Doanh nghiệp Việt đang cấp tập triển khai các yêu cầu về kiểm dịch thực vật để đưa quả bưởi và quả chanh tươi Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Ngày 14/5 tại TPHCM, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị công bố Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với bưởi và chanh xuất khẩu sang Trung Quốc. Đây là kết quả của quá trình đàm phán kỹ thuật kéo dài từ năm 2019 giữa cơ quan chuyên môn 2 nước.
Chanh, bưởi cũng phải bao trái trước khi xuất khẩu
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Quang Hiếu – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) – thông tin, việc ký kết Nghị định thư giúp bưởi và chanh trở thành những mặt hàng tiếp theo của Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc.
Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và an toàn thực phẩm, Nghị định thư mở thêm đầu ra cho trái cây Việt Nam nhưng cũng đặt ra yêu cầu mới đối với toàn bộ chuỗi sản xuất.
Theo quy định, tất cả vùng trồng và cơ sở đóng gói muốn tham gia xuất khẩu đều phải đăng ký và được Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam cùng Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt mã số.
Các vùng trồng phải áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP), quản lý dịch hại tổng hợp (IPM/IPHM), đồng thời xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc đầy đủ.
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất là kiểm soát chặt các đối tượng kiểm dịch thực vật mà phía Trung Quốc đặc biệt quan tâm, gồm ruồi đục quả, sâu đục quả, rệp sáp và nhiều loại nấm bệnh.
Để đáp ứng yêu cầu này, vùng trồng phải đặt bẫy ruồi đục quả với mật độ tối thiểu 1 bẫy/ha hoặc ít nhất 3 bẫy đối với khu vực dưới 3 ha. Việc giám sát phải được thực hiện định kỳ tối thiểu 14 ngày/lần từ khi ra hoa đến lúc thu hoạch.
Riêng đối với quả bưởi, Nghị định thư yêu cầu bắt buộc bao trái ít nhất 60 ngày trước thu hoạch nhằm hạn chế nguy cơ xâm nhập của sinh vật gây hại. Sau thu hoạch, trái cây phải được vận chuyển nguyên túi bao tới cơ sở đóng gói để tiến hành phân loại và xử lý.
Các cơ sở đóng gói cũng phải đáp ứng nhiều yêu cầu kỹ thuật như có khu nguyên liệu và kho thành phẩm riêng biệt, bảo đảm vệ sinh, xây dựng hệ thống giám sát và truy xuất nguồn gốc.
Trong quá trình xử lý và đóng gói, các đơn vị phải loại bỏ hoàn toàn quả bị bệnh, biến dạng, cành lá, đất và các tàn dư thực vật. Quy định về bao bì, nhãn mác cũng được siết chặt khi mỗi thùng hàng phải ghi đầy đủ thông tin về tên sản phẩm, nơi sản xuất, mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói cùng dòng chữ “Exported to the People’s Republic of China” hoặc tiếng Trung tương đương.
Đáng chú ý, toàn bộ lô hàng trước khi xuất khẩu đều phải trải qua kiểm tra kiểm dịch thực vật. Nếu phát hiện sinh vật gây hại còn sống hoặc lẫn đất, tàn dư thực vật, lô hàng sẽ không được phép xuất khẩu. Trong trường hợp nghiêm trọng, vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói vi phạm có thể bị đình chỉ xuất khẩu trong suốt phần còn lại của mùa vụ.
Doanh nghiệp mừng nhưng vẫn còn nhiều nỗi lo
Ông Hoàng Trung – Thứ trưởng Bộ NN&MT – nhận định việc ký kết Nghị định thư là kết quả của nhiều năm nỗ lực từ cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và người dân.
Tuy nhiên, ký kết mới chỉ là bước khởi đầu, điều quan trọng là tổ chức triển khai hiệu quả trong thực tế. Sau khi Nghị định thư được ký kết, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trái cây đang cấp tập chuẩn bị cho những lô hàng đầu tiên xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Bà Ngô Tường Vy – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Xuất Nhập Khẩu Trái Cây Chánh Thu – cho biết, doanh nghiệp đang phối hợp với các chi cục địa phương để triển khai các yêu cầu của Nghị định thư và xây dựng vùng trồng phục vụ xuất khẩu bưởi sang Trung Quốc.
Theo bà Vy, một trong những yêu cầu mới là bắt buộc phải bao trái đối với bưởi, tương tự như các loại trái cây đã xuất khẩu trước đây như xoài hay vú sữa. Dù làm tăng thêm chi phí sản xuất nhưng đây là giải pháp giúp bảo đảm an toàn thực phẩm, hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và tạo điều kiện để mở rộng sang nhiều thị trường khác trong tương lai.
Về phần giá xuất khẩu, bà Vy cho biết, doanh nghiệp đã sang Trung Quốc đàm phán giá bán theo từng quý nhằm chủ động điều tiết sản lượng. Trong các thời điểm Trung Quốc vào vụ thu hoạch nội địa, doanh nghiệp sẽ hạn chế lượng hàng xuất khẩu. Ngược lại, vào mùa lễ hội hoặc khi nguồn cung từ Thái Lan giảm, doanh nghiệp sẽ tăng lượng hàng đưa sang thị trường này.
Theo đại diện Chánh Thu, nông dân Việt Nam hiện có thể sản xuất rải vụ nên việc điều chỉnh sản lượng không quá khó. Tuy vậy, để xuất khẩu bền vững, điều quan trọng nhất là phải xây dựng đầu ra ổn định.
Doanh nghiệp này cũng ưu tiên làm việc trực tiếp với khách hàng và xây dựng điểm bán hàng tại Trung Quốc nhằm chủ động thị trường tiêu thụ.
Bà Vy cũng thừa nhận, việc vận động nông dân bao từng trái bưởi không đơn giản do phát sinh thêm chi phí sản xuất. Vì vậy, doanh nghiệp phải đồng thời cam kết bao tiêu sản phẩm để người dân yên tâm đầu tư.
Trong khi đó, ông Võ Huy Hoàng – Giám đốc Công ty Hoàng Thọ (Bình Thuận) – chia sẻ, dù đã có kinh nghiệm xây dựng vùng trồng và cơ sở đóng gói cho thanh long xuất khẩu nhưng với bưởi và chanh, doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn học hỏi để hoàn thiện quy trình đáp ứng yêu cầu xuất khẩu chính ngạch.
Sau khi biết thông tin về việc Nghị định thư được ký kết, ông đã trực tiếp đến TPHCM để tìm hiểu các quy định mới.
“Khách hàng yêu cầu có hàng là chuyển ngay vì họ đánh giá bưởi da xanh Việt Nam ngon, ngọt, giá hợp lý và rất dễ sử dụng”, ông nói.
Theo ông Hoàng, phần lớn nông dân hiện đã có ý thức hơn trong việc tuân thủ các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, việc xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và tổ chức sản xuất đồng bộ vẫn cần thêm thời gian để hoàn thiện.
Các doanh nghiệp cho rằng việc Trung Quốc chính thức mở cửa cho bưởi và chanh Việt Nam không chỉ tạo thêm cơ hội tăng trưởng xuất khẩu mà còn thúc đẩy ngành trái cây chuyển dần sang mô hình sản xuất chuyên nghiệp hơn, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và hướng tới phát triển bền vững.
Việt Nam hiện có khoảng 106.000 ha bưởi với sản lượng khoảng 1 triệu tấn mỗi năm và hơn 44.000 ha chanh với sản lượng gần 700.000 tấn.
Việc bổ sung thêm hai loại trái cây này vào nhóm xuất khẩu chính ngạch được kỳ vọng sẽ giúp đa dạng hóa mặt hàng, gia tăng kim ngạch xuất khẩu và nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Thông tin được OAPEC xác nhận hôm 3/5. Ban thư ký OAPEC cho biết đã được thông báo về quyết định qua nội dung thư của Bộ trưởng Năng lượng UAE Mohammed Al Mazrouei gửi Bộ trưởng Dầu khí Libya Khalifa Rajab Abdul Sadiq, Chủ tịch phiên họp hiện tại của Hội đồng Bộ trưởng OAPEC.
"Ban thư ký OAPEC bày tỏ trân trọng vai trò UAE trong suốt thời gian là thành viên và những đóng góp hiệu quả của nước này trong việc hỗ trợ tiến trình hành động chung của các nước Arab lĩnh vực dầu khí và năng lượng", OAPEC nêu.
Việc rút khỏi OAPEC có hiệu lực từ 1/5.
OAPEC thành lập vào năm 1968 bởi Kuwait, Libya và Arab Saudi, nhằm thúc đẩy hợp tác giữa các nước xuất khẩu dầu mỏ Arab. Sau khi UAE rời đi, tổ chức còn 10 thành viên, gồm Algeria, Ai Cập, Arab Saudi, Bahrain, Iraq, Kuwait, Libya, Qatar, Syria và Tunisia.
Liên minh này không trực tiếp điều tiết cung cầu dầu thô thế giới như OPEC và OPEC+. Họ chủ yếu hợp tác kỹ thuật, chia sẻ nguồn lực, chuyên môn, phối hợp triển khai các dự án chung và tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư trong lĩnh vực năng lượng trong các nước Arab.
Trước đó, hôm 28/4, UAE bất ngờ thông báo rời Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), từ ngày 1/5. Bộ Năng lượng nước này cho biết quyết định đưa ra sau quá trình rà soát toàn diện chính sách sản xuất cũng như năng lực hiện tại và tương lai của đất nước, giúp UAE linh hoạt hơn trong ứng phó với biến động thị trường.
Hôm 4/5, ông Sultan al-Jaber, Bộ trưởng Công nghiệp và Công nghệ tiên tiến UAE kiêm Giám đốc điều hành tập đoàn dầu khí quốc doanh ADNOC khẳng định việc rút khỏi OPEC và OPEC+ "không nhằm chống lại bất kỳ ai".
"Việc rời OPEC phục vụ lợi ích quốc gia và các mục tiêu chiến lược dài hạn của chúng tôi, phù hợp với tham vọng công nghiệp, kinh tế và phát triển, giúp có thêm dư địa để đẩy nhanh đầu tư, mở rộng quy mô và tạo ra giá trị", ông nói.
Dự báo nhu cầu dầu mỏ toàn cầu sẽ sớm đạt đỉnh, UAE muốn khai thác tối đa trữ lượng càng nhanh càng tốt, trước khi thế giới chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Abu Dhabi đặt mục tiêu tăng sản xuất lên 5 triệu thùng mỗi ngày vào 2027.
Ngay sau khi không bị ràng buộc bởi hạn ngạch sản xuất khoảng 3,4 triệu thùng mỗi ngày của OPEC, hôm 3/5, ADNOC tuyên bố cam kết chi 55 tỷ USD cho các dự án mới trong hai năm tới.
Năm ngoái, Quốc hội đồng ý nâng mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, giá trị giá tăng của cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng một năm.
Tại hồ sơ thẩm định dự án sửa một số luật thuế, Bộ Tài chính đưa ra phương án sửa quy định về mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, giá trị gia tăng (VAT). Theo đó, ngưỡng này sẽ được giao Chính phủ quy định, thay vì chốt "cứng" tại luật.
Lý do, Bộ Tài chính cho rằng điều kiện kinh tế trong nước có nhiều biến động so với thời điểm ban hành quy định cuối năm ngoái. Những tháng đầu năm nay, chi phí đầu vào gia tăng, sức mua suy giảm và hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh còn nhiều khó khăn.
Do đó, theo cơ quan này, việc nghiên cứu điều chỉnh chính sách thuế với hộ kinh doanh là cần thiết. Điều này nhằm đảm bảo chính sách khoa học, phù hợp, có tính đến khả năng đáp ứng của người nộp thuế.
"Việc điều chỉnh ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế nhằm hỗ trợ hộ kinh doanh quy mô nhỏ và trung bình thấp, giúp họ duy trì hoạt động, đặc biệt với các ngành nghề có biên lợi nhuận thấp và chịu tác động lớn từ biến động chi phí", Bộ Tài chính nêu quan điểm.
Theo số liệu của Bộ Tài chính, đến cuối 2025 cả nước có 3-4 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định. Năm ngoái, số thu thuế từ khu vực hộ, cá nhân kinh doanh đạt 32.840 tỷ đồng, tăng 37,5% so với cùng kỳ. Còn giai đoạn 2022-2025, cả nước có khoảng từ 3-4 triệu hộ kinh doanh. Trong đó, hơn 2 triệu hộ khai thuế ổn định, chiếm khoảng 2% tổng thu ngân sách nhà nước.
Ngoài hộ kinh doanh, Bộ Tài chính cũng đề xuất ngưỡng doanh thu miễn thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm hỗ trợ công ty nhỏ và siêu nhỏ. Ngưỡng này cũng do Chính phủ quy định, không phải mức cố định tại luật. Dự kiến, chính sách này áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026.
Hiện, pháp luật chưa có quy định về ngưỡng thu nhập được miễn thuế với doanh nghiệp nhỏ. Cả nước có khoảng 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó gần 94% là công ty nhỏ và siêu nhỏ.
Bộ Tài chính dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhóm này thường được ưu tiên hỗ trợ về chính sách thuế, như áp dụng thuế suất thấp hơn hoặc miễn thuế.
Nhà điều hành có một số ưu đãi như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm với doanh nghiệp chuyển đổi từ hộ kinh doanh, hoặc áp dụng thuế suất 15-17% với doanh nghiệp doanh có doanh thu nhỏ. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng việc bổ sung ngưỡng doanh thu miễn thuế như hộ kinh doanh sẽ đảm bảo công bằng với doanh nghiệp nhỏ. Đồng thời, chính sách này giúp khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Bộ cũng đề xuất trình Quốc hội ban hành luật theo trình tự, thủ tục rút gọn, thông qua luật tại kỳ họp thứ nhất diễn ra từ 6-24/4.
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, Trung Quốc là thị trường tăng mạnh nhất (tăng 52%) và giảm duy nhất ở thị trường Mỹ (giảm 7%).
Điều này khiến Mỹ rơi xuống vị trí thứ ba (13% thị phần), còn Nhật vươn lên thứ hai (gần 14% thị phần), trong khi Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí dẫn đầu với gần 27% thị phần.
Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kết quả xuất khẩu 4 tháng đầu năm đạt 3,6 tỉ USD cho thấy ngành thủy sản có khởi đầu tích cực, nhất là ở các nhóm hàng tôm, cá tra, mực, bạch tuộc, cua ghẹ, nhuyễn thể và một số sản phẩm giá trị cao.
Tuy nhiên tăng trưởng chưa đồng đều giữa các sản phẩm và thị trường. Một số thị trường lớn như Mỹ, EU phục hồi chậm, trong khi Trung Quốc và Hong Kong tăng mạnh nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro.
"Nhìn chung xuất khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm nay tích cực nhưng chưa thật sự bền vững. Tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chậm lại, đặc biệt là từ tháng 4, do tác động của chi phí logistics, cạnh tranh giá, rào cản kỹ thuật, chính sách thuế và các yêu cầu mới về chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm" - VASEP đánh giá.
Phân tích về các thị trường trong 4 tháng đầu năm, VASEP cho biết Trung Quốc và Hong Kong là điểm sáng lớn nhất với doanh số hơn 1 tỉ USD, tăng 52%, trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của toàn ngành.
Trung Quốc và Hong Kong đang tăng nhập tôm hùm, cá tra, cua, sò, nghêu, ốc hương… từ nước ta, song thị trường 1,4 tỉ dân này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, truy xuất nguồn gốc, đăng ký doanh nghiệp và mã số vùng nuôi.
Do đó tăng trưởng tại thị trường này cần được củng cố bằng phương thức xuất khẩu chuyên nghiệp, chính ngạch và bền vững hơn.
Đối với thị trường Mỹ, VASEP cho biết nguyên nhân sụt giảm chủ yếu được các doanh nghiệp nhận định do tác động của việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp đối với tôm, cấm nhập 12 nhóm loài thủy sản Việt (Đạo luật Bảo vệ thú biển) và yêu cầu cấp giấy COA cho những loài có thể xuất khẩu sang Mỹ từ đầu năm nay.
Cùng với đó, Mỹ đang siết truy xuất nguồn gốc, kiểm soát an toàn thực phẩm, chính sách thuế quan và tâm lý mua hàng thận trọng trong bối cảnh thị trường biến động.
VASEP đánh giá thị trường Mỹ vẫn còn nhiều dư địa, nhưng cũng là thị trường rủi ro chính sách cao, đòi hỏi sự phối hợp, hỗ trợ thường xuyên giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, luật sư và doanh nghiệp để xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại, chương trình tương đương và yêu cầu kỹ thuật mới.
Trong khi đó, Nhật Bản tiếp tục là thị trường ổn định đối với tôm chế biến giá trị gia tăng, mực, bạch tuộc, cá biển, nhuyễn thể và sản phẩm tiện lợi. Còn Hàn Quốc là thị trường quan trọng của mực, bạch tuộc, chả cá, surimi và tôm.
Đối với thị trường châu Âu (EU), VASEP nhận định dù có nhiều lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU nhưng xuất khẩu chưa có sự bứt phá, chỉ tăng khoảng 3% và thu về khoảng 452 triệu USD trong 4 tháng.
Trên cơ sở kết quả 4 tháng đầu năm, năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp và diễn biến thị trường quốc tế, VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản năm 2026 có thể đạt kim ngạch trên 12 tỉ USD, tăng trưởng khoảng 8-10%.
Kịch bản này có thể đạt được nếu Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục tăng nhập. Cùng với đó, mặt hàng cá tra giữ được lợi thế ở các thị trường, còn tôm cải thiện khả năng cạnh tranh về giá thành và sản phẩm chế biến.
Các nhóm hải sản khai thác biển được tháo gỡ bất cập, vướng mắc về IUU, giấy COA, chứng nhận nguyên liệu và truy xuất, và chi phí logistics không tăng đột biến.
"Ngược lại, nếu các vướng mắc về thủ tục, chứng nhận, nguyên liệu, chi phí tuân thủ, phòng vệ thương mại và logistics kéo dài, tăng trưởng xuất khẩu có thể chậm lại trong nửa cuối năm, nhất là ở các nhóm tôm, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và hải sản khai thác" - VASEP nhận định.