Ngày xưa tôi từng phải ăn cơm với trái cây, cụ thể là ăn với chuối vì không có món khác.
Lúc đó tôi ở một nội trú thời trung học, gặp bữa thức ăn ở trường tệ quá, tôi nuốt không trôi mà khẩu phần của ai cũng có một trái chuối, là món tráng miệng thường xuyên của học trò, không chuối già thì chuối sứ.
Vậy là tôi ăn cơm với chuối, ban đầu cũng lạ lạ, phải chan nước mắm để “rào chắn” độ ngọt. Lâu dần cũng quen, trở thành một dạng nhận thức. Ăn tự nhiên hơn.
Tôi hỏi một người bạn dân Cần Thơ gốc Gò Công: Dân miền Tây ăn cơm với chuối, xoài hoặc dưa hấu có phải bất đắc dĩ không?
Ông trả lời: “Nhiều người lớn nói hồi xưa làm lụng ngoài đồng nên gặp chuối chín thì xắn ra ăn với cơm, ăn lẹ để làm tiếp riết thành quen, còn ăn với xoài – non hoặc xanh thì kèm với khô hay món kho lạt là có chủ đích đàng hoàng.
Như vậy ăn cơm với xoài phức tạp hơn, phải gọt vỏ bằng dao và cắt miếng để loại bỏ hột, không phải là bữa cơm tiện ích như ăn cơm với chuối mà là một dạng bữa ăn chính thức dùng xoài như một thứ điều vị đối với cái mặn của mắm, của khô”.
Tôi hỏi: “Thế ông từng ăn cơm với chuối chưa?”. Ông nói kẹt lắm mới ăn cơm với chuối chan nước mắm.
Nhiều người dân miền Tây thường nói một câu tự an ủi: “Cơm có chuối là đủ đôi, nghèo mấy cũng vui”. Câu này nói về hai loại nông sản quen thuộc tại chỗ của người dân tại đây: cơm – từ gạo và chuối.
Người Việt có hai lằn ranh trong văn hóa ẩm thực của số đông: mặn và ngọt. Cơm là thứ tinh bột nặng về bên mặn hơn nhiều. Người ta thường nói: “Cơm với cá như má với con”. Đó cũng là một thứ kinh nghiệm chắt lọc từ ngàn năm.
Tinh bột cơm được xếp vào loại carbonhydrate (bột đường) chung với chuối chín là hỗn hợp của ba thứ đường sucrose, fructose và gluocose. Các thứ đó cũng được xếp loại là carbonhydrate. Một món ăn thường dành cho những người làm việc nặng.
Còn những trái cây khác? Do là một địa phương phong phú trái cây nhiệt đới, người miền Nam đã thử đưa trái cây vào trong bữa cơm, nhưng không phải kiểu bất đắc dĩ như hoàn cảnh cơm với chuối đã nói ở trên.
Ngoài cá hay động vật địa phương sông nước, ngoài rau, người miền Tây thường đưa các loại trái cây vào bữa ăn làm phong phú cho hương vị mảng xanh thực vật.
Trước là cây nhà lá vườn từ thời xưa theo lối tự cung tự cấp. Nhưng ăn với loại trái cây nào ngon, nhận thức hình thành, món đó sẽ được giữ lại và phổ biến.
Những món còn lại đó ăn trong bữa cơm, ta có thể thấy như dưa hấu trong những bữa ăn tại rẫy. Rồi một số món được nâng cấp lên thành cao cấp hơn như gỏi măng cụt.
Trong văn học, phần viết về các loại mắm miền Nam, Vũ Bằng đã dành một đoạn để tả lại sự ngạc nhiên của mình khi lần đầu chứng kiến nếp ăn uống của người bản địa. Ông kể lại cảnh nhìn thấy người dân lao động xới một chén cơm trắng phau phau, gắp một miếng khô mặn chát hoặc một miếng mắm sống, rồi ngay lập tức cắn kèm một miếng dưa hấu đỏ au hoặc bẻ trái chuối cắn ăn cùng cơm.
Kiểu ăn thực ra là để cân bằng cái mặn của miếng khô. Còn nói mắm sống mặn chát có lẽ Vũ Bằng tiên sanh chưa biết hân thưởng mắm miền Nam.
Trong các tản văn viết về ẩm thực tuổi thơ hay đời sống xóm giềng, Nguyễn Ngọc Tư thường xuyên nhắc đến cảnh những đứa trẻ hoặc những người nông dân đi làm đồng về trễ, lỡ bữa.
Nguyễn Ngọc Tư viết: Họ thường bới một chén cơm hoặc dĩa cơm nguội, trong bếp không còn đồ mặn gì ngoài chút nước tương hay cặn nước kho cá tộ. Người ta chan chút nước mặn mòi đó vào cơm, rồi lột một trái chuối sứ chín rục bóp bấy trộn đều vào chén cơm rồi lùa ăn.
Đó là một hoàn cảnh, không phải là món thư khoái (comfort food) như các nhà tiếp thị du lịch nói: cơm với chuối ngon nhức nách.
Khi nói “cơm chuối ngon nhức nách”, họ phải chứng minh cái việc vượt qua lằn ranh mặn ngọt bằng nghiễn ra một số món cơm với chuối 2.0, 3.0, như dùng chuối xắt miếng nhỏ, tẩm bột chiên rồi đem kho ăn với cơm biểu sao không nhức nách?
Cũng có thể nói thêm, những người làm việc nặng ngoài trời, cần nhiều năng lượng, nên thích đồ ngọt. Trong các loại trái cây, dễ trồng nên chuối được dùng làm nguồn “ngọt” tạo năng lượng. Đó là một hành trình truyền thống.
Cho đến khi khá giả, cảnh người cha ăn cơm với chuối ngoài đồng gây luyến nhớ. Mỗi người làm một chén cơm chuối. Nhưng phải có nước mắm, chớ không quen, ăn cơm với chuối chay sao được!
Có lẽ chính vì vậy chuối ấy đã đi vào đời sống phong phú hơn chớ không chỉ là cơm với chuối. Bánh tét nhưn chuối có tỷ lệ ăn ngang với bánh tét nhưn mặn. Bánh chuối – dùng bột bánh mì nhào chung với chuối rồi nướng chín, cũng là một sản phẩm nằm trong khẩu vị của người miền Tây.
Các nhà tiếp thị du lịch còn đi xa hơn, chiên cơm với các thứ xong, nắm lại thành vắt, cho chuối vào làm nhưn như một biến tấu của bánh tét nhưn chuối.
Theo đơn vị nghiên cứu thị trường Grand View Research, du lịch âm nhạc (music tourism) là một trong những phân khúc tăng trưởng nhanh của ngành du lịch toàn cầu. Quy mô thị trường này được dự báo vượt 330 tỷ USD vào năm 2033, với tốc độ tăng trưởng bình quân 15,8% mỗi năm trong giai đoạn 2026-2033.
Nếu trước đây, du khách thường chọn điểm đến rồi mới tìm hoạt động để trải nghiệm, thì nay nhiều người làm điều ngược lại. Một concert (buổi biểu diễn âm nhạc), lễ hội âm nhạc hay sự kiện giải trí có thể trở thành lý do để bắt đầu cả chuyến đi.
Sau khi có vé, người hâm mộ mới đặt vé máy bay, khách sạn, lên lịch nghỉ phép và tìm kiếm những trải nghiệm khác tại điểm đến như ẩm thực, mua sắm, tham quan hay khám phá văn hóa địa phương.
Xu hướng này ngày càng rõ tại Việt Nam. Sau hiệu ứng từ concert Blackpink ở Hà Nội, người hâm mộ tiếp tục chờ đón các đêm diễn của Big Bang, EXO cùng nhiều nghệ sĩ quốc tế khác. Không chỉ tạo sức hút về giải trí, những sự kiện này còn kéo theo nhu cầu đi lại, lưu trú và chi tiêu tại điểm đến.
Theo dữ liệu của nền tảng du lịch trực tuyến Traveloka, concert của Big Bang tại Hà Nội vào tháng 10 khiến lượng tìm kiếm du lịch nội địa tăng hơn 4 lần so với thông thường. Trong khi đó, concert của EXO tại TPHCM hồi tháng 4 ghi nhận mức tăng gần 3 lần.
Xu hướng tương tự cũng diễn ra với các chuyến đi nước ngoài. Khi BTS lưu diễn tại Bangkok, lượng tìm kiếm từ Việt Nam đến Thái Lan tăng gần 8 lần. Một tuần sau, các đêm diễn tại Kuala Lumpur của nhóm nhạc này tiếp tục khiến lượng tìm kiếm đến Malaysia tăng khoảng 4 lần.
Các tour diễn của The Weeknd, Post Malone hay My Chemical Romance tại Singapore, Bangkok và nhiều thành phố trong khu vực cũng kéo nhu cầu tìm kiếm du lịch từ Việt Nam tăng mạnh.
Theo bà Huỳnh Thị Mai Thy - Giám đốc Quốc gia Traveloka Việt Nam - dữ liệu cho thấy nhiều người hâm mộ bắt đầu lên kế hoạch từ nhiều tuần trước khi concert diễn ra.
“Chúng tôi đang chứng kiến du lịch âm nhạc trở thành một trong những động lực quan trọng định hình cách du khách trẻ Việt Nam lên kế hoạch cho các chuyến đi. Điều này cũng giúp doanh nghiệp du lịch và điểm đến có thêm thời gian chuẩn bị để đón làn sóng du khách”, bà Mai Thy cho biết.
Concert không chỉ mang lại tiền bán vé
Theo các chuyên gia, giá trị của một concert không chỉ nằm ở doanh thu bán vé. Khi người hâm mộ ở lại thêm vài ngày để tham quan, mua sắm, thưởng thức ẩm thực hay trải nghiệm văn hóa địa phương, hàng loạt lĩnh vực khác cũng được hưởng lợi, từ khách sạn, hàng không, vận tải đến bán lẻ.
Một ví dụ điển hình là The Eras Tour của Taylor Swift. Nhiều nghiên cứu cho thấy mỗi điểm dừng chân của tour diễn này mang về cho các thành phố đăng cai nguồn thu lên tới hàng trăm triệu USD nhờ lượng lớn người hâm mộ đổ về.
Thực tế, chi phí của một chuyến đi xem concert thường lớn hơn nhiều so với giá vé biểu diễn.
Năm 2024, diễn viên Ngọc Thanh Tâm từng gây chú ý khi tiết lộ chi hơn 80 triệu đồng cho chuyến đi xem The Eras Tour tại Singapore. Ngoài khoảng 31 triệu đồng tiền vé, cô cùng gia đình lưu trú tại khách sạn có giá khoảng 23 triệu đồng mỗi đêm, đồng thời kết hợp mua sắm và tham quan.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, Trúc Ly (TPHCM) cho biết cô và bạn trai chi khoảng 80-90 triệu đồng cho chuyến đi 7 ngày 6 đêm kết hợp xem concert và du lịch Singapore - Malaysia. Riêng vé VIP cho hai người đã khoảng 34 triệu đồng, chưa kể vé máy bay, khách sạn, ăn uống và mua sắm.
Tương tự, Phương Thảo - nhân viên một công ty truyền thông tại TPHCM - cho biết, cô chi khoảng 30 triệu đồng cho chuyến đi Singapore kéo dài 4 ngày để xem thần tượng biểu diễn. Ngoài tiền vé concert, cô còn dành ngân sách cho quần áo, mua sắm, tham quan và trải nghiệm tại đảo quốc này.
Những khoản chi trên cho thấy concert chỉ là điểm khởi đầu. Nguồn thu mà sự kiện âm nhạc mang lại cho điểm đến còn đến từ phòng khách sạn, vé máy bay, nhà hàng, phương tiện đi lại, điểm tham quan và các hoạt động mua sắm trong suốt chuyến đi.
Tại Việt Nam, xu hướng này cũng bắt đầu hình thành. Các concert của ca sĩ Hà Anh Tuấn tại Đà Lạt, Hội An hay Ninh Bình từng thu hút đông đảo khán giả từ nhiều địa phương, kéo theo nhu cầu lưu trú, ăn uống và tham quan.
Gần đây hơn, các chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai và Anh trai say hi liên tục tạo nên cơn sốt vé, khiến nhiều khán giả di chuyển giữa các tỉnh, thành, thậm chí từ nước ngoài về Việt Nam để tham dự.
Những tín hiệu này cho thấy một sự kiện âm nhạc có thể trở thành sản phẩm thu hút khách, thay vì chỉ là hoạt động giải trí diễn ra trong vài giờ.
Khi trải nghiệm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của du khách, du lịch âm nhạc không còn là một trào lưu ngắn hạn mà đang dần trở thành động lực tăng trưởng mới của ngành du lịch.
Với mạng lưới hàng không ngày càng thuận lợi và lịch biểu diễn quốc tế ngày càng sôi động, Đông Nam Á được đánh giá là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển loại hình này.
Trong đó, du khách Việt Nam đang nổi lên như một trong những nhóm khách sẵn sàng đi xa, lưu trú lâu hơn và chi tiêu nhiều hơn để có mặt trong đêm diễn của nghệ sĩ mình yêu thích.
Theo hồ sơ, dự án được đề xuất mang tên Trung tâm hội nghị và triển lãm nghệ thuật Quảng Ngãi, tổng vốn hơn 939 tỉ đồng. Nếu thực hiện, dự án sẽ có khách sạn 5 cao, cũng là công trình cao nhất tỉnh.
Công trình xây dựng trên diện tích xây dựng 6,7ha, tại khuôn viên Trường THCS thị trấn La Ha (cũ). Đây là vị trí đắc địa của xã Tư Nghĩa hiện nay, cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi khoảng 3km.
Công trình được thiết kế theo mô hình phức hợp gồm 4 chức năng: khách sạn, văn phòng, thương mại và trung tâm nghệ thuật - sự kiện.
Điểm nhấn là tòa cao ốc khách sạn 5 sao cao 25 tầng, chiều cao khoảng 120m được thiết kế dạng khối tháp xếp lớp tạo hiệu ứng thị giác mạnh mẽ.
Nếu xây dựng, đây là khách sạn 5 sao đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi (cả Quảng Ngãi và Kon Tum cũ đều chưa có khách sạn 5 sao đúng chuẩn), phân khúc cao cấp tỉnh này chưa có.
Trong nhiều năm, địa phương này chủ yếu có các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ và trung bình, phục vụ khách công tác và du lịch cơ bản.
Việc thiếu vắng khách sạn cao cấp được xem là một trong những hạn chế trong thu hút dòng khách chất lượng cao, nhất là khách doanh nhân.
Theo đơn vị đề xuất, tổ hợp này sẽ tạo ra một điểm đến mới, vừa phục vụ lưu trú, hội nghị, triển lãm, vừa đáp ứng nhu cầu mua sắm, giải trí. Khối khách sạn và trung tâm sự kiện được kỳ vọng đóng vai trò "đầu kéo", thu hút khách du lịch và các hoạt động quy mô lớn.
Về kiến trúc, dự án được định hướng trở thành công trình biểu tượng của tỉnh, với thiết kế tháp hiện đại kết hợp yếu tố văn hóa, như họa tiết trống đồng trên mặt tiền. Không gian xung quanh được bố trí hồ nước và cây xanh, góp phần tạo cảnh quan và cải thiện khí hậu.
Dự án cũng được đánh giá phù hợp với định hướng phát triển đô thị và dịch vụ của địa phương, trong bối cảnh Khu kinh tế Dung Quất đang là động lực tăng trưởng chính.
Hiện dự án đang trong giai đoạn kêu gọi đầu tư. Các bước tiếp theo gồm hoàn thiện nghiên cứu khả thi, thẩm định thiết kế và tìm kiếm đối tác chiến lược.
Nếu được triển khai, đây không chỉ là một công trình quy mô lớn, mà còn có thể trở thành "phép thử" đầu tiên cho phân khúc khách sạn 5 sao tại Quảng Ngãi, nơi lâu nay vẫn được xem là "vùng trũng" dịch vụ cao cấp của khu vực.
Trong bài viết trên SCMP, Andrew Sun, cây viết chuyên về du lịch, ẩm thực hơn 25 năm kinh nghiệm, nhận xét World Cup 2026 khiến nhiều du khách quốc tế bất ngờ với văn hóa ẩm thực và đời sống thường nhật của người Mỹ.
Trên mạng xã hội một tháng qua, hàng loạt video của cổ động viên lần đầu đến Mỹ thu hút hàng triệu lượt xem, ghi lại phản ứng trước các siêu thị, nhà hàng và những món đậm dấu ấn nước này.
Nhiều du khách bất ngờ với quy mô của chuỗi bán lẻ như Costco hay Walmart. Các kệ hàng chất đầy những hộp snack, gói thực phẩm và khay thịt kích cỡ lớn hơn nhiều so với tiêu chuẩn ở châu Âu hay nhiều quốc gia khác. Không ít người thích thú quay video bên những hộp bánh phô mai Cheetos cỡ đại hoặc khay thịt đủ cho nhiều bữa ăn của cả gia đình.
Không chỉ siêu thị, các nhà hàng kiểu Mỹ cũng trở thành chủ đề được chia sẻ rộng rãi. Nhiều du khách ghi lại khoảnh khắc nhân viên mang ra bàn đĩa nachos phủ kín phô mai, miếng bít tết T-bone lớn gần bằng đầu người hay những phần ăn vượt xa khẩu phần quen thuộc ở quê nhà.
Những suất ăn "khổng lồ" từ lâu đã trở thành hình ảnh gắn liền với nước Mỹ, nơi phổ biến mô hình buffet ăn không giới hạn, nước ngọt được thêm miễn phí và các lễ hội có những phần quà như gấu bông khổng lồ.
Andrew Sun cho rằng khẩu phần ăn lớn tại Mỹ phản ánh một phần văn hóa tiêu dùng đề cao sự dư dả. Những thử thách ăn bít tết nặng hơn 2 kg hay tô mì ramen gấp đôi cỡ thông thường là ví dụ cho xu hướng này.
Việc tiêu thụ thực phẩm với khẩu phần quá lớn cũng làm dấy lên những tranh luận về sức khỏe cộng đồng. Tình trạng béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp và các bệnh tim mạch từ lâu là những vấn đề y tế đáng chú ý tại Mỹ.
Một sản phẩm khác được du khách nhắc đến nhiều là ranch, loại sốt làm từ sữa bơ, tỏi, hành và các loại thảo mộc, được xem như hương vị đặc trưng của ẩm thực Mỹ. Nhiều du khách lần đầu nếm thử tỏ ra hào hứng, chia sẻ "muốn mua cả xe đẩy sốt ranch về nước". Nước ngọt Dr Pepper, thương hiệu ra đời tại Mỹ, cũng được nhiều người đưa vào danh sách những sản phẩm nên mua về làm quà sau chuyến đi.
Ngoài đồ ăn, nhiều du khách cũng trải qua "cú sốc tiền boa" khác khi dùng bữa tại các hàng quán ở Mỹ.
Tại nhiều quốc gia, tiền tip chỉ mang tính khuyến khích hoặc không phổ biến. Ở Mỹ, việc để lại khoảng 20% giá trị hóa đơn gần như là thông lệ. Điều này khiến không ít du khách bối rối, nhất là những người đến từ các nước không có văn hóa tiền boa.
Điều này phản ánh điểm giao thoa giữa hai quan niệm khác nhau. Một bên cho rằng mức tiền boa cao là gánh nặng không hợp lý đối với khách hàng. Nhiều nhân viên phục vụ tại Mỹ coi đây là phần thu nhập quan trọng do mức lương cơ bản không cao. Sự khác biệt về văn hóa này đôi khi tạo nên tình huống khó xử giữa du khách và người phục vụ dù cả hai đều không có ý gây căng thẳng.
Dù vậy, World Cup 2026 vẫn là cơ hội để nhiều người có cái nhìn thực tế hơn về đời sống tại Mỹ thay vì thông qua phim ảnh hay truyền thông. Những trải nghiệm từ siêu thị, nhà hàng, quán ăn bình dân đến cách ứng xử trong dịch vụ giúp du khách hiểu hơn về văn hóa của nước chủ nhà.
"Điều quan trọng nhất sau những khác biệt về khẩu phần ăn, hương vị hay tiền boa là sự cởi mở giữa du khách và người dân địa phương", ông nói. Những cuộc gặp gỡ ở quy mô nhỏ, từ bàn ăn đến quầy thanh toán, có thể góp phần định hình cách thế giới nhìn nhận nước Mỹ sau kỳ World Cup.