớn trong thời gian ngắn, trong khi yêu cầu đặt ra là phải xử lý nhanh.
Kết luận số 27 của Ban Bí thư về tình hình chủ yếu các địa phương quý I, phương hướng, nhiệm vụ quý II/2026 đã nêu rõ yêu cầu hoàn thành việc xử lý, sắp xếp, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư trong quý II/2026.
Trên cơ sở tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và kiến nghị từ các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị quyết đặc thù về cơ chế đẩy nhanh tiến độ khai thác, xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư để trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Tinh thần xuyên suốt của dự thảo là tăng phân cấp, rút ngắn thủ tục, đơn giản hóa quy trình nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc quản lý chặt chẽ tài sản công. Định hướng mới không chỉ tập trung vào bảo toàn tài sản trên hồ sơ mà đặt trọng tâm vào hiệu quả khai thác thực tế và khả năng nhanh chóng đưa tài sản quay trở lại phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Một trong những nội dung đáng chú ý là cơ chế cho thuê tài sản công theo hướng linh hoạt hơn. Bộ Tài chính đề xuất đơn giản hóa việc xác định giá cho thuê, không bắt buộc thực hiện đầy đủ quy trình thẩm định phức tạp như hiện nay; đồng thời phân cấp cho đơn vị quản lý nhà hoặc Chủ tịch UBND cấp xã quyết định giá thuê trong một số trường hợp.
Trường hợp đấu giá không thành, địa phương có thể điều chỉnh giảm giá để sớm đưa tài sản vào khai thác thay vì tiếp tục để trống kéo dài. Với các cơ sở nhà, đất được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà của địa phương khai thác, Bộ Tài chính đề nghị thực hiện theo hướng “làm đến đâu ban hành giá cho thuê đến đó”, không chờ hoàn thiện đồng bộ toàn bộ cơ chế.
Dự thảo cũng cho phép bên thuê được chủ động cải tạo, sửa chữa tài sản phục vụ nhu cầu sử dụng nếu không ảnh hưởng kết cấu công trình; chi phí do bên thuê tự chịu và có thể được xem xét kéo dài thời gian thuê trong trường hợp có đầu tư lớn.
Để rút ngắn thời gian xử lý, Bộ Tài chính đề xuất cho phép chuyển giao nhà, đất theo nguyên trạng, kể cả khi hồ sơ pháp lý chưa hoàn thiện hoặc tài sản đang bị lấn chiếm. Các tồn tại liên quan sẽ tiếp tục được xử lý trong quá trình quản lý sau đó thay vì phải hoàn tất toàn bộ hồ sơ mới được bàn giao.
Trong bức tranh chung của nông nghiệp - nông thôn, xã Hồ Thị Kỷ vẫn giữ được nền tảng ổn định. Diện tích xuống giống thủy sản và sản lượng lúa vụ 2025 - 2026 đều đạt kế hoạch. Phía sau những con số cho thấy sản xuất duy trì được nhịp tăng trưởng là một quá trình chuyển động rõ nét: tái cấu trúc sản xuất để thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên và thị trường.
Năm 2025, tổng giá trị sản phẩm của xã Hồ Thị Kỷ đạt 2.066 tỉ đồng, tăng 6,99% so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, khi khu vực dịch vụ chiếm 46,42%, trong khi ngư - nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng với 41,09%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 70 triệu đồng, vượt kế hoạch đề ra. Ở lĩnh vực nông nghiệp, quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng. Diện tích lúa - tôm xuống giống đạt hơn 1.213 ha, vượt xa kế hoạch; diện tích nuôi thủy sản đạt 7.544 ha, trong đó tôm chiếm tới 7.457 ha. Sản lượng thủy sản thu hoạch đạt hơn 6.115 tấn, riêng tôm đạt 2.800 tấn.
Theo ông Trần Quốc Toàn, Chủ tịch UBND xã Hồ Thị Kỷ, việc giữ được nhịp tăng trưởng trong điều kiện chi phí đầu vào tăng và thời tiết nắng nóng kéo dài là kết quả của quá trình chủ động điều hành, bám sát thực tiễn sản xuất. "Địa phương xác định phải thích ứng sớm, không chờ khó khăn xảy ra mới xử lý. Vì vậy, việc điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển giao kỹ thuật và tăng liên kết sản xuất được triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm", ông Toàn cho biết.
Con tôm tiếp tục giữ vai trò trục chính trong phát triển nông nghiệp của xã Hồ Thị Kỷ, với khoảng 7.457 ha nuôi tôm. Trong đó có khoảng 2.000 ha nuôi quảng canh cải tiến, năng suất trên 370 kg/ha. Đồng thời, địa phương đang phối hợp với doanh nghiệp xây dựng vùng nuôi tôm đạt chứng nhận quốc tế, dự kiến triển khai từ năm 2026 với quy mô 611 ha, 224 hộ tham gia, hướng tới mở rộng 1.500 ha vào năm 2030.
Ông Toàn chia sẻ: "Chúng tôi không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng sản xuất. Khi người dân tham gia vào vùng nuôi đạt chuẩn, giá trị con tôm sẽ được nâng lên, đầu ra ổn định hơn".
Song song với chuyển đổi sản xuất, xã Hồ Thị Kỷ từng bước củng cố mô hình kinh tế tập thể. Xã hiện có 8 tổ hợp tác với tổng giá trị hợp tác 698 triệu đồng, diện tích sản xuất 107 ha, 66 thành viên; cùng với đó là 2 hợp tác xã nông nghiệp với tổng vốn điều lệ 265 triệu đồng. Việc thành lập thêm Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đê Tây với 107 thành viên trong quý 1/2026 là tín hiệu tích cực, góp phần mở rộng quy mô liên kết, nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và tăng khả năng tiếp cận thị trường.
Theo lãnh đạo xã, liên kết sản xuất là yếu tố then chốt trong giai đoạn tới. Nếu sản xuất đơn lẻ, rất khó đáp ứng yêu cầu thị trường. Khi vào hợp tác xã, người dân không chỉ được hỗ trợ kỹ thuật mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Ở góc độ phát triển sản phẩm, xã Hồ Thị Kỷ đã xây dựng 1 sản phẩm OCOP 3 sao - tôm khô Út Mau, đồng thời hỗ trợ quảng bá, kết nối tiêu thụ trong năm 2025, qua đó khẳng định hướng đi đúng trong đa dạng hóa sản phẩm, nâng giá trị và mở rộng thị trường.
Trong xây dựng nông thôn mới, dù đã đạt chuẩn từ năm 2020, địa phương tiếp tục tập trung nâng chất tiêu chí, hoàn thiện hạ tầng và huy động nguồn lực xã hội hóa. "Chúng tôi xác định xây dựng nông thôn mới không dừng lại ở đạt chuẩn, mà phải nâng chất để người dân thực sự hưởng lợi", ông Trần Quốc Toàn cho biết.
Từ thực tiễn sản xuất, Hồ Thị Kỷ đang từng bước định hình một mô hình nông nghiệp thích ứng - nơi người nông dân không chỉ sản xuất mà còn tham gia vào chuỗi giá trị, nơi sản phẩm được nâng tầm thông qua tiêu chuẩn và liên kết.
Định hướng thời gian tới tập trung vào theo dõi sát diễn biến thời tiết, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nhân rộng mô hình hiệu quả; củng cố hợp tác xã, tăng cường liên kết với doanh nghiệp; mở rộng vùng nuôi tôm đạt chuẩn quốc tế; phát triển sản phẩm OCOP và tiếp tục nâng chất nông thôn mới. "Áp lực luôn có, nhưng đó cũng là động lực để thay đổi. Khi tổ chức lại sản xuất tốt hơn, giá trị nông nghiệp sẽ không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng và sự bền vững", ông Toàn nhìn nhận.
Năm 2026, xã Hồ Thị Kỷ đặt mục tiêu duy trì khoảng 7.400 ha nuôi tôm quảng canh cải tiến, năng suất bình quân 400 - 450 kg/ha, nhằm nâng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và thực hiện khâu đột phá của địa phương.
Song song, xã tập trung phát triển 2 sản phẩm OCOP mới đạt 3 sao gồm rau mầm củ cải trắng (ấp Bào Nhàn) và cà chua cherry (ấp Bến Gỗ), đồng thời hỗ trợ nâng hạng tôm khô Út Mau (ấp Xóm Sở) từ 3 sao lên 4 sao, thúc đẩy giá trị và mở rộng thị trường...
Giữ vững nền tảng hiện có, chủ động đổi mới cách làm, xã Hồ Thị Kỷ đang từng bước chuyển mình theo hướng bền vững, thích ứng linh hoạt và tạo giá trị cao hơn, từng bước khẳng định hướng đi phù hợp trong giai đoạn mới.
Thông tin từ các nhà vườn, giá vải bán vào các điểm cân xuất khẩu sang Trung Quốc tại xã Nam Dương, tỉnh Bắc Ninh những ngày vừa qua liên tục "phá đỉnh". Mỗi khi người dân chở vải ra đường, luôn có đến 2 - 3 thương lái bám theo để xem hàng, ngã giá.
Chở vải đến điểm cân sáng 31.5, anh Hoàng Văn Phượng, thôn Bến Huyện dễ dàng bán xong xe hàng với giá 60.000 đồng/kg, tăng gần 10.000 đồng/kg so với thời điểm cách đây 2 ngày.
Trước đó, ngày 29.5, giá vải chỉ hơn 50.000 đồng/kg đối với loại u hồng, từ 55.000 - 60.000 đồng/kg với loại vải Thanh Hà. Nhưng đến ngày 31.5, giá vải Thanh Hà loại đẹp nhất lập đỉnh mới khi thương lái Trung Quốc trả giá lên tới 70.000 đồng/kg.
"Vải Thanh Hà vỏ dày nên dễ vận chuyển đi xa, thương lái Trung Quốc rất thích mua. Nếu chọn được xe hàng đẹp, họ trả giá rất cao, quyết mua bằng được. Còn vải thiều, dự báo giá năm nay giá sẽ cao như mùa vụ năm 2024, bán tại vườn có thể lên hơn 100.000 đồng/kg", anh Phượng nói.
Cũng theo anh Phượng, vườn nhà của gia đình năm nay may mắn được khoảng 70% sản lượng so với năm 2025, dự kiến khi bán hết hàng, số tiền thu về khoảng 200 - 300 triệu đồng.
Còn tại xã Phúc Hòa - vùng vải trọng điểm chín sớm nhất tỉnh Bắc Ninh, chỉ sau hơn 10 ngày thu hoạch, vụ vải năm nay gần như đã kết thúc. Các nhà vườn không còn hàng để bán. Cuối vụ, giá vải u trứng loại to nhất, khoảng 17 - 18 quả/kg được thương lái săn lùng với giá từ 100.000 - 120.000/kg nhưng đã sớm "cháy hàng".
Đang liên kết với nhiều nhà vườn tại xã Phúc Hòa (Bắc Ninh) và xã Thanh Hà (Hải Phòng) để lấy hàng xuất khẩu, bà Ngô Thị Thu Hồng, Tổng giám đốc Công ty CP Ameii Việt Nam, cho biết doanh nghiệp này đang thu mua loại u hồng từ 38.000 - 42.000 đồng/kg. Còn vải thiều chính vụ, giá chốt hiện nay từ 60.000 - 62.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường khoảng 15%.
Tại hội nghị xúc tiến tiêu thụ vải thiều mùa vụ năm 2026 do UBND tỉnh Bắc Ninh tổ chức trong ngày 28.5, các doanh nghiệp có nhu cầu thu mua số lượng lớn vải tươi Bắc Ninh để tiêu thụ trong nước, hoặc xuất khẩu.
Trực tiếp khảo sát vùng trồng vải ở Bắc Ninh, ông Olivier Langlet, Tổng giám đốc Tập đoàn Central Retail Việt Nam, doanh nghiệp đã lên kế hoạch đưa vải vào tiêu thụ trong hệ thống bán lẻ của tập đoàn này, đặt mục tiêu thu mua gấp đôi sản lượng so với năm 2025.
Trong ngày 4.6, Central Retail sẽ đưa vải Bắc Ninh vào trưng bày ở vị trí đẹp nhất trong Tuần lễ trái cây Việt Nam diễn tại Đồng Tháp, quảng bá loại trái cây đặc sản này với người dân phía nam.
Chia sẻ với Thanh Niên, bà Ngô Thị Thu Hồng tiết lộ, qua rà soát vùng nguyên liệu, ngay từ đầu vụ doanh nghiệp đã ký các đơn hàng xuất khẩu tổng khối lượng trên 1.000 tấn quả tươi. Hiện tại, mỗi tuần sản lượng xuất khẩu đều đạt trên 100 tấn đi các nước Nhật, Mỹ, Úc...
"Mối lo lớn trong mùa vải năm nay là chất lượng. Có lẽ mất mùa, quả vải thưa nên sâu phát triển mạnh, rất nhiều quả bị sâu đầu nhưng khó phát hiện, rủi ro rất lớn khi xuất khẩu. Tỷ lệ lọc loại nhiều, chúng tôi đang lo sẽ không có đủ nguyên liệu để trả hàng theo đơn cho các đối tác", bà Hồng nói.
Sang Bắc Ninh khảo sát vùng nguyên liệu lên kế hoạch thu mua, ông Trần Ân Đồng, đại diện doanh nghiệp chuyên gia công nông sản tại tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), cho biết các doanh nghiệp Trung Quốc có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn vải Bắc Ninh để phục vụ nhu cầu của người dân trong nước. Ông Trần Ân Đồng và các đối tác cũng đang lên kế hoạch, đặt mục tiêu đưa vải Bắc Ninh vượt qua 2.000 km từ Quảng Ninh đến Bắc Kinh mà vẫn đảm bảo độ tươi ngon.
Theo ông Trần Ân Đồng, ngoài thu mua vải tươi, các doanh nghiệp Trung Quốc đang chú trọng chế biến vải sấy, đây cũng là sản phẩm thị trường có nhu cầu cao, thời gian bảo quản được lâu hơn, có thể bán quanh năm. Trong chuyến sang Việt Nam lần này, ông Đồng đang tìm hiểu cơ hội để đầu tư xưởng gia công, chế biến vải ngay tại Bắc Ninh.
Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh thông tin, toàn tỉnh đang có 243 mã số vùng trồng và 42 cơ sở đóng gói vải xuất khẩu sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Thái Lan và EU. Hiện nay, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Giang được giao trực tiếp quản lý chặt chẽ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; tăng cường giám sát việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm soát sinh vật gây hại, bảo đảm yêu cầu an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.
Mới đây, ngày 27.5, Sở NN-MT tỉnh Bắc Ninh tiếp tục có văn bản gửi các địa phương đề nghị tập trung chăm sóc, nâng cao chất lượng quả vải. Đối với trà vải sớm, sở này yêu cầu các địa phương tuyên truyền người dân dừng phun các loại thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo thời gian cách ly và an toàn thực phẩm cho quả vải. Đối với giống vải lai sớm Thanh Hà, sẽ thu hoạch từ đầu tháng 6, các hộ sản xuất tăng cường phun nước giảm nhiệt, thực hiện che chắn nắng để giảm tỷ lệ cháy vỏ quả.
Đối với vải thiều chính vụ, dự kiến thu hoạch từ giữa tháng 6, các hộ sản xuất sử dụng cân đối, hợp lý các loại phân bón để nuôi quả; hạn chế rụng, nứt quả bằng các chế phẩm qua lá; cắt bỏ cành bị sâu bệnh; tưới nước đều, giữ ẩm gốc bằng rơm rạ, lá khô; che nắng chùm quả để hạn chế cháy quả…
Trực tiếp khảo sát, kiểm tra các vùng trồng vải, ông Phạm Văn Thịnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, yêu cầu trong mùa vụ năm nay, toàn bộ mã số vùng trồng vải thiều đều được kiểm tra nhiều lần, đặc biệt là kiểm soát tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, để quả vải trước khi đưa ra thị trường phải đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sử dụng, bảo vệ uy tín, thương hiệu nông sản Bắc Ninh.
Tại phần thảo luận của Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026, bên cạnh các vấn đề liên quan đến cổ phiếu, nhiều cổ đông cũng đặt câu hỏi về hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến độ dự án, định hướng phát triển Bamboo Airways và vai trò của ông Trịnh Văn Quyết trong giai đoạn tới.
Trả lời cổ đông, ông Trịnh Văn Nam - Tổng Giám đốc FLC cho biết năm 2025 thị trường bất động sản và du lịch nghỉ dưỡng vẫn đối mặt với nhiều thách thức khi tốc độ phục hồi chưa đồng đều, chi phí đầu tư và vận hành ở mức cao trong khi yêu cầu về tiến độ và hiệu quả ngày càng lớn.
Trong bối cảnh đó, tập đoàn đã tập trung tái cơ cấu hoạt động, kiểm soát vận hành và đẩy mạnh triển khai các dự án trọng điểm.
Theo ông Nam, dự án FLC Hausman tại Đại Mỗ (Hà Nội) đã đủ điều kiện mở bán từ tháng 6/2025 và hiện được triển khai vượt tiến độ khoảng 6 tháng so với kế hoạch, dự kiến bàn giao trong quý III/2026.
Đối với dự án FLC Grand Hotel Quảng Bình, doanh nghiệp đã tái khởi động từ năm 2025 và đang hoàn thiện phần xây dựng, hướng tới mục tiêu đưa vào vận hành cuối năm 2026.
Song song với đó, FLC tiếp tục triển khai các dự án nhà ở xã hội tại Quảng Ninh, gồm các tòa CT1, CT3 và CT4 tại phường Hà Khánh, đồng thời xúc tiến các dự án nhà ở xã hội tại Hà Nội theo chủ trương phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp và công nhân lao động.
Ở mảng du lịch nghỉ dưỡng, lãnh đạo FLC cho biết doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động hệ thống khách sạn, khu nghỉ dưỡng và sân golf, đồng thời đẩy mạnh các chương trình kết hợp sản phẩm trong hệ sinh thái nhằm gia tăng khả năng thu hút khách.
Theo kế hoạch năm 2026, tập đoàn sẽ tập trung mở rộng thị trường khách quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ; nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường liên kết hệ sinh thái để kéo dài thời gian lưu trú cũng như mức chi tiêu của du khách.
Liên quan đến Bamboo Airways, cổ đông đặt nhiều câu hỏi về định hướng phát triển của hãng trong bối cảnh thị trường hàng không còn nhiều biến động.
Đại diện FLC cho biết Bamboo Airways đang tiếp tục tái cấu trúc theo hướng tinh gọn, tối ưu hiệu quả khai thác và kiểm soát chi phí.
Các giải pháp được triển khai bao gồm cơ cấu lại đội bay, mạng bay, nâng cao hiệu suất vận hành và xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động giá nhiên liệu, tỷ giá và điều kiện kinh tế vĩ mô.
Lãnh đạo doanh nghiệp cũng cho biết việc thành lập CTCP Đầu tư và Thuê mua tàu bay nằm trong chiến lược hoàn thiện hệ sinh thái hàng không của FLC. Đơn vị này được định hướng hoạt động trong lĩnh vực đầu tư, khai thác và cho thuê tàu bay nhằm phục vụ nhu cầu phát triển đội bay của Bamboo Airways cũng như cung cấp dịch vụ cho các đối tác khi phù hợp.
Theo kế hoạch được công bố tại đại hội, Bamboo Airways sẽ tiếp tục mở rộng đội tàu bay và mạng bay trên cơ sở đảm bảo an toàn tài chính và hiệu quả khai thác.
Một nội dung khác thu hút sự quan tâm của cổ đông là khả năng ông Trịnh Văn Quyết quay trở lại tham gia điều hành tập đoàn.
Ông Vũ Anh Tuân - Chủ tịch HĐQT FLC cho biết ông Trịnh Văn Quyết là cổ đông lớn, đồng thời là người có vai trò quan trọng trong quá trình sáng lập và phát triển thương hiệu FLC.
Tuy nhiên, theo ông Tuân, việc ông Quyết có tham gia trở lại các vị trí quản trị, điều hành hay không phải được thực hiện theo quy định pháp luật, điều lệ công ty và quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
Làm rõ thêm nội dung này, bà Bùi Hải Huyền - Phó Tổng Giám đốc thường trực cho biết FLC đang tiếp tục hoàn thiện mô hình holding nhằm tăng cường năng lực quản trị và liên kết các lĩnh vực hoạt động trong hệ sinh thái.
Theo bà Huyền, ông Trịnh Văn Quyết dự kiến sẽ tham gia tại công ty holding - đơn vị được định hướng sở hữu toàn bộ Tập đoàn FLC cùng các doanh nghiệp trong hệ sinh thái. Đây được xem là một phần trong kế hoạch hoàn thiện mô hình quản trị mới của tập đoàn trong giai đoạn tái cấu trúc và phát triển tiếp theo.
Bên cạnh đó, vấn đề được nhiều cổ đông Tập đoàn FLC quan tâm nhất là lộ trình hoàn thiện báo cáo tài chính kiểm toán, khôi phục tư cách công ty đại chúng và đưa cổ phiếu giao dịch trở lại trên thị trường chứng khoán.
Trả lời nhóm câu hỏi của cổ đông, ông Vũ Anh Tuân - Chủ tịch HĐQT FLC cho biết việc doanh nghiệp bị hủy tư cách công ty đại chúng xuất phát từ việc chưa hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin theo quy định, bao gồm chậm công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán và nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên trong các năm trước.
Theo lãnh đạo FLC, thời gian qua HĐQT và Ban điều hành đã tập trung xử lý các tồn đọng liên quan đến công tác kiểm toán và hoàn thiện các nghĩa vụ pháp lý.
"Sau khi có báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các năm đến năm 2026, chúng tôi dự kiến công việc này sẽ hoàn thành vào quý I/2027", ông Tuân cho biết.
Lãnh đạo FLC cho hay sau khi hoàn tất báo cáo tài chính kiểm toán, doanh nghiệp sẽ triển khai các thủ tục cần thiết theo quy định để đăng ký giao dịch trở lại và tiến tới niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Nhiều cổ đông cũng đặt câu hỏi về quyền lợi của nhà đầu tư trong giai đoạn cổ phiếu không được giao dịch tập trung, cũng như khả năng chuyển nhượng cổ phần hiện nay.
Theo Chủ tịch FLC, việc cổ phiếu bị hủy giao dịch không làm mất quyền sở hữu cổ phần của các cổ đông và cũng không ảnh hưởng đến các quyền cơ bản theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.
Ông cho biết FLC đang phối hợp với CTCP Chứng khoán Artex để thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận sở hữu cổ phần cho cổ đông, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, theo dõi và chuyển nhượng cổ phần.
"Chúng tôi đang phối hợp rất chặt chẽ với công ty chứng khoán để tháo gỡ các vấn đề liên quan đến việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông hiện nay", ông Tuân nói.
Bổ sung thêm, đại diện cho biết FLC kỳ vọng việc tái khởi động hàng loạt dự án trong năm 2026 sẽ tạo nền tảng để cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo bà Huyền, sau khi có báo cáo tài chính kiểm toán năm 2026 và các năm trước đó, doanh nghiệp sẽ thực hiện ngay các thủ tục cần thiết theo quy định nhằm đưa cổ phiếu FLC trở lại giao dịch trên thị trường.
Ngoài vấn đề niêm yết, các cổ đông cũng đặt câu hỏi về chiến lược phát triển trung và dài hạn, tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp cũng như vai trò của các đơn vị trong hệ sinh thái FLC.